Một loạt các vụ việc liên
quan đến chứng thư bảo lãnh bị làm giả hoặc bị lợi dụng được phát giác gần
đây khiến dư luận lo ngại về một loại tội phạm mới trong hệ thống ngân hàng
thương mại.
Gần đây, những sai phạm trong hệ thống ngân hàng thương mại liên tục bị phát
lộ, nào là những sai phạm trong lĩnh vực tín dụng, cho vay và gần đây là hàng
loạt chứng thư bảo lãnh “có vấn đề” liên tục xuất hiện. Vậy chuyện gì đang
xảy ra?
Trao đổi với chúng tôi, TS. Nguyễn Trí Hiếu, thành viên Hội đồng Quản trị
ABBank, nói:
- Những năm qua, sự thịnh vượng của hệ thống ngân hàng thương mại đã khỏa lấp
đi tất cả những sai phạm. Nó như một dòng sông đầy tràn, người ta chỉ thấy
cái mặt nước đẹp, nhưng khi dòng sông lắng xuống, tất cả những rác rưởi, cặn
bẩn hiện ra một cách rõ ràng. Tuy nhiên, đó chỉ là phần một, phần thứ 2 là do
lòng tham của con người. Khi vấn đề tín dụng ăn chia, bỏ tiền vào túi một
cách dễ dàng bị thắt lại, người ta phải tìm một lối khác tức là “bảo lãnh
khống”.
Bảo lãnh khống dễ dàng quá: chỉ cần chữ ký của giám đốc một chi nhánh cộng
thêm con dấu của chi nhánh nào đó là xong.
Trong khi đó ở Mỹ, muốn lập một chứng thư bảo lãnh, chỉ có trung tâm bảo lãnh
ở Hội sở trung ương mới phát hành được. Mà chứng thư bảo lãnh ở Mỹ muốn phát
hành ra ngoài là phải có tất cả hệ thống giám sát nên cũng không cần con dấu,
chỉ cần chữ ký của một cán bộ cao cấp là đủ.
Có một lỗ hổng đang tồn tại trong hệ thống ngân hàng Việt
Nam, thể hiện từ khâu vận hành quy chế cho đến vấn đề đào tạo con người và
đạo đức nghề nghiệp của các nhân viên thuộc hệ thống các ngân hàng thương mại
hiện nay.TS.
Nguyễn Trí Hiếu, thành viên Hội đồng Quản trị ABBank
Còn tại Việt Nam, chính sự thiếu sót, sơ hở trong kiểm soát quy trình bảo
lãnh cùng với lòng tham của con người đã tạo ra rủi ro. Lĩnh vực tín dụng đã
nguội đi và bị thắt chặt lại người ta không “moi” được nữa thì “moi” bằng
chuyện bảo lãnh khống. Tình trạng này đã xảy ra tràn lan trong hệ thống, vài
ngân hàng đã phát hiện ra có khả năng sắp tới nhiều ngân hàng khác cũng có
chuyện liên quan đến lĩnh vực này.
Điều đó chứng tỏ có một lỗ hổng đang tồn tại trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, thể hiện
từ khâu vận hành quy chế cho đến vấn đề đào tạo con người và đạo đức nghề
nghiệp của các nhân viên thuộc hệ thống các ngân hàng thương mại hiện nay.
Qua việc một loạt các chứng thư bảo lãnh bị làm giả hoặc bị lợi
dụng bị phát hiện gần đây, có quan điểm cho rằng cá nhân gây ra phải chịu
trách nhiệm, ý kiến khác lại cho rằng phía ngân hàng chủ quản cũng phải chịu
trách nhiệm liên đới. Quan điểm của ông về vấn đề này?
Trách nhiệm chắc chắn phải từ cả hai phía. Cả ngân hàng và cá nhân đều phải
có trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm thương mại đối với xã hội và các đối
tác của họ. Cho đến nay, bất cứ một văn bản nào mà có chữ ký của một người có
thẩm quyền và con dấu là xem như đã hợp pháp. Thành ra, mặc dù cán bộ sai
phạm nhưng trong một số trường hợp, chính ngân hàng cũng phải chịu trách
nhiệm, họ không thể thoái thác được.
Vì ngân hàng vận hành theo cách thức đó và được hệ thống, pháp luật và cả các
qui định của Ngân hàng Nhà nước chấp nhận nên các ngân hàng không thể tránh
trách nhiệm của mình. Có nghĩa là không thể dùng trách nhiệm cá nhân để thoát
khỏi trách nhiệm pháp lý. Việc ngân hàng “túm tóc” được các nhân viên sai
phạm để xử lý hình sự hay xử lý thương mại là chuyện nội bộ của các ngân
hàng.
Trước hiện tượng bùng phát “chứng thư bảo lãnh giả” hiện nay,
theo ông hệ thống ngân hàng thương mại cần có những giải phát gì để ngăn
chặn?
Chúng ta cần quay lại vấn đề cơ sở pháp lý. Câu chuyện một chứng thư bảo lãnh
của một chi nhánh được phát hành ra chỉ với chữ ký và con dấu của giám đốc
chi nhánh đó là một sai lầm. Đây là một thiếu sót vô cùng lớn trong hệ thống
ngân hàng.
Có lẽ Ngân hàng Nhà nước cần phải có một qui chế về chữ ký và con dấu của một
giám đốc chi nhánh.
Ở Mỹ, các văn bản được phát hành ra chỉ cần chữ ký của người được ủy quyền mà
không cần con dấu. Thế nhưng đối tác nhận được cũng biết rằng đây chỉ là một
văn bản và họ sẽ phải tra cứu để xác nhận xem đó có phải là một văn bản có
tính pháp lý hay không.
Nguyên nhân gây ra nợ xấu thì ngoài vấn đề do nền kinh tế
khó khăn, thị trường sa sút, người vay không trả được tiền... thì đạo đức
nghề nghiệp của những công chức trong hệ thống ngân hàng cũng là một dấu hỏi.TS.
Nguyễn Trí Hiếu, thành viên Hội đồng Quản trị ABBank
Trong khi đó, ở Việt Nam,
nhiều đối tác thương mại không quan tâm và không cần biết vì họ tin chắc: có
con dấu và chữ ký như vậy là ổn. Nhưng ở đây cũng cần lưu ý không loại trừ
trường hợp nhiều người cấu kết với đối tác, cấu kết với giám đốc chi nhánh để
gây ra sai phạm.
Một trong những vấn đề mà từ trước tới nay tôi luôn quan tâm mà nhiều ngân
hàng thương mại dường như đang bỏ ngỏ, đó là đạo đức nghề nghiệp. Gần đây,
một số ngân hàng thương mại đã đưa ra những qui chuẩn về đạo đức nghề nghiệp nhưng
quan trọng là áp dụng như thế nào và vấn đề đào tạo đội ngũ nhân viên của
mình ra sao để họ thực thi những qui tắc về đạo đức. Đó là một lỗ hổng, thậm
chí là một thiếu sót của hệ thống ngân hàng thương mại.
Ở đây tôi muốn dẫn ra một vấn đề khác đang nóng bỏng trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam:
nợ xấu.
Nguyên nhân gây ra nợ xấu thì ngoài vấn đề do nền kinh tế khó khăn, thị
trường sa sút, người vay không trả được tiền... thì đạo đức nghề nghiệp của
những công chức trong hệ thống ngân hàng cũng là một dấu hỏi.
Vì thế, đạo đức nghề nghiệp là một trong những vấn đề hàng đầu mà hệ thống
ngân hàng thương mại cần phải quan tâm trong năm 2013.
(Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét