Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

Sức mạnh Việt Nam nằm trong bề dày văn hóa dân tộc

(GDVN) - 'Thăng Long kia là thành nhỏ, để chống với kẻ địch bên ngoài đến cướp nước chúng tôi, thì chúng tôi đã có một tòa thành vững vàng như núi đó chính là nhân dân"
Giáo sư Trần Văn Giàu, Anh hùng Lao động, Nhà giáo Nhân dân, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ - người dành cả cuộc đời nghiên cứu về lịch sử và văn hóa dân tộc Việt Nam đã rút ra nhận định: “Văn hóa dân tộc ta có một sức mạnh lớn, lớn phi thường. Những kẻ địch của của dân tộc Việt Nam cũng đã nhận thấy như thế, nhận thấy mà không làm gì được, không đánh bại nổi… Chính ông Macnamara, đông đảo tướng tá, chính khách Mỹ, tất cả các nhà báo đều từng thừa nhận rằng Mỹ thua Việt Nam về văn hóa”[1].
 
Giáo sư Trần Văn Giàu và Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Văn hóa dân tộc là mạch nguồn sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo 
Khi khai quật những ngôi mộ cổ ở Việt Nam, dù chủ nhân của nó thuộc tầng lớp nông dân, thợ thủ công hay quan lại, vua chúa, thì các nhà khảo cổ học, văn hóa học không chỉ tìm thấy đồ dùng sinh hoạt, đồ trang sức mà còn tìm thấy công cụ sản xuất và vũ khí: lưỡi cày, cái cuốc, cái đục… cùng với ngọn giáo, dao găm, mũi tên đồng…
Điều đó chứng tỏ người Việt (từ người đứng đầu đất nước đến mỗi người dân) luôn có ý thức thường trực trong nét văn hóa ứng xử: lao động gắn liền với đấu tranh, dựng nước đi đôi với giữ nước… Ngay cả khi chuẩn bị về với thế giới vĩnh hằng, người Việt xưa vẫn luôn suy nghĩ phải “mang theo” công cụ để sản xuất và vũ khí để chiến đấu chống quân thù, với tâm niệm “sống sao thác vậy”. Như thế đủ thấy văn hóa giữ nước đã hằn sâu trong tâm trí người Việt từ bao đời nay.
Việt Nam là một quốc gia đất không rộng, người không đông, lại nằm ở vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mối thông thương của khu vực, châu lục và thế giới, giàu có về tài nguyên thiên nhiên nên luôn là đối tượng bị các nước lớn nhòm nhó, lấn chiếm, xâm lược. Đứng trước những kẻ thù to lớn, hung bạo và thâm độc nhất thế giới trong các thời đại; đồng thời nhận thức rõ quy luật nghiệt ngã của đấu tranh vũ trang là “mạnh được yếu thua”.
Từ hàng ngàn năm trước, cha ông ta đã xác định phải huy động sức mạnh toàn dân tộc, của mọi người dân để xây dựng đất nước, để chống giặc ngoại xâm. Tiêu biểu như chủ trương cả nước đánh giặc “cử quốc nghênh địch”, “trăm họ là lính”, “động vi binh, tĩnh vi dân”… Từ đó, hình thành nên nét văn hóa giữ nước trong từng người dân Việt, với suy nghĩ “nước mất thì nhà tan” và hình thành quyết tâm đánh giặc giữ nước của mọi tầng lớp nhân dân, bất kể già, trẻ, gái, trai.
Với tiếng hô “Đánh” vang dội của các bô lão tại Hội nghị Diên Hồng, với hàng vạn cánh tay xăm chữ “Sát Thát” vung cao gươm giáo sáng lòa của tướng sỹ nhà Trần; với câu chuyện người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản luyện võ, hội quân đánh giặc với lá cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch báo hoàng ân”; với các nữ tướng Trưng Trắc, Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh, Nguyễn Thị Định… với tinh thần “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”…
Trên thế giới này có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, trong mấy ngàn năm lịch sử đã có hơn 1000 năm phải phải trực tiếp cầm vũ khí chống ngoại xâm? Nếu chỉ tính từ khi có sử liệu ghi chép rõ ràng thì từ cuộc kháng chiến chống quân Tần xâm lược đến nay, 22 thế kỷ, dân tộc ta đã phải trực tiếp kháng chiến suốt 13 thế kỷ, trong đó có khoảng 100 cuộc khởi nghĩa quy mô lớn và hơn 10 cuộc kháng chiến để giữ nước.
Trong thời Cổ đại và Trung đại, tất cả các triều đại phong kiến thống trị ở phương Bắc: Tần, Hán, Tùy, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh - các đế chế mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ - ít nhất là một lần, nhiều là ba lần, xâm lược, thống trị nước ta.
Khi không trực tiếp gây chiến tranh xâm lược thì họ cũng thường xuyên nhòm ngó, khiêu khích, lấn chiếm, gây mất ổn định đối với nước ta. Đến thời cận hiện đại sau này, dân tộc ta từng phải đương đầu với những đế quốc xâm lược mạnh bậc nhất thế giới: Pháp, Nhật, Mỹ…
Một dân tộc sinh ra và phát triển trong cuộc vật lộn cam go, quyết liệt mang tính sinh tồn, trải qua nhiều biến cố to lớn như vậy, cho nên mọi hoạt động vật chất, tinh thần của dân tộc ta luôn phải tuân theo quy luật xuyên suốt: dựng nước đi đối với giữ nước. Điều đó khiến cho nhân dân Việt Nam sớm hình thành lòng yêu nước, làm cho truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam chứa đựng những tư tưởng, tình cảm, văn hóa giữ nước sâu sắc.
Lịch sử thế giới đã phải ghi nhận: Khi các quốc gia - dân tộc khắp châu Á, châu Âu, từ các quốc gia nhỏ bé đến các quốc gia đất rộng, người đông, luôn tự xưng là trung tâm thiên hạ, coi các nước xung quanh là man di, mọi rợ… đều phải quỳ gối thần phục quân Mông Nguyên, thì chính dân tộc Việt Nam, tuy là nước nhỏ, dân ít đã dũng cảm đứng lên ba lần đánh bại quân Nguyên Mông.    
Kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi, có lần sứ giả ta là Đào Tử Kỳ sang sứ Nguyên, Thượng thư bộ Lễ nhà Nguyên Trương Lập Đạo tiếp. Sau khi nêu sức mạnh vô địch của nhà Nguyên, nói rõ trên một nửa thế giới đã năm trong bản đồ đế chế Nguyên, chỉ có nước An Nam là nước duy nhất chống lại, Trương Lập Đạo nói tiếp: “Vua tôi nước ngươi thật như ếch ngồi đáy giếng, coi trời nhỏ. Hỏi rằng được bao nhiêu sức người sức của, có địa lợi hiểm yếu gì mà dám chống lại Thiên triều. Thành Thăng Long nhỏ bé kia của nước ngươi, quân Thiên triều tới chỉ một cái đạp nữa là san bằng”.
 Sứ giả ta, người đại diện cho dân tộc chiến thắng đã khảng khái trả lời: “Các ông là nước lớn, chúng tôi là nước nhỏ, chúng tôi chỉ muốn yên ổn, không bao giờ muốn sinh sự, chỉ vì các ông  cậy người đông sức mạnh, đến chực đè đầu cưỡi cổ chúng tôi. Vì lẽ phải giữ mình chúng tôi phải chống lại. Người xưa có câu “trong chiến tranh lý thẳng thì thắng, lý cong thì thua”, chúng tôi vì tự vệ nên chúng tôi thắng; các ông vì cướp đoạt nên các ông thua. Đó là lẽ tất nhiên, không thể cậy thế mạnh thế yếu, nước to nước nhỏ mà bàn được. Thành Thăng Long kia là thành nhỏ để phòng những kẻ trộm cướp vặt, phá tan nào có khó gì. Còn như để chống với kẻ địch bên ngoài đến cướp nước chúng tôi, thì chúng tôi đã có một tòa thành vững vàng như núi, không kẻ nào phá được, đó là sức mạnh của toàn thể quân dân chúng tôi”[2].
Anh hùng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh đã khái quát như sau: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa tới nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước. Lịch sử ta đã có nhiều cuộc kháng chiến vĩ đại chứng tỏ tinh thần yêu nước của dân ta”[3].
Ngày nay, thế giới đã dần hiểu rõ về truyền thống và sức mạnh của văn hóa Việt Nam trong tổng thể cấu thành truyền thống và sức mạnh giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Bơ-ran-man, giám đốc cơ quan nghiên cứu kế hoạch chiến tranh không quân của Mỹ trước đây cũng đã từng phải công nhận: “Trong khi các nhà lãnh đạo nước Mỹ càng ngày càng đặt nhiều hy vọng vào kỹ thuật để khuất phục Đông Dương, thì các lực lượng kháng chiến lại tìm thấy sức mạnh chủ yếu của họ ở chỗ khác: trong tiềm lực văn hóa và tinh thần của nhân dân họ”[4].
Ngày 03 tháng 3 năm 2001, Tổng thống Nga Vladimir.Pu-tin cùng đoàn đại biểu chính phủ Nga đến thăm Văn miếu Quốc tử giám (trong chuyến thăm chính thức Việt Nam) đã ghi vào sổ vàng lưu niệm: “Văn hóa Việt Nam là một trong những nền văn hóa cổ kính và có truyền thống nhất trên thế giới. Trên cơ sở phát huy truyền thống văn hóa phong phú đó, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ giải quyết mọi vấn đề của đất nước mình với với sự khâm phục của thế giới”[5].
 
Ảnh: Đoan Môn - cửa chính đi vào Hoàng thành Thăng Long xưa.
Thách thức của thời cuộc
Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ của dân tộc ta đã chứng minh cho những kẻ thù hùng mạnh, bạo tàn, tham lam, gian manh và thâm độc nhất thế giới thấy, chúng sẽ thất bại nhục nhã và phải cuốn gói về nước nếu chúng manh tâm xâm lược đất nước ta. Tuy nhiên, vẫn còn có những kẻ chưa từ bỏ dã tâm xâm lược, lấn chiếm đất nước ta.
Hiện nay, khi tình hình biển Đông đang tiềm ẩn những mối nguy cơ hệ trọng, Trung Quốc từng đưa giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước ta. Nó nằm trong mưu đồ từng bước độc chiếm biển Đông của Trung Quốc. TQ đã từng dùng vũ lực chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ năm 1956, năm 1974 và một phần quần đảo Trường Sa vào năm 1988…
Giai đoạn hiện nay Việt Nam đang đứng trước thử thách lịch sử phải bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc.
Trước tình hình đó, toàn thể dân tộc Việt Nam đang sinh sống ở trong nước cũng như ở nước ngoài, cần phát huy văn hóa dân tộc như một sức mạnh to lớn để giữ nước. Vì bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền biển đảo, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế nằm trong công cuộc giữ nước ngàn đời của dân tộc ta, do pháp luật và công ước quốc tế quy định.
Là hành động mang ý nghĩa văn hóa, nhân văn cao cả. Đó là hành động bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân tộc Việt Nam, giữ gìn lãnh thổ, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà ông cha ta đã có công khai phá từ thời còn vô chủ, giữ gìn chủ quyền bằng mồ hôi công sức và cả máu của mình.
Đó còn là để bảo vệ  lợi ích của nhân dân Việt Nam trong hiện tại và con cháu đời sau. Là hành động bảo vệ quyền bình đẳng, lòng tự tôn dân tộc, thể diện quốc gia, phẩm giá con người Việt Nam, bảo vệ các giá trị văn hóa, văn minh chung của nhân loại - các giá trị được ghi nhận trong luật pháp quốc tế.
Đồng thời chống lại mọi âm mưu và hành động của của các thế lực đang âm mưu xâm lược biển đảo. Năm 1988, quân Trung Quốc đã giết hại 64 chiến sỹ, đa số là bộ đội công binh của ta không mang theo vũ khí, đang xây dựng công trình ở đảo Gạc Ma), chiếm đoạt chủ quyền và tài nguyên quốc gia của chúng ta.
Cuộc đấu tranh cũng chính là việc chống lại cái ác, cái dã man, cái tham lam bất chính, bất chấp luật pháp quốc tế của các thế lực bành trướng lãnh thổ, chống lại những gì phản văn hóa, văn minh, vô nhân đạo mà những thế lực này gây ra.
Vấn đề đặt ra hiện nay là phải thực hiện đồng bộ các giải pháp để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với biển đảo của Tổ quốc. Trong quá trình ấy cần phát huy truyền thống văn hóa dân tộc trong hành động giữ vững chủ quyền.
Cần tuyên truyền để nhân dân ta, nhân dân thế giới thấy rõ sự chính nghĩa của chúng ta. Đồng thời thấy rõ hành động của thế lực muốn xâm chiếm là phi nghĩa, phản văn hóa, vô nhân đạo, bất chấp luật pháp quốc tế.
Đứng trước giai đoạn bắt đầu nổi lên những “giông bão” của lịch sử dân tộc, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc đòi hỏi mỗi người dân đất Việt phải luôn am hiểu và phát huy truyền thống văn hóa giữ nước của dân tộc.
Nhân lên nhiều hơn nữa lòng yêu nước nồng nàn, “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”; nâng cao ý thức cộng đồng, cố kết dân tộc trong mối liên hệ mật thiết giữa cá nhân - gia đình - họ tộc - làng xã - đất nước trong khối đại đoàn kết dân tộc.
Làm cho nhân dân tiến bộ trên thế giới thấy được sự chính nghĩa và tính nhân văn cao cả trong văn hóa giữ nước của dân tộc ta như lời Nguyễn Trãi đã khẳng định: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo”. Đồng thời cần nghiên cứu, học tập và vận dụng sáng tạo nghệ thuật đánh giặc độc đáo của cha ông ta, để biết đánh và biết thắng mọi kẻ thù xâm lược./.
(Theo Giáo dục VN) ThS. Vũ Hải Thanh, Nghiên cứu viên - Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự - Bộ Quốc phòng
Tựa đề của Kinh Bắc
Tài liệu tham khảo:
[1] Bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ (in lần thứ 2), Nxb Văn học và Trung tâm nghiên cứu quốc học, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr.30-32
[2] Phạm Ngọc Phụng, Tổ tiên ta đánh giặc, Tư liệu Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng.
[3] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6, Nxb Chính Trị Quốc Gia , Hà Nội, 1995, tr.171.
[4] Việt Nam - Lương tâm của thời đại, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.307.
[5] Nguyễn Thế Long, “Các nguyên thủ quốc gia nói gì về Văn miếu Quốc tử giám” - An ninh thế giới cuối tuần, số 14, ngày 13.01.2002.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét