Thu hồi tài sản
tham nhũng: Cần “nắm đấm tổ hợp”
Cập nhật lúc 08:37
Một
khi tăng quyền làm chủ và sự tham gia của người dân vào công cuộc phòng,
chống tham nhũng thì các tài sản do tham nhũng mà có chắc chắn sẽ bị “lòi” ra
dưới sự giám sát của nhân dân.
Tình hình tham nhũng ở nước ta ngày càng phức tạp, đa dạng
về loại hình, nghiêm trọng về tính chất và mức độ. Theo đó, số lượng tài sản
do tham nhũng chắc chắn là không hề nhỏ. Điều đáng nói là số tài sản bất
chính ấy lại núp bóng, chuyển hóa dưới nhiều dạng, cho nên vấn đề thu hồi tài
sản tham nhũng là một vấn đề nan giải.
Chúng ta cần một thái độ cương quyết, triệt để đối với
tham nhũng và thu hồi tài sản do tham nhũng. Với tình hình thực tiễn và bối
cảnh chính trị - văn hóa - xã hội như nước ta hiện nay, cần những giải pháp
cụ thể như những “nắm đấm tổ hợp”.
Siết kê khai, chế tài đủ mạnh
Vấn đề quan trọng đầu tiên và xuyên suốt là phải nhanh
chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Hiện Luật
Phòng, chống tham nhũng (2005) và Luật Hình sự (1999) cũng đã quy định cụ
thể: “Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ sở hữu,
quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước”; “Người phạm tội có thể bị tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Thế nhưng trên thực tế, tòa ít khi áp dụng
hình phạt bổ sung là “tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” hoặc tài sản bị
tịch thu, thu hồi chỉ là “phần nổi của tảng băng” bởi tài sản đã được “ngụy
trang, chuyển hóa, chuyển đổi, tẩu tán…”. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp
rất khó xác minh được đâu là tài sản của bị cáo có nguồn gốc hợp pháp, đâu là
tài sản có nguồn gốc do tham nhũng mà có.
Như vậy, bên cạnh việc tăng cường các chế tài về hành vi
tham nhũng còn cần phải kết hợp chặt chẽ với công tác kê khai tài sản, thu
nhập của cán bộ, công chức, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan, đơn vị (cơ
chế tài chính, cơ chế công vụ...) theo tinh thần của Chỉ thị 33 của Bộ Chính
trị ngày 3-1-2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và
kiểm soát việc kê khai tài sản. Trong đó có nhấn mạnh đến việc xử lý nghiêm
những cơ quan, tổ chức, đơn vị cá nhân chậm tổ chức việc kê khai, không kê
khai, kê khai không trung thực; không giải trình được nguồn gốc tài sản tăng
thêm; không tổ chức việc công khai bản kê khai; không chủ động xác minh hoặc
không xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm quy định về kê khai, kiểm soát
việc kê khai tài sản. Có thể nói đây là cơ chế dự phòng rất hiệu quả nếu thực
hiện thường xuyên và nghiêm túc.
Buộc quan tham phải “nhả”
Mặt khác, cần xem lại quy định về khắc phục hậu quả để
được giảm án (hay tình tiết giảm nhẹ) trong các án tham nhũng. Thực tế cho
thấy nhiều vụ án tham nhũng hàng chục, thậm chí hàng trăm, hàng ngàn tỉ đồng
nhưng “khắc phục” được vài trăm triệu đồng là “có tình tiết giảm nhẹ”. Thiết
nghĩ cần phải quy định rõ ràng, khắt khe trong vấn đề khắc phục hậu quả tham
nhũng, phải lượng hóa (chẳng hạn đã khắc phục trên 95% tổng số tài sản do
tham nhũng mà có thì mới được xem là tình tiết giảm nhẹ). Có như vậy mới thể
hiện tính ưu việt của chế độ, vừa tránh tâm lý “ăn không được thì trả”, “cùng
lắm thì trả lại” để tránh án chung thân hoặc tử hình.
Bên cạnh đó, cần phải xác định rõ các hình thức thu hồi
tài sản tham nhũng: Thu hồi trực tiếp, thu hồi gián tiếp, thu hồi tài sản,
thu hồi giá trị tài sản; cơ chế bồi thường chi phí trong quá trình thẩm định
tài sản do tham nhũng mà có, cơ chế hưởng lợi (cho thi hành án, cho các cá
nhân, đơn vị có quyền lợi và nghĩa vụ hay có “công” đối với công tác thu hồi,
người có công phát hiện tài sản do tham nhũng mà có…). Người tham nhũng
thường có chức có quyền, tham nhũng thường có tính toán và có thời gian để
“chuyển hóa”, “ngụy trang” tẩu tán tài sản, thậm chí chuyển ra nước ngoài nên
việc thu hồi cần phải phân định rõ ràng và được luật hóa khi nào là thu hồi
trực tiếp, thu hồi gián tiếp, thu hồi tài sản, thu hồi giá trị tài sản.
Đánh vào nỗi sợ “búa rìu dư luận”
Một yếu tố “nặng ký” khác là phải phát huy
yếu tố dư luận xã hội. Thực tế cho thấy thu hồi tài sản là hết sức cần thiết
bởi nó tước đoạt khỏi người tham nhũng những tài sản do người đó tham nhũng
mà có, đánh vào tâm lý “dã tràng xe cát” của những kẻ đã, đang và sẽ có hành
vi tham nhũng, góp phần ngăn chặn hành vi tham nhũng, hoàn trả những của cải,
tài sản đã bị chiếm đoạt. Thế nhưng con người “sợ bị tước đoạt” không chỉ là
yếu tố vật chất mà còn là lĩnh vực tinh thần; con người không chỉ “sợ pháp
luật” mà còn sợ “búa rìu dư luận”. Và phải có biện pháp đánh vào nỗi sợ này
của quan tham. Chẳng hạn như bên cạnh việc phải xử lý nghiêm minh thì cần đưa
các án tham nhũng lớn ra xét xử công khai nơi địa phương mà quan tham cư trú,
để cho dư luận phán xét và “đối xử”. Điều này chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả
xã hội tích cực: Người dân được phát huy quyền làm chủ của mình và có thái độ
“ứng xử” với hiện tượng tham nhũng theo cách của họ. Một khi tăng quyền làm chủ
và sự tham gia của người dân vào công cuộc phòng, chống tham nhũng thì các
tài sản do tham nhũng mà có chắc chắn sẽ bị “lòi” ra dưới sự giám sát của
nhân dân; đối tượng có khả năng tham nhũng cũng sẽ có những suy nghĩ, thái độ
khác hơn về hành vi của mình.
TS PHẠM ĐI (Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
(Theo
Pháp luật TP HCM)
|
Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét