Việt Nam đang cần
thêm một 'Khoán 10'
Cập nhật lúc 07:00
Để đưa ngành lúa gạo Việt Nam gia tăng khả
năng cạnh tranh, sản xuất lúa gạo có giá trị cao, và mang lại nhiều hơn cho
nông dân, ngay lúc này Việt Nam cần có những chính sách cởi trói đột phá như
“Khoán 10” dành cho các doanh nghiệp.
LTS: Kể từ cuối thập kỷ 1980 đến
nay, ngành lúa gạo của Việt Nam đã phát triển liên tục theo định hướng gia
tăng sản lượng, đã giúp Việt Nam không những đảm bảo an ninh lương thực trong
nước mà còn liên tục là một trong 3 nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới.
Tuy
nhiên, sự mở rộng quy mô của ngành lúa gạo Việt Nam thay vì được hồ hởi chào
đón như trước đây, giờ lại trở thành mối lo lắng của xã hội. Sản lượng lúa
tăng nhưng không kèm theo sự cải thiện thu nhập của người nông dân, kèm theo
đó là nguy cơ đất trồng bị thoái hoá và ô nhiễm môi trường tăng cao.
Việc
quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt
Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung ở phân đoạn thấp, kém đa dạng,
và đặc biệt đang tập trung rất nhanh và thị trường Trung Quốc. Khi những thị
trường xuất khẩu này gặp khó khăn, lập tức tạo sức ép giảm giá lên thị trường
nội địa, gây thiệt hại cho các thành phần trong chuỗi sản xuất lúa gạo trong
nước, đặc biệt là người nông dân.
Tuần
Việt Nam tổ chức loạt bài với các chuyên gia kinh tế, nông nghiệp để cùng tìm
ra lời giải.
Bài 1: Cần thêm một “khoán 10” trong nông nghiệp
Để đưa ngành lúa gạo Việt Nam gia tăng khả năng cạnh
tranh, sản xuất lúa gạo có giá trị cao, và mang lại nhiều hơn cho nông dân,
ngay lúc này Việt Nam cần có những chính sách cởi trói đột phá như “Khoán 10”
dành cho các doanh nghiệp.
Năm sau (2016), Việt Nam đánh dấu chặng đường 30 năm
thực hiện Đổi mới. Chính sách kinh tế đột phá này, vốn giúp Việt Nam hoàn
toàn lột xác về cả kinh tế và xã hội, khởi nguồn từ những cải cách từ trong
nông nghiệp với chính sách Khoán 100 sau đó là Khoán 10, “cởi trói” cho ngành
nông nghiệp và người nông dân.
Sau một hành trình dài, ngành lúa gạo đã có những bước
phát triển “thần kỳ”, từ một nước phải nhập khẩu gạo trở thành một trong ba
nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Chúng ta không còn phải lo lắng về an
ninh lương thực nữa, mà tập trung sản xuất lúa gạo như một mặt hàng trọng
điểm để xuất khẩu ra thị trường toàn cầu.
Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là thành tích đó chưa
mang lại nhiều giá trị thặng dư cho ngành, và đặc biệt là chưa tạo ra được
nhiều thay đổi tích cực trong thu nhập cho người nông dân. Nông dân Việt Nam là nhóm
có thu nhập bình quân GDP thấp nhất cả nước, và nếu tính trong khu vực Đông
Nam Á, chỉ cao hơn nông dân ở Campuchia [1].
Trong nhiều nguyên do cho tình trạng đó, đáng chú ý là
việc Việt Nam trong suốt 30 qua vẫn chỉ tập trung vào chiến lược gia tăng sản
lượng lúa gạo, thay vì nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra một mặt hàng có
thương hiệu và giá trị gia tăng cao hơn.
Các chính sách hiện tại vẫn hướng Việt Nam tiếp tục
đi trên con đường đến với “đỉnh vinh quang” trước đây, đó là gia tăng sản
lượng và khuyến khích xuất khẩu. Điều này sẽ tiếp tục khiến chúng ta sẽ rơi
vào tình trạng sản xuất gạo dư thừa, chất lường gạo thấp, gây nên nhiều hệ
lụy xấu cho sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp và đời sống của
người nông dân.Nhiều có phải là tốt?
Thực tế, tư tưởng gia tăng sản lượng vẫn còn ngự trị. Theo
GS. Võ Tòng Xuân [2], Hiệu trưởng Trường ĐH Nam Cần Thơ, người nông dân Việt Nam “dưới sự
cổ vũ của nhà nước, chỉ thích trồng giống lúa nào cho năng suất thật cao, mà
ít quan tâm đến chất lượng thơm ngon”.
Tăng sản lượng còn thể hiện ở mật độ gieo trồng sản xuất
lúa gạo ngày càng gia tăng. Nếu tại thời điểm 1990, mật độ gieo trồng tại
Đồng Bằng Sông Cửu Long là 1,6 vụ/năm thì tính đến 2010, con số này đã lên
tới 2,1 vụ/năm. Đáng chú ý, quá trình này sẽ khiến đất bị thoái hóa,
người nông dân sẽ sử dụng nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, chất
lượng hạt gạo vì thế cũng kém đi theo thời gian.
Tỷ trọng xuất khẩu
gạo Việt Nam đến các quốc gia, 2010-2013 (% giá trị xuất khẩu)
|
|
|
Nguồn : UN Comtrade
(2015)
|
Việc
quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượng gạo của Việt Nam trên thị
trường thế giới thấp, và hệ quả xuất khẩu phải phụ thuộc vào một số quốc gia
trong khu vực, tạo ra nhiều bấp bênh.
Theo số liệu thương mại của Liên hợp quốc (UN Comtrade),
nếu như năm 2010, Việt Nam chủ yếu xuất gạo sang Phillipines (khoảng 29% tổng
giá trị xuất khẩu) thì đến năm 2012 -2013, Việt Nam đã phải chuyển sang xuất
khẩu phần lớn cho Trung Quốc (24,53% và 30,88% tổng giá trị xuất khẩu của các
năm tương ứng), mặc dù trước đó năm 2010, xuất khẩu vào Trung Quốc chỉ chiếm
1,71% tổng giá trị xuất khẩu.
Với việc đồng Nhân dân tệ liên tục bị mất giá, rủi ro cho
lúa gạo Việt Nam
sẽ ngày càng tăng lên khi chúng ta quá phụ thuộc vào thị trường này.
Thị trường gạo thế giới ngày càng cạnh tranh
Thêm vào đó, nếu nhìn ra thị trường gạo thế giới, có thể
thấy, phân đoạn gạo cấp thấp đang có xu hướng cung vượt cầu. Theo dự báo của
FAO (năm 2006), sản xuất gạo sẽ có tốc độ tăng trưởng mạnh trong những năm
tới nhờ việc gia tăng diện tích trồng lúa, số vụ trồng lúa, và cải thiện năng
suất trồng trọt. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ gạo trên toàn cầu tiếp tục tăng
đến năm 2030; sau đó sẽ chuyển sang xu hướng giảm.
Các nước nhập khẩu gạo truyền thống như Indonesia và
Phillipines đã có chiến lược tự cung lúa gạo. Indonesia là nước nhập khẩu gạo
lớn nhất thế giới vào năm 2011, với 3,1 triệu tấn; tuy nhiên, nước này đã
giảm nhập khẩu rất mạnh năm 2013 với 650 nghìn tấn.
Trong khi đó, các nước như Ấn Độ, Campuchia và Myanmar đang
có mức tăng trưởng mạnh về xuất khẩu gạo. Ấn Độ là nước có sự bứt phá mạnh mẽ
nhất trong xuất khẩu gạo, với sản lượng xuất khẩu tăng gần 2 lần từ mức 4.637
nghìn tấn trong niên vụ 2010/11 lên 10.901 tấn trong niên vụ 2013/14 và trở
thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Campuchia thì đã tăng sản
lượng xuất khẩu từ mức 750.000 tấn trong niên vụ 2009/10 lên mức 1 triệu tấn
trong niên vụ 2013/14, ở các thị trường của châu Âu, Malaysia, Thái Lan và
Trung Quốc. Myanmar
cũng tăng gần gấp đôi sản lượng xuất khẩu từ 700.000 tấn lên 1,3 triệu tấn
trong giai đoạn này.
Trong bối cảnh thị trường đang gia tăng cạnh tranh như
vậy, nếu tiếp tục gia tăng sản lượng gạo và không chú trọng tới chất lượng
gạo, toàn bộ chuỗi giá trị gạo của Việt Nam sẽ chịu thiệt hại năng nề, trong
đó, chịu thiệt hại nhiều nhất vẫn sẽ là người nông dân.
Lý do là vì theo xu hướng này, trong tương lai, vị thế của
các quốc gia trên thị trường xuất khẩu gạo phải phụ thuộc vào khả năng các
nước xuất khẩu có thể cung ứng các loại gạo chất lượng cao và đặc thù cho các
nhóm khách hàng khác nhau. Sản lượng không còn là vấn đề, mà là chất lượng và
trị giá xuất khẩu.
Các nước xuất khẩu gạo trên thế giới không phải không biết
điều đó. Thái Lan, Ấn Độ, hay cả những nước xuất khẩu gạo mới nổi như
Campuchia đều có những “vũ khí” là những thương hiệu gạo của riêng mình. Tại
Hội chợ Thương mại Lương thực diễn ra vào tháng 5/2013 ở Bangkok [3], riêng
Thái Lan đã có hơn chục thương hiệu gạo, Campuchia cũng có 8 thương hiệu.
Việt Nam,
dù được tiếng là nước xuất khẩu gạo hàng đầu, không có thương hiệu nào được
đem đi quảng bá.
(Theo TuanVietNam) Nguyễn Quang Thái –
Nguyễn Khắc Giang
(Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách – VEPR)
----------
[1] Tuổi trẻ, Thu nhập
nông dân cực thấp, tụt hậu không còn là nguy cơ.
[2], [4] Xây dựng
thương hiệu gạo Việt Nam,
Tia Sáng, 21/07/2015.
[3] Tìm tên cho Hạt
gạo Việt Nam,
Doanh nhân Sài Gòn, 18/12/2013.
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét