09:09
|
Ngân hàng đã
giống tiệm cầm đồ
Chúng
ta không lắng nghe DN xem họ cần vay tiền để làm gì, kế hoạch kinh doanh ra
sao mà chỉ nhắm vào tài sản thế chấp. Cách thức hoạt động của NH Việt
Nam rất giống tiệm cầm đồ.
Một phần của nợ
xấu trong hệ thống ngân hàng (NH) hiện nay là không nghiên cứu, không đặt vấn
đề tính khả thi của dự án của doanh nghiệp (DN) lên trên mà chỉ lo giữ tài
sản của DN.
NH không lắng
nghe DN
Có rất nhiều
điểm khác biệt giữa NH ở nước ngoài và NH ở Việt
Chính vì phải
có tài sản thế chấp nên khi DN không trả được nợ thì giá trị tài sản cũng sẽ
được tính bằng tài sản thế chấp. Thông thường NH cho vay khoảng 50%-70% giá
trị tài sản thế chấp. Tuy nhiên, vì giám định không đúng nên số tiền gấp 2,5
lần giá trị thực của tài sản. Cuối cùng tưởng rằng giá trị nợ xấu được
bảo đảm bằng tài sản thế chấp nhưng thực ra giá trị tài sản đã bị định
giá ảo.
Chính vì sự
thiếu chặt chẽ này nên có tình trạng nhiều DN mượn dự án tới vay NH. Khi vay được
vốn rồi họ lại lấy tiền để đầu tư các dự án khác. Vậy nên khi gặp khó khăn,
không kịp trở tay thì DN làm sao có tiền trả nợ.
Tiệm cầm đồ và ngân hàng –
những hình ảnh na ná! Ảnh Internet
Một vấn đề
nữa là vốn của NH có là thực chất hay không? Khi anh có vốn một đồng, rồi anh dùng
tiền đó đi thế chấp vay lung tung thêm một đồng, sau đó lại đem một đồng ấy
về góp vốn… Như vậy thực chất anh chỉ có một đồng nhưng lại sở hữu cùng một
lúc nhiều NH. Chúng ta có những NH là của một nhóm làm chủ sở hữu. Họ không
phục vụ cho nhân dân mà chỉ phục vụ một nhóm cổ đông.
Lãi suất cao,
không cạnh tranh nổi với DN ngoại
Từ lãi suất 7%
những năm 2007, 2008 lãi suất đẩy lên 27%-28% năm 2010. Lãi suất cao như thế
thử hỏi sao DN không chết. Chúng ta đã không kiểm soát được lãi suất ở
mức mà DN có thể hoạt động được. Trong khi lãi suất chúng ta cao
chót vót thì lãi suất của những DN có vốn nước ngoài chỉ 1%. Vậy
làm sao DN trong nước có thể cạnh tranh được với những DN này.
Theo các báo
cáo, xuất khẩu của chúng ta hiện nay vẫn tốt. Nhưng thực chất có
tới 60%-70% số lượng xuất khẩu là của DN nước ngoài. Các DN nội đã
tìm mọi cách để sống sót nhưng không trụ nổi đến mức phải phá
sản. Chúng ta không tính được mức lãi suất phù hợp cho DN tồn tại
là chúng ta bơm vào thị trường này liều thuốc độc, nó hủy diệt sinh
lực đất nước. Với DN lãi suất cao chính là thuốc độc. Từ cuối năm
2010 Thủ tướng cũng đã nhấn mạnh phải đưa lãi suất xuống nhưng
không khả thi. DN chấp nhận vay tạm thời vì anh như người chết đuối
tìm được cái phao, dù thế nào cũng phải bám lấy. Nhưng bám rồi
cũng chết vì kiệt sức và cái chết này thành nợ xấu ở NH. Chừng
nào vấn đề này chưa được giải quyết thì khó mong nền kinh tế khởi
sắc.
Một câu hỏi
khác đặt ra, tại sao vay tín chấp cao, lãi suất thế chấp thấp. Thực tế lãi
suất thấp hay cao không quan trọng mà cái quan trọng là phục vụ gì cho nền
kinh tế. Hoạt động của dự án có tốt không. Ở nước ngoài để tránh
lãi suất cao thì họ có luật. Như ở Mỹ, 50 tiểu bang, bang nào cũng có
luật riêng quy định cấm cho vay nặng lãi. Nghĩa là dù hình thức nào,
tín chấp, thế chấp hay cầm đồ…
Còn ở Pháp
nếu cho vay tới 20%/năm được quy vào cho vay nặng lãi. Dù cho vay với
hình thức nào cũng bị truy tố hình sự.
Không còn vốn
thì phải cho “chết”
Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) nói sẽ không để NH nào phá sản. Nhưng luật ở đâu lại không
cho NH thương mại phá sản. NH thương mại hoạt động theo luật. Nếu anh
không đủ điều kiện thì anh phải ngưng hoạt động. Anh cho vay, anh tạo
nợ xấu thì anh phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Vì nhiều lý
do đó nên chúng ta đứng trước tình thế là không biết thực tế có bao nhiêu
nợ xấu. Lúc thì 10%, rồi 8%, rồi bây giờ 6,8%/tổng dư nợ. NHNN đưa ra
yêu cầu các NH thương mại phải khai báo đầy đủ nợ xấu trước 30-6-2013.
Nhưng sau đó lại đẩy lùi sang 30-6-2014 (Thông tư số 02-2013 của NHNN quy
định về phân loại tài sản có mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi
ro…).
Theo quy định,
nợ được chia thành năm nhóm, nợ nhóm một không phải trích lập dự
phòng rủi ro, nợ nhóm hai trích lập 5% trên số nợ đó; nợ nhóm ba là 20%; nợ
nhóm bốn là 50% và nhóm năm là 100%. Nhưng thực tế có bao nhiêu khoản
nợ được khai đúng. Nên nhiều con số không được đưa ra ánh sáng, làm
như thế có lợi nhuận cao trả cho cổ tức và không phải trích lập dự
phòng rủi ro.
Vì thế chưa
biết số thực của nợ xấu thế nào.
Không có cửa
cho nước ngoài mua nợ xấu
Chúng ta đã
thành lập một công ty mua bán nợ quốc gia (VAMC). Nhưng làm sao ta
quét sạch một đống nợ đó được. VAMC mua nợ rồi tính thế nào. VAMC
mua nợ rồi phát hành và trả bằng trái phiếu đó có thời hạn năm năm
không lãi suất. Bên bán phải trích lập 20% dự phòng hằng năm trong vòng năm
năm. Để sau năm năm sẽ trích đủ và sau năm năm VAMC không bán được sẽ
trả lại toàn bộ cục nợ này. Vậy VAMC giữ đống nợ đó làm gì? Chúng
ta kỳ vọng nhà đầu tư nước ngoài vào mua. Nếu nhà đầu tư nước ngoài
vào mua thì mua thế nào khi hiện nay chưa có giá. Mà chúng ta mua theo giá sổ sách
trong khi nước ngoài quen với việc mua bán trên thị trường rồi.
Giả sử nhà
đầu tư nước ngoài mua nợ xấu và đa số hiện nay nợ xấu của chúng ta
mua là có tài sản đảm bảo bằng bất động sản. Nhưng pháp luật quy
định người nước ngoài không được sở hữu tài sản là đất đai, nhà
cửa. Vậy họ có bỏ ra một đống tiền làm chủ món nợ xấu trong khi
anh không được làm chủ tài sản đó hay không? Thế nên làm sao có
cánh cửa nào cho nhà đầu tư nước ngoài.
(Theo Pháp luật TP HCM) TS
BÙI KIẾN THÀNH
|


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét