09:40
|
Tự do tôn giáo ở Việt
"Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân
dân", Ðảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi việc thực hiện tự do tôn giáo
là một biểu hiện cụ thể của vấn đề nhân quyền. Trên cơ sở đó hoạch định,
triển khai, thực hiện các chủ trương, chính sách bảo đảm cho mọi công dân
theo tín ngưỡng, tôn giáo được thực hành đức tin, đồng thời đóng góp vào sự
nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc...
1. Từ góc độ văn hóa, có thể coi nhiều tín ngưỡng và
tôn giáo trên thế giới là sản phẩm sáng tạo của loài người. Một số người sáng
lập ra một số tôn giáo được tôn xưng vì họ đã phấn đấu, hy sinh vì hạnh phúc
của con người, hướng tới những giá trị tốt đẹp cho con người. Nhiều giá trị
đạo đức của tôn giáo được đề cao, tiếp thu trong phạm vi rộng vì mang tính
nhân văn, không bị quy định bởi quan điểm "hữu thần" hay "vô
thần", vì rất gần gũi với một số tiêu chí đạo đức mà loài người tiến bộ
hướng tới. Có thể dẫn lời của Fidel Castro để nói rõ hơn: "Chúng tôi có
thể đồng ý với các lời răn của Chúa, vì nó rất giống với chủ trương của chúng
tôi. Nếu giáo hội dạy "Ðừng trộm cắp" thì một trong những đặc tính
cách mạng của chúng tôi là xóa bỏ trộm cắp, biển thủ, hối lộ. Nếu giáo hội
dạy: "Hãy yêu tha nhân như chính mình", thì cũng là điều chúng tôi
khuyến khích. Nếu giáo hội dạy "Ðừng nói dối", thì đó cũng là điều
chúng tôi lên án nhất. Khi giáo hội phổ biến tinh thần hy sinh, khắc khổ và
khiêm tốn thì chúng tôi cũng làm như vậy khi chúng tôi khẳng định nghĩa vụ
của cách mạng là sẵn sàng hy sinh, chịu đựng khắc khổ và lương thiện"
(Fidel Castro và tôn giáo, Ủy ban đoàn kết công giáo yêu nước Việt Nam, TP Hồ
Chí Minh năm 1986, tr.225). Thực tế lịch sử Việt
2. Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn
giáo cùng tồn tại, trong đó có một số tôn giáo du nhập từ bên ngoài như Phật
giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo,... và một số tôn giáo ra đời trong nước
như Cao Ðài, Hòa Hảo... Dù đức tin, sự thờ phụng của đồng bào theo các tôn
giáo khác nhau nhưng cùng có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền
thống yêu nước, truyền thống văn hóa. Yếu tố dân tộc đã "định vị"
trong mỗi người Việt
Sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày
16-3-1955, Quốc hội khóa I thông qua Nghị quyết bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng. Nghị quyết được luật hóa bằng Sắc lệnh số 234/SL do Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký ngày 16-4-1955. Chương 1 Sắc lệnh 234/SL đề cập tới cả ba phương diện
của sự tồn tại tôn giáo trong xã hội: "Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng và tự do thờ cúng, quyền theo hoặc không theo một tôn giáo nào",
"tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo" và "truyền bá tôn
giáo". Các nội dung này hoàn toàn thống nhất với Ðiều 18 trong Tuyên
ngôn toàn thế giới về nhân quyền được Liên hợp quốc thông qua ngày
10-12-1948: "Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn
giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng
như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân
hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực
hành, thờ phụng và áp dụng các nghi thức đạo giáo". Ðồng thời, Ðiều 15
Sắc lệnh 234/SL khẳng định: "Việc tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng là
một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hòa luôn tôn trọng quyền
lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện".
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc
thắng lợi, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, trong các văn
bản có tính pháp lý cao nhất, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đều được khẳng
định trang trọng. Ðiều 70 Hiến pháp năm 1992 đã ghi rõ: "Công dân có
quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các
tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng,
tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn
giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách
của Nhà nước". Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đang được toàn dân
đóng góp ý kiến, còn bổ sung và nhấn mạnh thêm: "Nhà nước tôn trọng và
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo". Cùng với đó là việc Quốc hội
khóa XIII đã quyết định đưa nội dung sửa đổi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội.
3. Cho đến nay, theo thống kê có tới 95%
số dân Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, trong đó hơn 24 triệu người là tín đồ
của các tôn giáo khác nhau (so với khoảng 20 triệu người năm 2009). Cả nước
có khoảng 25.000 cơ sở thờ tự và 45 trường đào tạo chức sắc tôn giáo. Các
hoạt động tôn giáo ở Việt
Như vậy, ai đó nói rằng: Ở Việt Nam "tự do tôn
giáo chỉ có trên giấy tờ" và "không có tính thực tiễn" là
không có cơ sở. Ðó là cái nhìn phiến diện, thiếu khách quan, thiếu thiện chí
đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt
ÐỂ giải quyết các vấn đề tôn giáo, Nhà nước Việt Nam
coi trọng việc thể chế hóa trong công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, phù
hợp với các Công ước và luật pháp quốc tế, phù hợp với thực tiễn của tôn giáo
ở Việt Nam, cũng như tôn trọng quan hệ của các tổ chức tôn giáo trong nước
với các tổ chức tôn giáo thế giới. Quan hệ đang tiến triển tốt đẹp giữa Nhà
nước Việt
(Theo Nhân dân) THIÊN PHƯƠNG
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét