09:01
|
Không thể có tự do báo chí không giới
hạn
QĐND - Trong quá trình góp ý xây dựng
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, một số người đòi hỏi Việt Nam phải có
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí “không nhất thiết phải theo quy định của
pháp luật” và tư nhân được quyền ra báo, xuất bản. Đây là kiến nghị không
những không phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế ở Việt
Đừng ảo tưởng về “ tự do báo chí tuyệt đối”! “Tự do báo chí” là vấn đề không mới, nhưng rất nhạy cảm đối với mỗi quốc gia dân tộc. Thời gian gần đây, có một nhóm người đòi hỏi Việt Nam phải có tự do ngôn luận, tự do báo chí không giới hạn, tự do sử dụng internet mà “không cần kiểm soát bởi Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam”. Họ cho rằng, thế mới là một nền “tự do báo chí ưu việt” như các nước phát triển và hơn thế, để Việt Nam không bị xem là “một quốc gia bóp nghẹt tự do báo chí” và là “kẻ thù của internet”(!).
Khi
đưa ra kiến nghị trên đây, hình như các “nhà dân chủ” đang bị “lóa mắt” và
“ảo tưởng” về một “chân trời tự do báo chí tuyệt đối”! Trên thực tế, không có
bất cứ quốc gia nào có nền báo chí tự do tuyệt đối, mà báo chí đều phải tuân
thủ theo những nguyên tắc, luật lệ, chế tài nhất định của luật pháp và chính
quyền. PGS,TS Nguyễn Văn Dững, Trưởng khoa Báo chí (Học viện Báo chí và Tuyên
truyền), người đã dành nhiều thời gian nghiên cứu lịch sử báo chí thế giới,
cho biết: Mỹ là một quốc gia phát triển hàng đầu thế giới, nên một số người
viện dẫn tự do báo chí của quốc gia này như là một mẫu hình lý tưởng. Nhưng
ngay từ khi ra đời, thời kỳ lịch sử nước Mỹ thuộc Anh, báo chí phải được cấp
phép và chịu sự kiểm duyệt gắt gao trước khi xuất bản. Mặc dù Quốc hội Mỹ
không được phép ra văn bản hạn chế tự do báo chí, nhưng kể từ năm 1787 đến
nay, tòa án tối cao và chính quyền các bang của Mỹ đã ban hành hàng trăm văn
bản quy phạm pháp luật làm công cụ điều phối và kiểm soát tự do thông tin.
Mặt khác, báo chí ở Mỹ bị chi phối bởi các tập đoàn truyền thông và quyền lực
chính trị của giai cấp cầm quyền. Thế nên, đừng lầm tưởng và ảo tưởng là Mỹ
có nền báo chí tự do vô hạn độ hay “tự do hoàn hảo”.
Nói
về tự do báo chí “không giới hạn”, không thể không nhắc lại những “vụ điển
hình” làm rúng động dư luận thế giới thời gian qua như: Vụ họa sĩ Đan Mạch vẽ
tranh biếm họa về nhà tiên tri Mô-ha-mét; vụ một mục sư đạo Tin lành Mỹ đòi
đốt kinh Cô-ran; vụ việc lính Mỹ đốt kinh Cô-ran ở Áp-ga-ni-xtan… Những vụ
việc “quá trớn” này đã làm dư luận phản ứng dữ dội, thậm chí có nơi biến
thành bạo loạn xã hội. Nhưng “đình đám nhất” phải kể đến vụ bê bối của tờ
News of the World (Tin thế giới). Tháng 7-2011, tờ báo “lá cải” lớn nhất nước
Anh đã phải đình bản vĩnh viễn sau 168 năm “làm mưa, làm gió” trên thương
trường báo chí quốc tế do nhiều phóng viên bản báo bị cáo buộc là đã nghe lén
điện thoại của hàng nghìn người dân để “săn tin”. Chả thế mà ông Nick Clegg,
đương kim Phó thủ tướng nước Anh từng phải lên tiếng: Báo chí cần tự do để
kiểm soát việc lạm dụng quyền lực của các chính trị gia và của xã hội nói
chung, nhưng báo chí cũng không được phép lạm dụng quyền lực của họ!
Tự do báo chí không phụ thuộc vào “báo
chí tư nhân”
Một
số người “lập luận” rằng, phải cho tư nhân có quyền xuất bản báo, tạp chí thì
mới bảo đảm quyền “tự do báo chí đích thực”. Bởi theo họ, xã hội dân chủ là
một xã hội mà công dân được phép làm tất cả những gì mang lại lợi ích cho họ,
trong đó có quyền được ra báo để có tiếng nói độc lập, có thông tin tự do
hoàn toàn, có quyền “phản biện xã hội” thoải mái… như một số nước phát triển!
Đề
cập đến vấn đề này, ông Lê Văn Nghiêm, Cục trưởng Cục Thông tin đối ngoại (Bộ
Thông tin và Truyền thông), người từng tham gia nhiều cuộc trao đổi, đối
thoại cởi mở, thẳng thắn với một số tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn tìm hiểu
về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam, cho rằng: Nhận định, đánh giá như vậy
là phiến diện, thiếu quan điểm thực tiễn. Vì mỗi đất nước, mỗi quốc gia dân
tộc đều có đặc điểm lịch sử và chế độ chính trị khác nhau. Thực tế ở Việt Nam
không có báo chí tư nhân, nhưng hầu hết các ban, bộ, ngành, đoàn thể từ Trung
ương đến địa phương, các giai cấp, tầng lớp, các hội nghề nghiệp, các tổ chức
phi chính phủ, các giới, các thành phần trong xã hội đều có tờ báo, tạp chí,
bản tin của mình. Mỗi công dân ViệtNam khi tham gia sinh hoạt, hoạt động ở tổ
chức nào thì đều có ấn phẩm báo chí của tổ chức đó bảo đảm quyền được thông
tin của mình.
Cùng
chung quan điểm đó, ông Hà Minh Huệ, Phó chủ tịch Thường trực Hội Nhà báo
Việt Nam, khi trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã khẳng định:
Một nền báo chí có được xem là tự do hay không trước hết phải xuất phát từ
chức năng, nhiệm vụ, bản chất, mục đích hoạt động của nó. Ở Việt Nam, một nền
báo chí có chức năng, mục đích “Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm
diễn đàn thực hiện tự do ngôn luận của các tầng lớp nhân dân” đã được quy
định rõ ràng tại Điều 6, Luật Báo chí năm 1989, không thể nói là nền báo chí
ấy không phải của dân, do dân, vì dân. Vì vậy, Việt Nam không cần báo chí tư
nhân nhưng mọi người dân vẫn được đáp ứng và hưởng thụ nhu cầu thông tin về
tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống, về mọi mặt tình hình của đất nước và thế
giới.
Quyền tự do báo chí phải được bảo đảm
bằng pháp luật
Quyền
tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản của con người
luôn được Đảng, Nhà nước ta xem là một thuộc tính, một bản chất của chế độ
ta. Vì vậy, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Điều 10 đã ghi rõ: “Công
dân Việt
Như
vậy, trên phương diện pháp lý, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ khi ra
đời đến nay đều khẳng định nhất quán, trước sau như một quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của
mọi công dân. Nếu như một số quyền khác của con người được đề cập, bổ sung,
phát triển ở các bản Hiến pháp sau này, thì quyền tự do báo chí đã được Nhà
nước ta thừa nhận, tôn trọng, bảo đảm ngay sau khi chế độ dân chủ và chính
quyền nhân dân được xác lập. Điều này như một minh chứng sinh động để khẳng
định Nhà nước ta từ khi ra đời đến nay chưa bao giờ xem nhẹ hay ngăn cản
quyền tự do báo chí chân chính của nhân dân.
Theo
Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn, việc bảo đảm quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó được gắn liền với
các quy định của pháp luật. Không thể có tự do báo chí trừu tượng, chung
chung và cũng không thể lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận để đi ngược
lại lợi ích quốc gia dân tộc và lợi ích của nhân dân. Nhà báo trước hết là
một công dân. Nếu nhà báo vi phạm pháp luật cũng phải bị xử lý như các công
dân khác phạm pháp. Còn ai cố tình lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận, tự do
báo chí để bày tỏ công khai chống Đảng, Nhà nước, xâm hại lợi ích quốc gia
dân tộc, xâm phạm lợi ích của tổ chức và công dân đều phải bị xử lý nghiêm
minh. Đó là biểu thị sự công bằng, bình đẳng của pháp luật, chứ không phải là
sự “bóp nghẹt tự do báo chí, thủ tiêu tự do ngôn luận” như một số thế lực
phản động và những người thiếu thiện chí từng rêu rao. Điều 2, Luật Báo chí
năm 1989 đã quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện
quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng
vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và
được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở
báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền
tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và
công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”. Điều này cũng
hoàn toàn phù hợp với nội dung “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” (năm 1948)
của Liên hợp quốc đã được khẳng định tại Điều 29: “Mỗi người đều có nghĩa vụ
đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu
những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận
và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi
hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã
hội dân chủ”.
Trong
quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng,
không thể có đổi mới, dân chủ và phát triển nếu không tôn trọng và phát huy
đầy đủ quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của nhân dân. Vì đó không chỉ là
một trong những quyền cơ bản của con người, mà còn là một trong những động
lực quan trọng để mở rộng, phát huy dân chủ-một nguồn lực nội sinh góp phần
thúc đẩy đất nước phát triển bền vững.
(Theo QĐND) THIỆN VĂN
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét