08:02
Án oan, ép cung và
"dê tế thần"
- Nước mắt của nhân dân, là
khóc cho bi kịch của một quốc gia - khó phát triển.
I- Tự do là
trạng thái tự nhiên và giá trị sống tuyệt vời nhất của con người trong xã
hội. Nhưng có những con người, cái giá tự do buộc phải trả quá đắt. Mà trường
hợp và số phận của tù nhân Nguyễn Thanh Chấn (Việt Yên, Bắc Giang), vừa được
tạm tha, sau 10 năm bóc lịch oan trong tù với cái “án giết người” không gây
ra, khiến cả xã hội chấn động mạnh, là một minh chứng buồn.
Sự tự do đó không phải được đánh
đổi bằng tài năng điều tra, trách nhiệm công tâm của cơ quan chức năng hay
tòa án, mà bằng sự “điều tra’ tận tụy, kiên nhẫn vô bờ bến của người vợ ông
bỗng trở thành “thám tử tư” bất đắc dĩ, dẫn đến sự hối thúc và hung thủ giết
người phải ra thú tội trước cơ quan chức năng- Lý Nguyễn Chung, sau đúng 10
năm lẩn trốn.
Thật ra, tư pháp của bất cứ quốc
gia văn minh nào cũng vẫn có những án oan sai “chết người”. Thế giới từng ghi
nhận những án oan chấn động- của Darryl Hunt, Thomas Kennedy, Dewey Bozella
(Mỹ), Arthur Allan Thomas (New Zealand), Donald Marshall, Jr (Canada)… ,
những số phận người bình thường bỗng thành nổi tiếng một cách đắng cay.
Vì thế mà nhân gian luôn tồn tại
những bi kịch.
Nguyễn Thanh Chấn chỉ là một
nông dân ở Bắc Giang. Cái án oan khiên bất ngờ rơi xuống đầu ông chỉ có mấy
tiếng, trong buổi tối định mệnh ngày 15/8/2003, khi ông đi lấy nước, khi
người ta phát hiện người phụ nữ đơn thân tên là H. cùng thôn Me với ông này,
bị giết hại. Nguyễn Thanh Chấn bị khép tội với bản án chết người- “giết
người”- tù chung thân.
Bị kịch của người nông dân trong
thời hiện đại “sống và làm việc theo pháp luật”, có nỗi bi thảm riêng của nó.
Đâu phải chỉ có Nguyễn Thanh Chấn, kéo theo là sự thiệt hại về kinh tế
của một gia đình nghèo, là nỗi đau của người vợ có chồng mang tiếng giết
người, là nỗi tổn thương và tủi hổ của những đứa trẻ con cái ông, trong ánh
mắt kỳ thị của cộng đồng, làng xóm, bạn bè sau lũy tre làng.
Có điều, bi kịch đó đến thời
điểm này, khi mọi việc vỡ lở tung tóe, người ta mới thấy hàng loạt điều “phi
pháp luật” của cơ quan thực hiện pháp luật, có thẩm quyền kết án … oan sai,
khiến xã hội bàng hoàng, bức xúc.
Ai là những nhân vật điều tra
viên đã “có tài” ép cung, đẩy Nguyễn Thanh Chấn đến bước đường buộc phải nhận
cái tội mình không mắc? Tệ đến mức (theo lời ông Chấn) hướng dẫn ông này khai
báo sự việc, hướng dẫn vẽ sơ đồ hiện trường, và luyện tập thuần thục để thực
nghiệm? Động cơ nào khiến họ thản nhiên làm một việc “dựng chuyện” thất đức
đến vậy, và nghiệp vụ “phản pháp luật” đó, thực chất, còn mang tính chất “lừa
đảo” cả tòa án?
Vì sao tòa án không đủ chứng cứ,
nhân chứng, ngoài hai dấu vết chân gần giống, nhưng cả hai phiên tòa sơ thẩm,
phúc thẩm vẫn thản nhiên kết luận y án “giết người”? Phải chăng, ngoài sự non
yếu và lỏng lẻo nghiệp vụ, còn có tâm lý nghề nghiệp méo mó, hệt bác sĩ, nhìn
đâu cũng thấy vi trùng?
Vì sao, người vợ ông 10 năm kêu
oan cho chồng. Nhưng những lá đơn khiếu nại của người đàn bà khốn khổ vẫn rơi
vào trong sự im lặng đáng sợ? Lá đơn đó, liệu có là một trong số không biết
bao nhiêu lá đơn có số phận hẩm hiu trong thời “bạn hỏi, chúng tôi … không
thèm trả lời”?
Để rồi sau 10 năm, cuối cùng, bi
kịch mang tên Nguyễn Thanh Chấn cũng được mở nút, khi thủ phạm chính xuất
hiện, với màn diễn có hậu- Viện KSNDTC công bố quyết định kháng nghị tái
thẩm, tạm đình chỉ thi hành án do “xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi bản
chất vụ án”, trả tự do cho Nguyễn Thanh Chấn.
Dù vậy, bi kịch Nguyễn Thanh
Chấn có vẻ chưa thể kết thúc. Khi ông Vũ Đức Khiển, nguyên chủ nhiệm UBPL của
QH khẳng định, kháng nghị và xét xử tái thẩm là sai. Bởi điều tra sai, kết
tội sai thì bây giờ phải minh oan cho người vô tội. Phải giám đốc thẩm để
tuyên hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm, chứ không phải vì một kẻ ra đầu thú nhận
tội mà coi đó là tình tiết mới.
Cũng
theo ông Vũ Đức Khiển, nếu đưa
ra tái thẩm, là các cơ quan tố tụng đang cố tình lấp liếm đi cái sai của mình
trước đó, dễ bề phủi trách nhiệm đã gây oan cho ông Chấn (Lao động, ngày 06/11). Có lẽ, chỉ
những người trong ngành tư pháp, mới hiểu bản chất của vấn đề?
Có điều, khi bi kịch Nguyễn
Thanh Chấn mới mở nút, thì những phát ngôn ấn tượng của hai ông Nguyễn Minh
Năng (nguyên chủ tọa phiên xét xử sơ thẩm năm 2004), Trần Văn Duyên (nguyên
thẩm phán TAND tỉnh Bắc Giang, thẩm phán phiên xét xử sơ thẩm) những quan
chức tòa án từng có quyền sinh quyền sát với số phận ông Nguyễn Thanh Chấn,
cho thấy họ vô cảm, và rũ sạch trách nhiệm đến chừng nào:
Giờ bị cáo oan sai thì trách
nhiệm là do QH chứ biết sao được? Và:Chúng tôi xử sơ thẩm mà cấp
phúc thẩm y án thì chứng tỏ có đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội giết người.
Cấp phúc thẩm tuyên y án có nghĩa chúng tôi xử đúng rồi và chúng tôi cũng
không có trách nhiệm gì. Giờ vụ án có sai thì trách nhiệm thuộc về cấp phúc thẩm
của tòa tối cao.
Không
hiểu QH biến thành… tòa án tự lúc nào? Không hiểu, khi “đá bóng trách nhiệm”
lên cấp phúc thẩm, các vị có nhớ đến câu dân gian Con nó lú có chú nó khôn.
Dường như ở đây, con lú, chú nó cũng lú theo?
Cũng hệt như các quan chức đó, những
điều tra viên đã “ép cung” năm xưa, giờ không nhận, và họ cũng quên hết những
gì đã làm với ông Nguyễn Thanh Chấn. Nhưng chắc chắn, vụ án đáng xấu hổ này,
sẽ đi vào lịch sử tư pháp, khó quên
Chắc chắn, vụ án oan Nguyễn
Thanh Chấn không phải là vụ duy nhất, không phải vụ đầu tiên và cũng chưa
phải vụ cuối cùng. Rồi đây, cơ quan chức năng sẽ phải có chính sách đền bồi
thiệt hại cả danh dự lẫn kinh tế cho ông này.
Nhưng bi kịch của một người nông
dân như ông, cho thấy “lỗi hệ thống” của ngành tư pháp, trong vai trò công cụ
quản lý và xét xử tội phạm, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự xã hội.
II-Bi kịch Thần
Công lý bị “bịt mắt” trong vụ án Nguyễn Thanh Chấn, trở nên chua chát hơn,
nếu đặt vụ án đó trong bối cảnh công cuộc diệt trừ tham nhũng hiện nay. Ở công
cuộc đó hình như Thần Công lý còn … nhắm tịt mắt?
Đó
không phải là hình ảnh ví von văn chương, mà là một nghịch cảnh phũ phàng.
Nếu như tham nhũng được gọi đích danh bằng những ngôn từ, mạnh mẽ bao nhiêu,
búa rìu bao nhiêu- “giặc nội xâm”, “quốc nạn”, “vấn nạn”, thì kết quả phòng
chống, diệt trừ tham nhũng, thương thay, lại yểu mệnh bấy nhiêu: Giặc tham nhũng chưa bị sát
thương; Phòng chống tham nhũng mới bắt được sâu nhỏ; Đánh tham nhũng mới mơn
man bên ngoài; Chống tham nhũng kiểu “dội nước vội vàng”.. v.v
và v.v…
Trong khi phòng chống tham
nhũng, về hình thức, có đầy đủ từ bộ máy từ TƯ đến địa phương, có đầy đủ các
văn bản luật, các quy định, chế tài về sự công khai minh bạch tài sản, có đầy
đủ cả hệ thống bảo vệ pháp luật- cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
án. Có điều, sự “vô hiệu hóa” của chiến dịch rầm rộ này ngay từ đầu, có vẻ
như đã được báo trước.
Bởi sự bất lực trước quyền lực
của các “nhóm lợi ích” thâu tóm, chi phối, từ những người đứng đầu các công
ty, tập đoàn kinh tế Nhà nước. Những vị này, khi lâm nạn, cũng vẫn chỉ là
“con dê tế thần” trước thanh thiên bạch nhật. Rút cục, “dê tế thần” bị mổ xẻ,
bị mất hết cả danh dự lẫn sự nghiệp, nhưng kẻ chăn dắt thì nhởn nhơ, vô can
với đôi tay… sạch.
Bởi sự “nhờn” với tham nhũng,
thái độ cam chịu chung sống với tham nhũng một cách vô cảm của người
dân, là kết quả tất nhiên của một tâm lý yếm thế, mất niềm tin trước những
giá trị đen trắng đảo lộn trắng trợn trong xã hội: Người ngay sợ kẻ gian, cái
tốt sợ cái xấu, người còng làm cho thằng ngay ăn….
Bởi sự ràng buộc trách nhiệm với
người đứng đầu cao nhất một đơn vị, hóa ra không kích thích được ý thức trách
nhiệm cao trong quản lý của họ. Vô tình “ràng buộc” họ trở thành người sẵn
sàng bao che những bất ổn về tham nhũng của đơn vị mình, che dấu tội lỗi cho
kẻ tham nhũng, nhân danh “bảo đảm sự bình ổn” của tập thể. Mà cái gốc của nó
là bệnh thành tích.
Đặc biệt, bởi quy định công
khai, minh bạch tài sản của quan chức chỉ mang tính hình thức- nói vậy không
phải vậy- đã gây hoài nghi sâu sắc trong lòng nhân dân, nhân danh mỹ từ “bảo
vệ uy tín cán bộ”, hệt câu chuyện ngụ ngôn “chiếc áo của hoàng đế”, trong khi
có uy tín nào thực chất hơn phẩm cách trong sạch, vì nước, vì dân?
Sự
“vô hiệu hóa”, mũ ni che tai, nhắm tịt mắt trước giặc tham nhũng giờ đây quá
tinh vi, lan đến cả nghị trường. Khi mà
chính đại biểu QH mỗi lần ra họp QH cũng được căn dặn rất kỹ- không phát biểu
về tham nhũng, bởi nếu còn cơ chế xin- cho, thì mình xin ai cho (Tuổi trẻ, ngày 07/11). Đại biểu QH
đại diện cho quyền lợi của dân, mà còn đành ngoảnh mặt làm ngơ thì đủ biết,
tham nhũng có gương mặt lưu manh, ma giáo thế nào?
Và
điều này mới quan trọng, khi chính vị Chủ tịch QH phải đặt câu hỏi nghi vấn: Liệu có tiêu cực, bao che
trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong lực lượng phòng chống tham nhũng
không? (VietNamNet,
ngày 07/11). Ngành tư pháp liệu có thể trả lời câu hỏi này được không?
Dư luận xã hội còn chưa quên
hiện tượng UB Tư pháp của QH đi giám sát một số đia phương, có tỉnh 02 năm
chỉ xử được 09 bị cáo về tội tham nhũng, thì đã có 08 bị cáo hưởng án treo?
Không
ít trường hợp, vụ to làm thành nhỏ, vụ nhỏ thành “án treo. Chợt nhớ tới nạn
nhân Nguyễn Thanh Chấn khốn khổ, bị kết án chung thân, và phải tù tới 10 năm
mới được giải oan, chỉ vì một cái tội không mắc. Vì sao, cùng kiếp người,
trước Thần Công lý, lại nhất bên quan
tham, bét bên dân lành, bất công như vậy?
Điều này càng cần đặt ra, nếu
biết, nhiều án tham nhũng lớn bị “tắc” vì giám định tư pháp. Bởi kết luận
giám định tư pháp rất quan trọng, cho việc xét xử đúng người đúng tội.
Vậy
nhưng, trong một số trường hợp, kết
luận giám định chưa bảo đảm, còn chung chung, mập mờ, không rõ ràng, không
khẳng định rõ đúng sai và có dấu hiệu né tránh khiến cho các cơ quan tiến
hành tố tụng lúng túng, khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án (Chính phủ.vn, ngày 07/11). Đây là
yếu kém về kỹ thuật giám định, hay còn nguyên nhân nào khiến các vụ án tham
nhũng như … ngậm hột thị?
Hậu
quả của hiện tượng “chạy” giám định tư pháp để thoát tội, dẫn đến có trường
hợp phải đình chỉ vụ án. Khi đó, sẽ có người
ngoài cười nụ…, còncó ai khóc thầm không,
thì chỉ có người dân đóng thuế là biết rõ.
III- Bi kịch
Nguyễn Thanh Chấn, bi hài kịch chống tham nhũng luẩn quẩn loanh quanh cho
thấy, muốn chống “giặc nội xâm” triệt để, muốn sửa chữa các khuyết tật của hệ
thống tư pháp, mà vụ án oan sai 10 năm ngồi tù của ông này là một lỗ hổng hổ
thẹn, cho thấy cải cách tư pháp phải được quyết liệt thực hiện, nếu muốn
người dân lấy lại niềm tin đã mất. Nhưng cải cách tư pháp chỉ có hiệu quả,
một khi gắn liền với cải cách thể chế chính trị, cải cách cơ chế quản lý kinh
tế- xã hội, xây dựng một nền quản trị quốc gia văn minh, tiến bộ.
Đó là một thách thức lớn, cũng
là một cơ hội lớn. Nắm bắt hay bỏ qua?
Không
phải ngẫu nhiên, Ts. Nguyễn Sĩ Dũng, trong trả lời phỏng vấn của báo Tuổi
trẻ, ngày 04/11 khẳng định: Đổi mới
là mệnh lệnh thời đại! Để chúng ta thiết kế nền quản trị quốc gia đáp ứng yêu
cầu thời đại, tạo ra xung lực mới cho sự phát triển.
…Chúng ta đang sống trong
một thế giới đã thay đổi. Sống theo cách cũ, vì vậy sẽ không có
tương lai. Điều đáng lưu ý là không chỉ thế giới đã rất khác, mà
những người dân cũng đã rất khác. Bởi hàng chục triệu người dân đã
hội nhập với thế giới hiện đại nhanh chóng và hiệu quả hơn so với
nhiều thiết chế đang vận hành nền quản trị quốc gia của chúng ta.
Cái thế giới đã thay đổi đó, đang thách
thức chính nhận thức, tư duy xã hội, thách thức trí tuệ, bản lĩnh của cả một
dân tộc- cập nhật để phát triển hay chối bỏ, mặc cho dân tộc tụt hậu? Hội
nhập văn minh hay mãi mãi ở “cái bẫy trung bình” không chỉ là chất lượng
sống, mà cả văn minh, văn hóa nhân loại? Muốn thế, một nền tảng, một cơ chế
quản lý theo kiểu pháp trị phải thực sự được thượng tôn, định hướng và điều
chỉnh mọi quan hệ xã hội.
Không
phải ngẫu nhiên, đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa đã phải thẳng thắn: Hậu thế sẽ đánh giá Quốc hội
khóa XIII làm gì để thúc đẩy chứ không cản trở sự phát triển của dân
tộc.
Nếu không có những giải pháp
toàn diện và đột phá thì đất nước không thể chuyển biến tích cực một cách căn
bản… Công cuộc đổi mới thể chế và luật pháp đã chậm bước so với nhu cầu của
đất nước.
Khi đọc bài báo đầu tiên về vụ
án Nguyễn Thanh Chấn, nhìn vòng vây yêu thương, tràn đầy nước mắt của người
dân vô tội đón người thân tù tội trở về, nhiều người đã cay mắt. Nước mắt
khóc cho bi kịch một cá nhân.
Nhưng nếu quốc nạn tham nhũng cứ
mãi ngang nhiên thách thức, trước nền tư pháp lạc hậu, yếu kém đầy khuyết
tật, trước một thể chế, cơ chế quản lý già nua tư duy, xơ cứng nhận thức, thì
nước mắt của nhân dân, là khóc cho bi kịch một quốc gia- khó phát triển.
Vâng, hậu thế sẽ đánh giá cha
ông họ- hôm nay.
(Theo TuanVietNamnet) Kỳ Duyên
|




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét