14:11
|
Lao động chui từ Trung Quốc
Phải
nghiêm từ khâu quản lý đầu vào
SGTT.VN - Trước đây, Trung Quốc “xuất khẩu” một
lượng lớn nông dân sang các nước châu Phi thì hiện nay, Việt Nam lại phải đối
mặt với lực lượng lao động giá rẻ “lội nước” theo sau các nhà thầu có quốc
tịch Trung Quốc đang “làm mưa làm gió”. Các công trình tại Việt Nam khi cao
điểm có đến trên 1.000 công nhân Trung Quốc, điển hình như công trường bôxít
Tân Rai, Lâm Đồng. Tại Cà Mau, vào đầu tháng 8.2011, sở Lao động – thương
binh và xã hội tỉnh Cà Mau phát hiện, trong số hơn 3.700 người lao động đang
thi công nhà máy của công ty Ngũ Hoàn có đến 1.051/1.728 công nhân người
Trung Quốc không có giấy phép.
Sau
thời gian báo chí rộ lên phản ánh, tình hình vẫn không có dấu hiệu khả quan,
bởi vào ngày 20.4.2012, thanh tra sở Lao động – thương binh và xã hội tỉnh Bà
Rịa – Vũng Tàu tiếp tục phát hiện 15 lao động Trung Quốc không có giấy phép,
đang làm việc tại công ty TNHH Meisheng Textiles Việt Nam. Gần đây nhất, ngày
1.7.2012 vừa qua, ban quản lý khu kinh tế Nghi Sơn (Thanh Hoá) cho biết đã
phát hiện 229 công nhân Trung Quốc chưa có giấy phép lao động, đang tham gia
thi công dự án dây chuyền 2 nhà máy ximăng Công Thanh.
Việc
lao động Trung Quốc “chui” vào Việt Nam theo đường “thầu” khiến các cơ quan
chức năng khó kiểm soát. Một phần vì lực lượng lao động người Trung Quốc được
“hợp pháp hoá”, nhưng cái chính là họ đã bắt “thóp” những kẽ hở của luật Xuất
nhập cảnh lẫn luật Lao động của Việt Nam hiện nay. Và lao động Trung Quốc
cũng sẵn sàng làm nhiều giờ lao động hơn trong một ngày với một mức lương
thấp hơn. Điều này càng rõ ràng khi chính bà Nguyễn Thị Hải Vân, phó cục
trưởng cục Việc làm (bộ Lao động – thương binh và xã hội), thừa nhận rằng
cùng một công việc đơn giản với mức lương tương tự như người lao động Việt
Nam, nhưng lao động Trung Quốc làm việc rất khoẻ, chịu khó, cần cù, làm việc
với cường lực cao, không kén việc…
Việt
Trong
khi luật Lao động dành cho người Việt được thắt chặt thì luật Lao động đối
với người nước ngoài tại Việt
Mặc
dù nghị định 46/2011/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1.8.2011 được ban hành nhằm
sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 34/2008/NĐ-CP đã quy định thẩm
quyền của các cơ quan phụ trách kiểm soát lao động nước ngoài, nhưng sự phối
hợp giữa các cơ quan ban ngành liên quan cũng chưa chặt chẽ, đặc biệt trong khâu
tuyển dụng lao động. Nghị định 46 chưa quy định rõ một danh mục liên tục cập
nhật các việc làm phải cần đến lao động nước ngoài, cùng các quy định xét
duyệt công việc cho lao động nước ngoài. Thế nên, dù nghị định trên đã quy
định rõ chỉ tuyển lao động nước ngoài khi lao động trong nước không đáp ứng
được nhu cầu công việc, thì khi phát hiện tình trạng lao động người Trung
Quốc ở khắp các ngành nghề thì không biết lấy đâu ra quy định để xử. Đó là chưa
tính tới việc bộ yêu cầu cơ quan địa phương sử dụng lao động nước ngoài trực
tiếp quản lý, trái lại các cơ quan này lại chưa biết… quản lý cái gì.
Đáng
lo ngại hơn, mức phạt đối với doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài trái
phép theo khoản 2, điều 14, nghị định 47/2010/NĐ-CP là còn rất “khiêm tốn”.
Điều này tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp, nhà thầu “cố đấm ăn xôi”, bởi
nếu “xui xẻo” bị phát hiện, họ chỉ mất từ 20 – 30 triệu đồng – một số tiền
quá nhỏ so với những lợi ích họ đạt được từ việc “khai thác” công sức của
người lao động chui. Trong khi đó về phía người lao động Trung Quốc trái
phép, các động thái cảnh cáo, trục xuất… cũng chưa được mạnh tay khiến không
ít đối tượng tái vi phạm.
Luật
đưa ra cần chú trọng hướng đến ba đối tượng chính. Một là đơn vị tuyển dụng
lao động; hai là người lao động; và ba là đơn vị trước đây chưa thấy đả động
trong luật chính là “đơn vị quản lý” lực lượng lao động nước ngoài tại các
địa phương. Những kẽ hở luật Lao động lẫn xuất nhập cảnh đã được nghiên cứu
và chỉ điểm, việc còn lại của chúng ta là ban hành, sửa đổi và thực hiện theo
đúng quy trình, đồng bộ. Bên cạnh đó, cần làm gọn nhẹ, minh bạch thủ tục hành
chính nhằm giúp người lao động dễ hiểu, người quản lý dễ kiểm soát. Đối với
các đối tượng vi phạm, các biện pháp mạnh tay xử lý về tài chính lẫn trách
nhiệm hình sự sẽ không thừa, trước khi các đối tượng này gây ra những hệ luỵ nghiêm
trọng.
Phép
nước cần phải nghiêm, bắt đầu từ khâu quản lý đầu vào. Đừng để “mất bò mới lo
làm chuồng” như những trường hợp đã từng xảy ra trong quá khứ.
(Theo SGTT) Đỗ Thiện
|

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét