|
14:14
An dân trong khủng
hoảng
SGTT.VN - Một quy tắc sơ đẳng nhất và cũng là quan trọng nhất của
quản trị quốc gia là trong những khó khăn nhất như khủng hoảng kinh tế, chiến
tranh, thiên tai thì chính phủ trung ương và chính quyền địa phương phải làm
tất cả những gì có thể làm được để duy trì xã hội và tâm thế con người trong
trạng thái bình thường.
Mọi sáng kiến, đột phá, thử nghiệm, thu hồi, cưỡng chế làm xáo
trộn đời sống nhân dân, giảm sút thu nhập, gây tác động xấu đến tâm lý toàn
thể xã hội hoặc ở những nhóm xã hội lớn (cư dân đô thị, người làm công ăn
lương, người lao động chân tay) thì phải được huỷ bỏ, gác lại, trừ những
trường hợp quá ư cần thiết.
Các chính sách ban hành trong trạng thái xã hội bình thường thì
lúc khủng hoảng phải thay đổi theo hướng giảm khó cho dân như miễn giảm các
loại thuế, giảm giá lương thực, xăng dầu, chất đốt, nước sạch, giảm giá các
loại dịch vụ y tế, giáo dục, đi lại… Chính phủ huy động mọi nguồn lực có thể
như mở kho dự trữ lương thực, kho xăng dầu, kho bạc, vay nước ngoài, bán tài
nguyên để chu cấp cho dân vượt qua những thời đoạn khó khăn.
Những hoạt động này không phải là ban ơn hay thương hại mà thực
sự là chức năng nhiệm vụ của người quản trị quốc gia, còn nhân dân cũng hàm
ơn tổ chức giúp đỡ mình. Chính đó là cơ sở để nuôi dưỡng niềm tin và lòng
trung thành với thể chế.
Nếu chúng ta làm một trò chơi con trẻ là lấy hai cái lọ, và đề
nghị nhân dân bỏ vào lọ thứ nhất những hạt đậu trắng thể hiện những chính
sách, thông tư, nghị định, sáng kiến, hoạt động mang lại cho dân sự thuận
lợi, yên ổn và những hạt đậu đen thể hiện điều ngược lại, thì người viết bài
này chắc chắn số lượng hạt đậu đen nhiều hơn.
Điểm lại những chính sách ban hành trong ba năm gần đây, những
chính sách đậu trắng không có nhiều, có lẽ chỉ là giảm lãi suất (có thể có
lợi cho các doanh nghiệp hơn là người dân thường), còn lại đa phần là những
chính sách đậu đen, chúng làm cho đời sống người dân rất bất an. Tác giả bài
viết này sẽ không đi phân tích tất cả các chính sách đã và sẽ ban hành trong
thời gian tới mà chỉ điểm qua ở một vài lĩnh vực.
Phải thừa nhận là giao thông của Việt Nam có vấn đề nghiêm trọng
từ hạ tầng yếu kém, phương tiện cá nhân chiếm ưu thế, đến ý thức của con
người sử dụng, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi phải “ngay lập tức thay
đổi” trong khi nó còn tác dụng (chẳng hạn như xe máy). Không biết vì muốn thể
hiện năng lực cá nhân vượt trội, lập thành tích, muốn đột phá ngoạn mục hay
chỉ vì lợi ích nhóm mà bộ chủ quản nghĩ ra quá nhiều sáng kiến, trong số đó
phải kể đến các loại thuế, phí đánh vào phương tiện giao thông, xăng dầu,
đường sá làm cho các doanh nghiệp và người dân hoảng hốt, lo lắng. Hiện nay
Việt Nam có khoảng 20 triệu xe gắn máy, như vậy mỗi năm số tiền thu được từ
đánh phí là 20.000 tỉ đồng (mỗi xe 1 triệu đồng/năm) là một con số lớn, nhưng
không bõ bèn gì khi đầu tư vào giao thông, số tiền này chỉ làm được hơn 100km
cao tốc. Và sẽ ngạc nhiên hơn trong khi dân đang khó khăn thì bộ Giao thông
vận tải lại định chi ra 12.000 tỉ đồng để xây các trụ sở và dự tính chi 100.000
tỉ đồng chỉ để đầu tư vào một công ty Vinalines.
25.000 tỉ đồng, đất nước này không giàu hơn, nhưng nó sẽ giúp cho
người dân, nhất là người nghèo, người dân nông thôn bớt khốn khó hơn, bớt số
sinh viên phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí, và hơn hết nó mang lại
một sự ấm lòng rằng khi khó khăn Chính phủ luôn nghĩ đến dân.
Hầu hết các thành phố của Việt Nam là được kế thừa từ trong lịch
sử, nó không phải là những thành phố công nghiệp hiện đại được chức năng hoá
về không gian sử dụng một cách rành mạch như ở châu Âu, mà nó là sự kết hợp
của nhiều trong một. Nhà không chỉ để ở mà còn là nơi buôn bán, sản xuất, vỉa
hè không chỉ để đi mà còn là không gian trung gian kết nối giữa nhà – cửa
hàng (shophouse) và người qua lại, nhà ở và vỉa hè, hẻm (ngõ) không phải đơn
thuần là trong – ngoài, của tư – của công mà là nơi cộng sinh tồn tại. Khi
chuyển từ một thành phố tiền công nghiệp sang thành phố hiện đại, những cách
kết hợp truyền thống đó có vẻ không hợp nhưng sự thay đổi đó có nhất thiết
phải ban hành dồn dập vào thời điểm này không, khi mà người dân đang cố gắng
tìm cách mưu sinh để tồn tại một cách bình thường. Việc cấm buôn bán 112
tuyến phố ở TP.HCM, cấm buôn bán ở 70 tuyến phố và cấm các bãi giữ xe ở 262
tuyến phố ở Hà Nội có thể sẽ là hợp lý vào một thời điểm khác.
Nếu chịu khó thống kê, chúng ta sẽ thấy kinh ngạc là trong thời
gian chỉ khoảng một năm mà các chuyên gia, các nhà hoạch định chính sách nghĩ
ra được vô số các loại thuế, phí, phạt liên quan đến giao thông, nhà đất, y
tế, giáo dục, môi trường... Nếu kể ra thêm những sáng kiến kiểu như phân
luồng giao thông chèn ép xe máy, cưỡng chế đất đai, bơm vốn nuôi các tập đoàn
kinh tế nhà nước yếu kém, thì mới thấy sức làm việc sáng tạo của các tham mưu
gia thật đáng nể. Mà lạ hơn nữa là sao họ ít nghĩ ra cách làm giảm gánh nặng
cho dân.
Khủng hoảng kinh tế là một trạng thái bất bình thường của một xã
hội. Trong bối cảnh đó những hoạt động nhằm làm cho nó trở lại bình thường,
hay ít ra có vẻ bình thường chắc chắn là tốt hơn và đáng hoan nghênh hơn là
những hoạt động làm cho tình trạng bất bình thường trầm trọng hơn. Cho dù biện
minh rằng những hoạt động đó xuất phát từ mong muốn tốt đẹp, nhưng nếu hậu
quả của nó là đẩy người dân vào khốn cùng thì đó cũng là sự thất bại của
chính sách.
|
Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2012
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét