Những ngày buồn của ông Trần Xuân Giá
Cập nhật lúc 09:45
Ở tuổi 78, mang bệnh (ung thư) và cái
án lơ lửng trên đầu, ông Trần Xuân Giá lẽ ra phải suy sụp. Song, ở con người
từng giúp phát triển khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam vẫn lộ rõ một
phong thái lịch lãm và một trí nhớ mẫn tiệp, dù gương mặt không giấu được nỗi
buồn.
Những con số sống động
Trung tuần tháng 6-2005, một vụ trưởng ở Văn phòng Trung
ương Đảng tìm gặp ông Giá. Phòng của ông Giá sát với phòng làm việc của Thủ
tướng Phan Văn Khải, người đã đích thân chọn ông làm Trưởng ban Nghiên cứu
của Thủ tướng.
Vị vụ trưởng được ông Phan Diễn, Thường trực Ban Bí thư,
yêu cầu sang gặp ông Giá để tìm hiểu về các chủ trương liên quan đến việc cho
tư nhân kinh doanh vàng trước năm 1990. Ông nói với vị vụ trưởng: “Cậu xuống
văn thư, lấy Văn bản 319/CT ngày 24-5-1989 lên đây, rồi tớ sẽ kể”. Nửa tiếng
sau, vị vụ trưởng cầm văn bản đó lên, và không giấu nổi vẻ sửng sốt, hỏi:
“Sao từng ấy năm trôi qua mà anh nhớ đến tận số, ngày, tháng như vậy?”.
Văn bản cho phép tư nhân kinh doanh vàng do ông Trần Xuân
Giá soạn thảo năm 1989 giúp khai thông một nguồn lực lớn trong dân.
Đó là một câu chuyện ít người biết. Chiều 23-5-1989, Tổng
bí thư Nguyễn Văn Linh chủ trì phiên họp Bộ Chính trị để nghe Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng Đỗ Mười báo cáo về vấn đề cho tư nhân kinh doanh vàng. Báo cáo
này do Phó chủ nhiệm Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng Trần Xuân Giá chủ trì soạn
thảo.
Vào thời điểm đó, tư nhân kinh doanh vàng vẫn đang ngoài
vòng pháp luật, dù người dân vẫn sử dụng vàng để thanh toán việc mua những
hàng hóa tiêu dùng như ti vi, tủ lạnh... Sau phiên họp căng thẳng kéo dài hai
giờ đồng hồ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười được yêu cầu sớm ban hành
văn bản cho phép tư nhân kinh doanh vàng.
Đêm hôm đó, ông Giá thức đến 2 giờ sáng để soạn xong văn
bản. 4 giờ sáng liên lạc viên đến lấy về đánh máy, và đến 6 giờ 15 phút thì
ông cầm văn bản tới trình ông Đỗ Mười. Ông Mười trách: “Sao chú hứa với tôi
đến lúc 6 giờ mà giờ này mới đến”, song vẫn xem và sửa. Ông Giá lại tất tả
cầm văn bản đi sửa, rồi mang lại. Ông Mười ngồi nghĩ một lát, rồi nói: “Thôi,
chú đánh máy lại rồi mang đến nhờ anh Sáu Dân ký”. Đến 7 giờ, ông gặp được
ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt). Trước khi ký, ông Kiệt nói: “Anh Mười xem rồi, thì
mình ký, mình không đọc lại nhé”. Cầm văn bản đó, ông Giá đến ngay văn thư
lấy số công văn, đóng dấu, và yêu cầu phát hành toàn quốc ngay lập tức. Lúc
đó mới chỉ là 7 giờ 15 phút sáng 24-5-1989.
Văn bản chỉ dài chưa đến trang rưỡi đó, quy định người dân
được tự do kinh doanh vàng trang sức với điều kiện có năm lượng vàng ký quỹ,
có thợ kim hoàn, có cửa hàng, đã hợp pháp hóa những giao dịch lén lút bằng
vàng. Vô số cửa hàng vàng đã mọc lên khắp cả nước, góp phần vào việc chống
lạm phát phi mã, và đặc biệt giúp khai thông một nguồn lực cực lớn trong dân.
Đó là một bước tiến lớn khi đổi mới mới chỉ được phát động ba năm trước đó.
Những chi tiết trên, được ông kể lại khi đã lâm nạn, và được
tôi kiểm tra lại với một số nguồn khác sau đó, cho thấy ông có một trí nhớ kỳ
lạ. Song, những con số đầu tiên, những chữ cái đầu tiên, ông lại chỉ biết đến
khá muộn, khi đã hơn 16 tuổi, lúc tập kết ra Bắc năm 1954.
Từ luật doanh nghiệp đến ACB
Văn bản đó, cùng với nhiều văn bản pháp luật khác, và đặc
biệt là Luật Doanh nghiệp năm 2000 đã giúp đặt nền tảng cho sự hình thành của
giới doanh nghiệp tư nhân vốn gần như bị xóa bỏ sau hàng loạt các “phong
trào” diễn ra suốt mấy thập kỷ trước. Ông nhớ lại: “Thông qua được Luật Doanh
nghiệp, nhất là vượt qua được những bất đồng về quan điểm phát triển đã khó,
đưa được luật vào cuộc sống còn khó hơn”. Năm 2000 và một vài năm sau đó, mỗi
tuần một lần sau giờ làm, ông sang Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
họp với Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp.
Bà Phạm Chi Lan nhớ lại: “Nhiều lần anh Giá đi với chúng
tôi sang các bộ khác đấu tranh. Có những cuộc làm việc rất căng thẳng, mệt
mỏi vì người ta muốn chống lại”. Năm 2000 mới chỉ có khoảng 14.000 doanh
nghiệp đăng ký thành lập. Con số này đã lên đến trên 80.000 mỗi năm trong
những năm gần đây. Ông Nguyễn Mại nói: “Luật Doanh nghiệp đã giúp đất nước
này trụ vững sau khủng khoảng tài chính khu vực 1997-1998, và tạo động lực
mạnh mẽ để phát triển kinh tế trong hơn một thập kỷ sau đó”. Luật sư Trần Hữu
Huỳnh bổ sung: “Đóng góp của anh Giá vào thành công của Luật Doanh nghiệp là
rất lớn”.
Ông Giá nói: “Tôi nói thẳng, văn bản về vàng đó, cùng với
Luật Công ty; Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Doanh nghiệp sau này đã huy
động được một nguồn lực ghê gớm trong dân để đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiều
người thất bại, nhưng có vô số thành công, trong đó không ít là các công ty
lớn bây giờ”.
Đất nước có được mức phát triển kinh tế như ngày nay,
không thể bỏ qua công lao to lớn của công cuộc đổi mới cơ chế, chính sách
kinh tế mà Luật Doanh nghiệp là một trong những biểu hiện cụ thể. Song, chính
việc làm theo tinh thần của bộ luật đó, là người dân và doanh nghiệp được làm
những gì “pháp luật không cấm”, thay vì chỉ được làm những gì “pháp luật cho
phép”, là một trong những nguyên nhân làm ông lâm nạn sau này.
Ngày 1-1-2007, khi ông Giá nghỉ hưu ở tuổi 70, nhưng lại
quyết định làm việc ở ACB, sau khi từ chối lời mời của rất nhiều nơi khác.
Ông Giá lý giải: “Tôi đến với ACB có hai lý do. Thứ nhất,
là tôi tập trung nghiên cứu và đưa ra cho được chiến lược cải tổ, hay đổi mới
quản trị, điều hành của ACB để nó phát triển nhanh, vững chắc. Đó là công
việc vi mô. Thứ hai, quan trọng hơn, tôi muốn nhảy vào nơi tương đối nhạy cảm
để có thêm thông tin, tư liệu nhằm đóng góp thêm ý kiến để tiếp tục hoàn
thiện Luật Doanh nghiệp. Mục tiêu đi làm chỉ có vậy”.
Ngày 22-3-2010, ông Giá cùng ba phó chủ tịch và Tổng giám
đốc ACB ký vào biên bản ủy thác cho nhân viên gửi tiền tại các ngân hàng
khác. Để ra được quyết định này, ông kể, gần 20 lãnh đạo đã bàn bạc suốt hai
tuần, cân nhắc các mặt được và các rủi ro có thể có, nhất là rủi ro pháp lý
và yêu cầu Phòng Pháp chế của ACB trả lời bằng văn bản là làm thế có vi phạm
quy định của Nhà nước không. Ông khẳng định: “Trong quá trình làm việc tôi luôn
tuân thủ pháp luật. Tôi luôn nhắc nhở anh em là hệ thống pháp luật của chúng
ta đang trong quá trình thay đổi, có những chính sách đưa ra chưa đúng, thì
góp ý sửa; nhưng khi chưa sửa, thì phải chấp hành. Đó là thái độ làm việc của
tôi”.
Vướng vòng lao lý
Khẳng định của ông Giá làm người viết băn khoăn. Tôi hỏi:
“Vì hành vi ký biên bản họp ngày 22-3-2010 cho ủy thác, mà ông bị quy tội cố
ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm
trọng. Ông giải thích như thế nào?”.
Ông Giá cho biết, thực ra, việc ủy thác cho công ty đã
được ACB tiến hành từ năm 2005, trước khi ông vào làm, mà hoàn toàn đúng vì
Luật Tổ chức tín dụng năm 1997, sau đó sửa đổi năm 2004 cho phép. Đến ngày
1-1-2011, Luật các tổ chức tín dụng mới có hiệu lực, trong đó có điều 106 quy
định về ủy thác. Đến ngày 8-3-2012, Thông tư 04 về ủy thác để hướng dẫn thi
hành điều 106 nói trên mới được Ngân hàng Nhà nước ban hành.
.
Ông nói: “Trong suốt quá trình đó, Ngân hàng Nhà nước
không hề có bất kỳ một văn bản nào, hay bất kỳ động thái nào yêu cầu các tổ
chức tín dụng dừng các hoạt động ủy thác để chờ hướng dẫn. Vấn đề nằm ở chỗ,
một bên thì bảo chưa có văn bản hướng dẫn mà ông vẫn làm là cố ý vi phạm; một
bên bảo là luật không cấm thì tôi làm, còn hướng dẫn luật là công việc của
người khác. Không thể nói người ta cố ý làm trái khi mà người ta không biết
trước việc đó như thế nào vì chưa có văn bản hướng dẫn”.
Giải thích của ông là phù hợp với Bản kết luận điều tra bổ
sung số 10/C46-P10 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đề ngày
30-10-2013, khẳng định: “Việc ủy thác trước ngày 1-1-2011 Luật các tổ chức
tín dụng không cấm...”. Ông Giá khẳng định thêm là ACB đã chấm dứt hoạt động
ủy thác hơn nửa năm trước khi có Thông tư 04.
Ông Giá cho rằng, năm 2010, ACB chiếm 10,8% tổng tiền gửi
tiết kiệm của cả nước, và gặp khó khăn trong cho vay ra. Mặt khác, nhiều ngân
hàng khác lại rất khó huy động vốn, nên có khó khăn về thanh khoản. “Do đó,
ủy thác cho nhân viên gửi tiền là đơn giản, các ngân hàng khác cần tiền, và
pháp luật không cấm. Chỉ đơn giản vậy thôi”, ông nói.
Những điều còn lại
Trong những cuộc trò chuyện với người viết gần đây, người
từng đầy quyền lực này nhiều lúc chùng giọng. “Có lúc người ta gọi tôi đến,
bảo tội trạng ông như vậy, mà ông còn kêu, ông tưởng là ông kêu rồi người ta
cứu ông chăng!”. Ông kể thêm những từ ngữ khác không tiện nhắc lại, rồi bảo: “Suốt
cả cuộc đời làm việc chưa bao giờ một ai, kể cả cấp cao nhất, dùng từ ngữ như
thế đối với mình. Chưa bao giờ. Đấy là nỗi đau của mình”.
Chờ phiên tòa sắp tới, ông Giá nói với tôi: “Mình chuẩn bị
tinh thần ngồi tù ngay từ khi bị khởi tố. Mình nói với con mình, với vợ mình,
với những người thân về điều đó. Mình cũng nói với tất cả mọi người là cả
cuộc đời, mình không làm điều gì sai trái để phải xấu hổ với người thân, bạn
bè, và lương tâm”.
(Theo
Thesaigontimes)
|
Thứ Sáu, 14 tháng 3, 2014
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét