Lãi suất sẽ chỉ tăng chứ
không giảm
Cập nhật lúc 15:42
Một
số ngân hàng thương mại gần đây đã tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất từ
0,1-0,5 điểm phần trăm, đồng thời đưa ra các chương trình khuyến mãi để tăng
thêm tính cạnh tranh nhằm thu hút tiền gửi từ dân cư.
Dư luận lo ngại rằng chiều hướng đi lên của như thế này
của lãi suất sẽ tiếp tục trong thời gian tới, chất thêm gánh nặng tài chính
cho doanh nghiệp trong bối cảnh môi trường kinh doanh chung vẫn còn nhiều khó
khăn, chưa thấy có triển vọng cải thiện nhiều.
Quả thật, lo ngại này là hoàn toàn có cơ sở nếu phân tích
từ góc độ những yếu tố cơ sở hình thành và tác động đến mặt bằng lãi suất ở
Việt Nam hiện nay và trong thời gian sắp tới.
Cán
cân cung cầu tiền đang lệch mạnh
Thứ nhất, xét về cung tiền. Tính đến ngày 21-9, tổng
phương tiện thanh toán (M2) tăng 8,88% so với cuối năm 2014. Nếu chỉ nhìn vào
con số này có thể nói là tăng trưởng cung tiền không hề thấp. Nhưng nếu so
với con số cùng kỳ năm 2014, ở mức 10,73% (tính đến ngày 30-9-2014), và so
với con số tăng trưởng dự báo cho năm 2015 mà Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
đưa ra vào tháng 9-2014 là khoảng 16-18%, thì có thể kết luận rằng cung tiền
đã tăng chậm lại đáng kể trong năm nay so với năm trước và so với kỳ vọng của
NHNN.
Thứ hai, xét về cầu tiền. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến
ngày 21-9-2015 tăng trưởng tín dụng là 10,78%. Con số này không những bỏ xa tăng
trưởng cung tiền mà còn là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2011. Tăng
trưởng tín dụng cùng kỳ năm trước (tính đến cuối tháng 9-2014) chỉ đạt xấp xỉ
7%. Nếu cũng so với dự báo của Thống đốc NHNN đưa ra hồi tháng 9 năm ngoái,
với dư nợ tín dụng tăng khoảng 12-14% so với cuối năm 2014 thì có thể thấy
tăng trưởng tín dụng cho năm nay hoàn toàn có thể vượt mức kế hoạch.
Như phân tích ở trên, cung tiền tăng chậm lại trong khi
cầu lại tăng mạnh nên dễ hiểu tại sao mặt bằng lãi suất trong năm 2015, đặc
biệt là mấy tháng gần đây, lại có chiều hướng tăng lên chứ không thể giảm đi
so với năm 2014 (là năm mà tăng trưởng M2 mạnh hơn nhiều so với tăng trưởng tín
dụng).
...Và
tiếp tục lệch trong tương lai gần
Về triển vọng lãi suất trong thời gian tới, đương nhiên là
phụ thuộc phần lớn vào diễn biến tăng trưởng M2 và tăng trưởng tín dụng. (Nói
là “phần lớn” vì còn có thể có thêm yếu tố can thiệp hành chính của NHNN như
quy định hay siết chặt trần lãi suất huy động và/hoặc cho vay).
Trong thời gian tới, cung tiền M2 nhiều khả năng sẽ còn
tăng chậm, chủ yếu là do tỷ giá tiếp tục bị kìm nén. NHNN xem ra rất quyết
liệt trong việc giữ ổn định tỷ giá trong những tháng cuối năm và sang đầu năm
2016, bất chấp khả năng Mỹ sẽ tăng lãi suất hoặc những biến động bất lợi trong
và ngoài nước khác. Để đạt được mục tiêu này, NHNN đã huy động hầu như tất cả
các công cụ và biện pháp có thể, từ các biện pháp kinh tế như thắt chặt hơn
cung tiền đồng, bán ngoại tệ can thiệp đến các biện pháp hành chính như giảm
trần lãi suất huy động đô la Mỹ và thắt chặt điều kiện mua/vay ngoại tệ...
Không gian chính sách còn lại cho NHNN bởi vậy là rất hạn hẹp.
Do đó, việc nới lỏng mạnh cung tiền M2 để giảm áp lực lên
lãi suất là lựa chọn rất khó xảy ra trong chừng mực NHNN vẫn tiếp tục kiên
định với chính sách neo tỷ giá như hiện tại.
Ngược lại, về phía cầu tiền, tín dụng nhiều khả năng tiếp
tục được (cho phép) đẩy mạnh để “thúc” tăng trưởng GDP cao, hơn các năm
trước. Đáng lo ngại hơn, Chính phủ đang phải đối mặt với áp lực huy động vốn
thông qua các kênh vay nợ, mà nếu thực hiện ráo riết thì sẽ gây ra hiệu ứng “cào
bớt” vốn cho khu vực dân doanh, dẫn đến mặt bằng lãi suất trong nền kinh tế
sẽ bị nâng lên.
Nếu Chính phủ phát hành trái phiếu bằng tiền đồng huy động
trong nước, và để thành công, Chính phủ buộc phải tăng lãi suất huy động cao
hơn mức hiện tại, khi đó sẽ gây áp lực tăng mặt bằng lãi suất trong nước.
Giả sử Chính phủ lựa chọn phát hành trái phiếu bằng đô la Mỹ vì cho rằng việc này không làm tăng mặt bằng lãi suất tiền đồng trong nước, Chính phủ sẽ phải bán số đô la Mỹ huy động được này cho hệ thống ngân hàng hoặc (cuối cùng là) NHNN. Nếu NHNN không tung lượng tiền đồng đối ứng ra để thu hút lượng ngoại tệ tăng lên này thì cầu tiền đồng sẽ tăng lên đột ngột trong khi cung tiền đồng không thay đổi, dẫn đến áp lực lãi suất tiền đồng tăng lên.
Không những vậy, tiền đồng lại có xu hướng lên giá so với
đô la Mỹ, gây thêm tác hại cho nền kinh tế thông qua kênh thương mại khi hàng
hóa sản xuất tại Việt Nam càng trở nên kém cạnh tranh hơn so với hàng ngoại.
Ngược lại, nếu NHNN tung tiền đồng ra để mua lại lượng đô
la Mỹ huy động được thì lại gây áp lực lên lạm phát. Hiện tại, lạm phát vẫn
còn đang rất thấp và chưa là mối lo hiện hữu, nhưng nếu các luồng vốn ngoại tệ
(ODA, kiều hối, đầu tư gián tiếp...) tiếp tục đổ vào Việt Nam thì trong tương
lai không xa lạm phát sẽ bùng phát trở lại, tương tự như bối cảnh các năm hậu
WTO. Để giảm thiểu khả năng này, NHNN sẽ phải thận trọng với việc trung hòa
lượng đô la Mỹ chảy vào Việt Nam thông qua tăng cung tiền đồng, tức là giới
hạn khả năng giảm lãi suất tiền đồng.
Điều quan trọng hơn là trong tương lai gần khi lượng trái
phiếu/vay nợ đô la Mỹ này đến hạn thanh toán thì Chính phủ và các con nợ sẽ
phải huy động tiền đồng với lãi suất cao hơn để mua và trả nợ gốc và lãi các khoản
vay đô la Mỹ. Việc này hoặc sẽ làm tăng mặt bằng lãi suất tiền đồng, hoặc sẽ
làm tăng áp lực lên tỷ giá nếu NHNN không bán ngoại tệ can thiệp.
Nếu Chính phủ vay mượn trực tiếp từ NHNN như khoản 30.000
tỉ đồng mới đây, về bản chất là việc NHNN phát hành tiền cho Chính phủ vay,
điều này sẽ làm tăng cung tiền dẫn đến áp lực lên tỷ giá, buộc NHNN phải
trung hòa bằng cách rút bớt tiền đồng từ lưu thông thông qua phát hành tín phiếu
NHNN.
Như vậy, mặt bằng lãi suất sẽ không có điều kiện để giảm
đi từ kênh này của NHNN. Đáng chú ý là khi Chính phủ trả lại khoản vay này
cho NHNN (nếu có) thì Chính phủ lại phải tăng cường huy động, vay mượn đâu đó
ở trong nước để huy động cho đủ số này, nên lúc đó mặt bằng lãi suất lại chịu
áp lực tăng lên.
Tóm lại, có thể kết luận rằng trong bối cảnh có những ràng buộc về tỷ giá và lạm phát thì cung tiền khó có khả năng tăng mạnh trong khi nhu cầu về vốn/tín dụng cho nền kinh tế nói chung và cho Chính phủ nói riêng sẽ gia tăng mạnh, làm cho mặt bằng lãi suất tiền đồng ở Việt Nam sẽ có xu hướng đi lên trong thời gian tới.
(Saigontimes) Phan Minh Ngọc
|
Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét