Chứng chỉ ngoại ngữ
A, B, C… tụt dốc: Tồn tại hay không tồn tại ?
Cập nhật lúc 07:41
Nhiều nhà
tuyển dụng và quản lý nguồn nhân lực cho rằng đã đến lúc cần “khai tử” hệ
thống chứng
chỉ ngoại ngữ A, B, C vì không thực chất, không đáp ứng yêu cầu
thực tế và xu hướng phát triển của xã hội. Ngược lại cũng có nhiều ý kiến
khẳng định cần duy trì hệ thống chứng chỉ này, nhưng phải có sự điều chỉnh.
Đi ngược xu thế chung
Ông Huỳnh Thế Du, Giám đốc chương trình Thạc sĩ chính sách
công và là giảng viên chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, thẳng thắn
khẳng định: “Việc tiếp tục sử dụng những chứng chỉ ngoại ngữ A, B, C là đi ngược
xu thế phát triển chung. Tôi cho rằng các loại chứng chỉ này hiện đã lỗi
thời, chất lượng không đáng tin cậy, cần phải bỏ hẳn”.
Theo ông Du, thực tế việc học để lấy các chứng chỉ A, B, C
rất dễ. Tuy có học nhưng không ra học, có tổ chức thi nhưng không ra tổ chức thi.
Điều này gây tình trạng tốn kém và lãng phí lớn về nguồn lực, cơ sở vật chất
đổ ra cho các kỳ thi. Đặc biệt, điều nguy hiểm nhất là các loại chứng chỉ
không đánh giá được chất lượng này đã và đang là tiêu chí xét tuyển nguồn
nhân lực một cách không minh bạch. Chính điều đó rất dễ dẫn đến tiêu cực,
trắng đen lẫn lộn, người giỏi cảm thấy không tâm phục khẩu phục do việc đánh
giá nguồn nhân lực không dựa vào thực lực của mỗi người. Trong khi đó, trên
thế giới đã có thước đo, bộ lọc mang tính chuẩn xác cao, đó là những bằng cấp
tiêu chuẩn quốc tế như TOEIC, TOEFL, IELTS... Tại sao chúng ta không sử dụng
những bằng chuẩn này để giảm được tiêu cực bởi bất cứ ai muốn chứng minh
trình độ ngoại ngữ đều phải trải qua gác chắn cơ bản này? Cho dù chi phí để
có được những bằng cấp quốc tế như vậy khá tốn kém, nhưng thà như vậy để
chúng ta có được bộ lọc cực kỳ tốt, chất lượng cao còn hơn là cứ duy trì hệ
thống bằng cấp không giống ai, không thực chất.
Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM bắt đầu áp dụng chuẩn TOEIC với khóa sinh viên năm
2007 thay thế cho hệ thống đánh giá theo chuẩn quốc gia trước đó. Lý giải cho
quá trình thay đổi này, thạc sĩ Trương Tiến Sĩ, Phó trưởng phòng Đào tạo nhận
định: “Chứng chỉ A, B, C không còn đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng,
đặc biệt là trong môi trường quốc tế thường xuyên của lĩnh vực ngân hàng. Vì
vậy, sự thay đổi của nhà trường nhằm phục vụ nhu cầu thực tế của nhà tuyển
dụng, tạo cơ hội tốt nhất để sinh viên tìm được việc làm”.
Trường ĐH Kinh tế TP.HCM hiện yêu cầu sinh viên phải có
chứng chỉ TOEIC 450 - 550 điểm (tùy ngành) mới được tốt nghiệp. Theo thạc sĩ Nguyễn
Văn Đương, Phó trưởng phòng Đào tạo: “Các chứng chỉ A, B, C hiện không còn
phù hợp với thông lệ quốc tế. Nhưng điều đáng nói là trường rất khó trong
khâu xác minh loại chứng chỉ ấy. Do vậy sau này trường chỉ chấp nhận chứng chỉ
được cấp bởi các đơn vị quốc tế được ủy quyền tại VN”.
Cải thiện cách thi cử, giám sát minh
bạch
Ngược lại, tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, Phó giám đốc Trung
tâm bồi dưỡng và hỗ trợ chất lượng giáo dục (Hiệp hội Các trường ĐH, CĐ ngoài
công lập), người nhiều năm là giảng viên tiếng Anh ở các trường ĐH, cho rằng
cần thiết có hệ thống chứng chỉ ngoại ngữ quốc gia. Tuy nhiên, vấn đề là cần
thay đổi để làm cho tốt. Theo bà Phương Anh, nên giao cho tư nhân thực hiện,
còn nhà nước chỉ kiểm tra, giám sát và giải quyết khiếu nại của người sử dụng
dịch vụ. Với cách làm hiện nay, không có phần nghiên cứu kèm theo, cũng không
có giám sát và bảo vệ người tiêu dùng thì theo xu thế tự nhiên, nó sẽ bị đào
thải.
Theo tiến sĩ Phương Anh, các chứng chỉ ngoại ngữ quốc gia
hiện nay giống nhau ở tên gọi, không ai bảo đảm cùng chứng chỉ B được cấp ở
một trường nhưng thi ở những lần khác nhau thì thực sự tương đương nhau. Thậm
chí, nếu là môn thi vấn đáp hoặc viết thì có thể thi cùng một lần nhưng khác
người chấm vẫn không có giá trị tương đương. Trong khi đó, các chứng chỉ quốc
tế được tổ chức chuyên nghiệp, đề thi được xây dựng đúng nguyên tắc khoa học
và đánh giá đo lường. Đặc biệt, các tổ chức khảo thí quốc tế luôn có một bộ
phận hậu trường phân tích độ tương đương của các kỳ thi sao cho giá trị của
một chứng chỉ luôn như nhau dù ở nhiều kỳ thi và thời gian khác nhau. Ngoài
ra, chứng chỉ quốc tế còn gắn với năng lực sử dụng cụ thể.
Tiến sĩ Phương Anh nhấn mạnh: “Đề án ngoại ngữ quốc gia
2020 đang có tham vọng làm ra các kỳ thi được quốc tế công nhận nhưng nếu
không thay đổi cách quản lý thì rồi đâu lại vào đó. Vẫn là các đơn vị công
với cơ chế xin - cho thì chắc chắn sẽ lại trở thành chứng chỉ A, B, C cũ, dù hiện
nay là A, B, C theo chuẩn châu Âu”.
Vốn là một cựu du học sinh tại Mỹ, anh Đào Việt Thắng
(Công ty vexere.com) cho rằng: “Mỗi nước có một hoàn cảnh khác nhau. Tôi nghĩ
rằng, bỏ các chứng chỉ A, B, C là cực đoan. Bởi lẽ chi phí sinh viên bỏ ra để
lấy được những chứng chỉ này thấp hơn nhiều so với chứng chỉ quốc tế”. Theo anh
Thắng, nên duy trì hệ thống chứng chỉ ngoại ngữ A, B, C và quy ra tiêu chuẩn
tương ứng như thế nào với các chứng chỉ quốc tế, đồng thời cải thiện cách thi
cử và có chế độ giám sát minh bạch, chặt chẽ để hạn chế tiêu cực.
(Theo
Thanh niên) Như Lịch - Hà Ánh
|
Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét