Biên giới tháng 2/1979: Trung Quốc âm mưu dùng
thủ đoạn?
Cập nhật lúc 10:11
Sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam đã cố gắng hết sức để
giữ quan hệ tốt với cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, kiên quyết không để bên nào
lôi kéo đưa ra những phát ngôn làm mất lòng bên kia.
LTS: Mờ sáng 17/2/1979, Trung
Quốc bất ngờ đưa hơn nửa triệu quân cùng hàng nghìn xe tăng, xe cơ giới tràn
qua biên giới Việt Nam, đồng loạt tấn công 6 tỉnh phía Bắc từ Pa Nậm Cúm (Lai
Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) trên chiều dài 1.200 km.
Họ đã vấp phải sự kháng
cự ngoan cường của quân và dân Việt Nam trên toàn tuyến biên biên giới phía
Bắc và buộc phải rút về nước.
Với tinh thần sòng phẳng với
lịch sử, không kích động hận thù, Tuần Việt Nam/Báo VietnamNet xin giới thiệu
cuộc trò chuyện với Nghiên cứu sinh môn Lịch sử Vũ Minh Hoàng, Đại học
Cornell (Hoa Kỳ) về một góc cuộc chiến này. Mời quý vị độc giả theo dõi.
Ông có những suy nghĩ như thế
nào khi nhìn lại cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979?
NCS Vũ Minh Hoàng: Theo tôi,
chiến tranh biên giới phía Bắc và chiến tranh biên giới phía Tây Nam nên được
gọi bao trùm là Chiến tranh Đông Dương thứ ba (với Chiến tranh giành độc lập
là Chiến tranh Đông Dương thứ nhất và Chiến tranh giữa Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và liên minh Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng Hòa là Chiến tranh Đông Dương thứ
hai). Đây là một cuộc chiến tranh vô cùng nhức nhối và phức tạp, có
liên quan cả đến lịch sử sâu xa giữa các dân tộc Trung Quốc – Việt Nam –
Campuchia, đến những biến động chính trị trong khu vực sau Chiến tranh Đông
Dương thứ hai, và đến cả tổng thể Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô, Trung Quốc,
và Hoa Kỳ.
Trong ba cuộc chiến tranh Đông Dương, Chiến tranh Đông Dương thứ
ba có ảnh hưởng trực tiếp nhất và lớn nhất tới sự hình thành của trật tự khu
vực và thực trạng chính trị trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày nay.
Tuy nhiên, do thỏa thuận giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Hội nghị Thành Đô
năm 1990 với mục đích giảm thiểu tối đa tuyên truyền gây ảnh hưởng xấu tới
quan hệ hai nước, hiện tại các nguồn thông tin trong cả hai nước về cuộc
chiến này vẫn chưa được nghiên cứu và tuyên truyền rộng rãi.
Tôi tin rằng chủ ý cho điều khoản này tại Thành Đô là tích cực,
muốn dẹp đi quá khứ đau thương và xây dựng một quan hệ tốt đẹp mới giữa hai
Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc. Nhưng về mặt thực hành thì chủ chương này
vẫn chưa đạt được như cả hai nhà nước mong chờ.
Trong bối cảnh thế giới đã thay đổi rất nhiều, người dân ở cả hai
nước có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin hơn trước, nếu hai Chính phủ muốn đạt
được mục đích của điều khoản này, sẽ phải làm điều trái ngược với chính lời
văn của điều khoản đó, khẩn trương giải mật các tài liệu liên quan đến cuộc
chiến tranh này, để các học giả, quan chức, và dân chúng có thể tự do thảo
luận về lịch sử một cách thẳng thắn, có cơ sở. Đây là cách duy nhất để chúng
ta đạt được mục tiêu chung sống hòa bình giữa hai dân tộc và dẹp tan những
lời xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Tôi nghe nhiều về việc khi ta
vừa mới thống nhất đất nước, vừa mới hoà bình, tức là khi "sức ta cùng,
lực ta kiệt" thì Trung Quốc cắt giảm viện trợ, xúi bẩy Hoa Kiều Việt Nam
hồi hương và thậm chí, đứng sau Khơ-me đỏ tiến hành chiến tranh biên giới
phía Tây Nam, và đỉnh điểm là lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979,
Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm nước ta từ
Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái. Góc nhìn của ông về những chuyện
này như thế nào?
Việc Trung Quốc cắt giảm viện trợ sau khi Việt Nam thống nhất đất
nước là tất nhiên.
Từ cuối thập kỷ 1960, thực lực của Trung Quốc giảm mạnh do Cách
mạng Văn hóa, đã phải rút gần như tất cả dân quân tình nguyện về nước, và
viện trợ đã giảm thêm sau khi Trung Quốc cải thiện quan hệ với Mỹ năm
1971-1972.
Tới năm 1975-76, khi các đoàn Việt Nam sang xin viện trợ, phía Trung
Quốc đã báo là khả năng của Trung Quốc có hạn: thu nhập trung bình ở Việt Nam
lúc đó cao hơn Trung Quốc; Mao Trạch Đông mới mất và Trung Quốc vẫn đang
trong quá trình chấn chỉnh nội bộ sau Cách mạng Văn hóa (mà khi đó chưa chắc
là phe ôn hòa sẽ chiến thắng); và năm 1976 Trung Quốc đã lại gánh phải động
đất ở Đường Sơn khiến hơn 240,000 người thiệt mạng (có những nguồn còn ước
tính tới hơn 700,000 người thiệt mạng).
Cũng có một số quan điểm đã xem hành động cắt giảm viện trợ một
cách vô cùng tiêu cực, là một thủ đoạn ép Việt Nam phải đi theo Trung Quốc và
từ bỏ Liên Xô.
Nhưng trong thực tế, Trung Quốc cắt hoàn toàn sau khi Việt Nam đã
gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA) do Liên Xô dẫn đầu.
Mà suy nghĩ rộng ra sẽ thấy, sau khi ta thống nhất, thì khi đó
nước bạn lại rơi vào khó khăn, lúc đó ta cứ muốn viện trợ nhiều hơn sẽ là
thiếu nhạy cảm và không hợp lý.
Trong các cuộc phỏng vấn sau khi chiến tranh Biên giới tháng
2/1979 đã nổ ra, Đặng Tiểu Bình đã nêu rõ là ngoài lý do chiến lược, ông ta
còn muốn trừng trị Việt Nam vì ghét thái độ. Tôi cho rằng việc Đặng Tiểu Bình
sử dụng vũ lực để gửi thông điệp chính trị là vi phạm luật quốc tế và có tội
đối với nhân dân cả hai nước.
Còn việc họ xúi bẩy Hoa Kiều hồi hương như thế nào thì vẫn chưa
thực sự rõ ràng.
Việt Nam đã đưa ra Sách trắng năm 1979, cáo buộc nhà cầm quyền
Trung Quốc đứng đằng sau một số cá nhân, tổ chức một số cá nhân, tổ chức đã
hô hào xúi giục bà con người Hoa hàng loạt tháo chạy khỏi Việt Nam, nhằm chia
rẽ nội bộ, gây náo loạn, giảm uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Phía Trung
Quốc thì ngược lại, cáo buộc Việt Nam đàn áp người Hoa và ép họ nhập quốc
tịch Việt Nam.
Vì lưu trữ cả hai bên vẫn chưa được bạch hóa, nên tìm hiểu lại
câu chuyện xảy ra như thế nào rất khó khăn. Dựa trên một sổ phỏng vấn và điều
tra lưu trữ, tôi có thể một phần tái tạo lại câu chuyện như sau:
Vì đã đổ nhiều xương máu trường kỳ đấu tranh thống nhất đất nước,
Chính phủ Việt Nam sau năm 1975 đã quyết tâm nhanh chóng hợp hóa miền Nam vào
chế độ Xã hội Chủ nghĩa bằng những biện pháp cứng rắn như cải tạo hàng loạt
và lâu năm với các nhân vật từng làm việc cho chế độ cũ, cải tạo tư sản ở
miền Nam, thống nhất tiền tệ toàn quốc, và đưa tất cả các dân tộc thiểu số
vào quốc tịch Việt Nam.
Tuy là với mục đích xây dựng xã hội chủ nghĩa, thống nhất đất
nước, và không có chủ ý bài Hoa, những chính sách này đã ảnh hưởng đặc biệt
mạnh tới quyền lợi nhất thời của cộng đồng người Hoa, do cộng động này ở Việt
Nam, cũng như ở phần lớn các nước Đông Nam Á, chiếm đa số trong giới thương gia
và nắm một phần lớn năng lực tài chính trong xã hội.
Tâm lý của họ cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi bối cảnh lịch sử của
người Hoa ở Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Qua nhiều thế kỷ, cả
dưới thời thực dân lẫn dưới những chính quyền dân tộc chủ nghĩa, người Hoa ở
Đông Nam Á đã nhiều lần đối mặt với những chính sách bài Hoa, từ những trường
hợp bị phân biệt đối xử trong hệ thống (Việt Nam Cộng hòa, UMNO ở Malaysia)
tới nhiều trường hợp bị diệt chủng (1603 và 1639 ở Manila, 1740 ở Batavia,
1965 ở khắp Indonesia).
Trong bối cảnh đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi số đông cộng
đồng người Hoa hoảng hốt trước những chính sách mới của Chính phủ Việt Nam,
và những tin đồn là mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa chỉ là trá hình cho
biện pháp áp bức người Hoa, không cần Chính phủ Trung Quốc gieo cũng quá dễ
nảy sinh và phát tán một cách hữu cơ trong một cộng đồng đa nghi.
Trong khi vai trò truyền thông của Chính phủ Cộng hòa
Nhân dân Trung Hoa vẫn còn được bàn cãi, thời đó cũng như ngày nay, Bắc Kinh
vẫn luôn trong tình trạng phải đấu tranh với Đài Bắc làm lãnh đạo và nơi
nương tựa của dân Hoa Kiều hải ngoại toàn cầu, nên không thể không phản ứng
mạnh mẽ khi tình hình cộng đồng Hoa Kiều ở Việt Nam trở nên căng thẳng.
Khi mà bối cảnh quan hệ giữa Bắc Kinh và Hà Nội đã xấu đi từ cuối
năm 1977. Lúc đó, hai bên đã có những xung đột biên giới và đàm phán biên
giới bế tắc, và cả hai đã toan nghi ngờ ý đồ của nhau về lập trường chính trị
trên bàn cờ quốc tế, nạn Hoa Kiều dấy lên vào tháng 3/1978 tựa như một que
diêm khai hỏa một thùng thuốc nổ đã có sẵn vậy.
Nhìn lại, Chính phủ Việt Nam đã rất kiên nhẫn khi đợi đến tận
xuân năm 1978 để tiến hành tái cơ cấu kinh tế miền Nam sau khi đã nắm vững
kiểm soát chính trị. Tiếc thay, đó lại chính là thời điểm nhạy cảm về mặt
ngoại giao để tiến hành những chính sách tái cơ cấu kinh tế này, không chỉ
đối với quan hệ Việt-Trung mà cả với đàm phán bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ
và những nỗ lực hội nhập kinh tế khác của Bộ Ngoại giao trong những năm đó.
Việc Trung Quốc đã ủng hộ chế độ Khmer Đỏ là một vết nhọ trong
những trang sử Trung Hoa, cũng như các nước khác, trong đó có các nước ASEAN
và Hoa Kỳ, khi mà họ đã bỏ phiếu cho Khmer Đỏ giữ ghế ở Liên hợp quốc sau khi
chính quyền này bị quân Việt Nam và quân Campuchia yêu nước lật đổ.
Trung Quốc đã ủng hộ nhiều nhất cho chế độ này, trợ cấp gần như
toàn bộ vật liệu công nghệ, vũ khí, lương thực cho chế độ Khmer Đỏ.
Nhưng chúng ta cũng không thể quên rằng chính Việt Nam cũng đã
giúp Khmer Đỏ giành quyền lực, và kể cả sau khi chúng ta biết rõ về tội ác
của chúng, Việt Nam vẫn duy trì viện trợ, đặc biệt là ở hai mảng viễn thông
và y tế, và chỉ dừng lại khi Khmer Đỏ từ chối viện trợ, không cho máy bay chở
thuốc của Bộ Y tế hạ cánh, và cuối cùng tiến hành diệt chủng người gốc Việt ở
Campuchia và khởi chiến trên toàn biên giới Tây Nam.
Còn việc Trung Quốc xúi giục Khmer Đỏ tấn công biên giới Việt Nam
thì tôi và các học giả quốc tế có một số nghiên cứu khác với một số học giả
trong nước.
Những nghiên cứu của các ông
cho thấy những điều gì?
Hai học giả đã từng nghiên cứu ở cả lưu trữ Campuchia lẫn Trung
Quốc là Andrew Mertha (đã từng trong ban hướng dẫn của tôi ở Cornell, hiện ở
Johns Hopkins) và John Ciorciari (Đại học Chicago) đều kết luận rằng ý tưởng
tấn công các nước láng giềng (có cả Lào và Thái Lan) là của nhóm Pol Pot –
Ieng Sary. Trung Quốc đã tiếp tay cho chúng.
Theo Mertha, khi Trung Quốc viện trợ trạm radar tập trung vào
vùng Tây Nam Campuchia nhằm phục vụ mục đích phát triển kinh tế và quốc
phòng, Khmer Đỏ lại quyết xây ở vùng giáp biên giới với Việt Nam, nhằm phục
vụ mục đích xâm lược vào lãnh thổ Việt Nam. Khi Trung Quốc viện trợ một sân
bay muốn đặt trên sông Stung Svey Chek ở mạn Tây Bắc để tránh gây lo ngại cho
Việt Nam, Khmer Đỏ lại kiên quyết xây ở Kampong Chhnang để phục vụ tốt hơn
cho các chiến dịch quân sự ở biên giới với Việt Nam.
Nhà báo Nayan Chanda cũng viết về những chuyến ngoại giao con
thoi của bà Đặng Dĩnh Siêu (phu nhân của Thủ tướng Trung Hoa Chu Ân Lai) tới
Phnom Penh để cố gắng thuyết phục Khmer Đỏ giảng hòa với Việt Nam, nhưng
không ăn thua.
Cá nhân tôi đã nghiên cứu ở Thư viện Tổng thống Carter và Lưu trữ
Quốc gia Hoa Kỳ, tìm được nhiều tài liệu chứng minh là cho tới giữa 1978,
Trung Quốc vẫn ao ước có thể tranh thủ bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ để kéo
Việt Nam khỏi vòng tay Liên Xô.
Tôi không khẳng định được là Trung Quốc đã không xúi giục Khmer
Đỏ xâm chiếm Việt Nam, chỉ nói được rằng trong lưu trữ Khmer Đỏ và Hoa Kỳ đã
được mở không có căn cứ cho lập luận này; và cho tới khi kho lưu Trung Quốc
được mở hoàn toàn; mọi chứng cứ hiện hành cho thấy là Trung Quốc không
thực sự muốn có chiến tranh giữa Khmer Đỏ và Việt Nam, nhưng cũng không kháng
cự và thực sự cố gắng ngăn chặn cuộc chiến tranh này xảy ra khi đồng minh của
mình quyết tâm tham chiến.
Tôi kết luận như vậy không phải là để xá tội cho giới lãnh đạo
Trung Quốc: cho dù khả năng cao là họ đã không trực tiếp xúi giục Khmer Đỏ
tấn công Việt Nam, họ đã tiếp tục trang bị quân sự cho chế độ này một khi
hiểu rõ ý đồ của chúng, và vì vậy phải chịu liên lụy cho những hành động của
chúng, cũng như các nước khác đã tiếp tay Khmer Đỏ cũng đều phải chịu một
phần liên lụy phù hợp với cống hiến của họ cho cuộc cách mạng Khmer Đỏ.
Có quan điểm cho rằng, một
trong những nguyên nhân nổ ra cuộc chiến Biên giới tháng 2 năm 1979 còn liên
quan tới chiến lược của Việt Nam và nhằm phá sự liên kết, đoàn kết giữa Việt
Nam - Liên Xô. Quan điểm của ông như thế nào?
Quan điểm này vừa đúng, vừa sai.
Đúng là vì đó đúng là quan điểm của Trung Quốc, như họ đã nêu rất
rõ ở các kênh báo chí truyền thông đương thời.
Sai là vì Trung Quốc đã hoàn toàn hiểu lầm Việt Nam.
Sau chiến tranh, Việt Nam đã cố gắng hết sức để giữ quan hệ tốt
với cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, kiên quyết không để bên nào lôi kéo đưa ra
những phát ngôn làm mất lòng bên kia.
Liên Xô đã nhiều lần mời Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ
Kinh tế, nhưng Việt Nam vì nể Trung Quốc nên không chịu.
Chỉ tới khi quan hệ Việt-Trung đã xấu đi đáng kể mùa xuân năm
1978, Việt Nam mới gia nhập CMEA vào tháng 6 năm 1978, và chỉ khi Việt Nam đã
không còn đường nào khác ngoài việc phải giải quyết tận gốc đe dọa từ Khmer
Đỏ, mới ký Hiệp ước Hòa bình Hữu nghị với Liên Xô tháng 11 năm 1978, làm một
hình thức quốc phòng.
Theo phỏng vấn của tôi với cựu Phó Thủ tướng Vũ Khoan, lúc đó là
chuyên viên ở Đại sứ quán Việt Nam ở Matxcova, Việt Nam thậm chí còn không
báo trước với Liên Xô khi khởi đầu chiến dịch giải phóng Campuchia ngày 25
tháng 12 năm 1978. Tôi nể phục nhất là các bạn Liên Xô, đã sẵn sàng cam chịu
làm đồng minh với một nước độc lập quyết liệt như Việt Nam.
Liên quan tới chuyến thăm
Trung Quốc của Tống Bí thư Lê Duẩn hồi tháng 9/1975 và năm 1977, hai bên bất
đồng quan điểm trong nhiều vấn đề, đặc biệt là vấn đề biên giới lãnh thổ.
Điều này liên quan thế nào tới quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học” của
ông Đặng Tiểu Bình?
Việt Nam và Trung Quốc vẫn có nhiều bất đồng về biên giới lãnh
thổ, mà tới nay vẫn tồn tại.
Khi Đặng Tiểu Bình sang công du Hoa Kỳ tháng 1 năm 1979 để ký kết
Hiệp định bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ, ông đã trình bày kế hoạch dạy bài
học cho Việt Nam, và quả nhiên là chiến tranh biên giới phía Bắc đã diễn ra
gần như y hệt kế hoạch đó: quân Trung Quốc đã xâm chiếm các tỉnh miền Bắc,
tàn phá cơ sở vật chất, và rút lui trong vòng một tháng.
Bài học Đặng Tiểu Bình muốn dạy Việt Nam là không thể trông cậy
vào Liên Xô được.
Có một bài học ẩn ý mà Trương Tiểu Minh (Air War College) đã
nhấn mạnh, đó là cho Quân đội Nhân dân Trung Quốc, để họ thấy được Cách mạng
Văn hóa đã làm quân đội bị lạc hậu như thế nào, và Đặng Tiểu Bình có thể thay
thế các vị trí quan trọng trong quân đội với những sỹ quan trung thành với
ông ta.
Rõ ràng, Việt Nam đã không học bài học đó. Nhưng vấn đề
tranh chấp lãnh thổ, tuy có là một yếu tố làm xấu đi quan hệ song phương và
dẫn đến chiến tranh, không nằm trong giáo trình của Đặng Tiểu Bình.
Nhìn vào thực tế,
các quốc gia nào có chung đường biên giới thường dễ xảy ra “va
chạm”. Là một nhà nghiên cứu, hẳn ông đã đọc nhiều về bang giao quốc tế,
vậy, ông có gợi ý gì để các quốc gia nhỏ không bị lôi kéo, không bị trở thành
quân cờ trên bàn cờ của các nước lớn?
Tôi không đồng ý với “thực tế” bạn nêu ra về các đường biên giới.
Trên thế giới có rất nhiều đường biên giới, và phần lớn thời gian, gần
như tất cả những đường biên giới này, trong đó bao gồm biên giới Việt-Trung
và Việt Nam-Campuchia hiện nay, là nơi thương mại sầm uất, là cửa giao dịch
hòa bình giữa hai đất nước, hai dân tộc.
Tôi không muốn nói quá khái quát về vấn đề nước nhỏ, nước lớn, và
biên giới hòa bình hay không, vì mỗi trường hợp có những đặc thù riêng, và có
những phức tạp riêng khi phân định, và nhiều hơn nữa khi nói đến gìn giữ hòa
bình.
Hiện tại, tôi tương đối hài lòng với biên giới Việt-Trung trên
đất liền và Vịnh Bắc bộ, vì đã được phân định rõ ràng, và được hai bên tôn
trọng.
Tháng 12 khi về Hà Nội, tôi có dự một buổi tọa đàm của Chương
trình Nghiên cứu Kinh tế Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính
sách (VEPR) về các đề xuất của Trung Quốc cho các khu hợp tác kinh tế qua
biên giới. Diễn giả hôm đó là Phó Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Anh Thu đã chia sẻ
nhiều về việc nhiều quan chức Việt Nam hỏi chị nghiên cứu đề xuất của họ để
làm gì, gạt ngay đi vì lý do an ninh – quốc phòng.
Tôi rất mừng là ở Việt Nam vẫn có những người như chị Thu, không
dễ phật lòng, vẫn tận tụy lên từng tỉnh thành, phỏng vấn, khảo sát các lãnh
đạo, doanh nghiệp địa phương để nắm rõ nhu cầu, mong ước, quan ngại của họ,
và quay lại tham khảo các ý kiến các bộ ngành để trình lên Ban Kinh tế Trung
ương.
Tôi tin là việc gắn bó lợi ích kinh tế hai nước vào thương mại
biên giới là một trong những cách tốt nhất để giữ gìn hòa bình, vì khi đó cả
hai sẽ có ít động lực để cho phép chiến tranh và phá hủy thành quả chung.
Đúng, chúng ta phải cẩn trọng, phải nghiên cứu kỹ lưỡng những cơ
hội và rủi ro trước khi tiến hành, nhưng đừng ngay lập tức dập vùi những động
thái tích cực phía bạn.
Như lời bài hát của ABBA trong bài Happy New Year, tôi mong là
thỉnh thoảng chúng ta đều sẽ có một ước mộng về một thế giới nơi mỗi người
hàng xóm đều là một người bạn.
Chúc mừng năm mới!
Xin cám ơn bạn Vũ Minh Hoàng
đã dành thời gian cho Tuần Việt Nam/Báo VietnamNet.
(Theo VietNamNet) Thu Thủy thực hiện
|
Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019
Thứ Hai, 11 tháng 2, 2019
Chiến tranh xâm lược biên giới, khúc quanh lịch sử
trong quan hệ Việt - Trung
Cập nhật lúc 15:17
Cuộc chiến xâm lược do Trung Quốc phát động đã làm tổn hại
mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân hai nước. Đó là "khúc quanh lịch
sử" trong quan hệ Việt - Trung.
LTS:
Chia sẻ về "khúc quanh lịch sử" trong quan hệ Việt Nam - Trung
Quốc, tác giả Đặng Việt Thủy tiếp tục có bài viết gửi đến độc giả Báo Điện tử
Giáo dục Việt Nam.
Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả bài viết.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng "núi liền núi,
sông liền sông". Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước được hình thành
trong quá trình lịch sử và được củng cố và phát triển khi nhân dân hai nước
thực sự làm chủ vận mệnh của mình.
Trong quá trình
đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đã dày
công vun đắp mối tình hữu nghị Việt - Trung.
Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước đã sát cánh bên nhau, giúp
đỡ lẫn nhau với tinh thần quốc tế cao cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
"Mối tình thắm thiết Việt - Hoa
Vừa là đồng chí, vừa là anh em".
Nhưng trên thực tế, lịch sử có những
bước thăng trầm. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã có lúc đi vào một khúc
quanh nghiêm trọng.
Ngày 17/2/1979,
đánh dấu một "khúc quanh lịch sử" quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Đó
là sự kiện Trung Quốc sử dụng lực lượng lớn quân đội có pháo binh, xe tăng
yểm trợ tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung.
Cuộc chiến tranh biên giới quy mô lớn diễn ra một tháng, thực
chất là một lần "xuất quân lớn" của quân đội Trung Quốc xâm lược
trên toàn tuyến biên giới vào Việt Nam.
Chiến tranh đã làm làm cho mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa
hai nước bị tổn thương nghiêm trọng.
Sách báo phương
Tây gọi sự kiện này là "Anh em đỏ chiến tranh
với nhau" (Thời
báo New York ngày 19/2/1979).
Đối với nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc thì cuộc chiến
tranh là một sự thực đau lòng. Vì sao chiến tranh lại xảy ra?
Ngày 30/4/1975, sau khi giành được thắng lợi hoàn toàn trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam luôn luôn mong muốn xây
dựng đất nước trong hòa bình, song đã phải đối phó với cuộc chiến tranh trên
biên giới Tây Nam do nhà cầm quyền "Cam-pu-chia dân chủ" (Khmer Đỏ)
do Pôn Pốt, Iêng-Xari đứng đầu gây ra.
Cuối năm 1978, đầu năm 1979, sau khi kiên quyết giáng trả hành
động xâm lấn lãnh thổ của quân đội "Cam-pu-chia dân chủ", theo lời
kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, quân tình nguyện
Việt Nam phối hợp với các lực lượng cánh mạng Cam-pu-chia đánh đổ tập đoàn
phản động Pôn Pốt, cứu nhân dân Cam-pu-chia khỏi họa diệt chủng.
Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn giải phóng, nhân dân
Cam-pu-chia thực sự làm chủ vận mệnh của mình.
Hơn một tháng sau, ngày 17/12/1979, hàng chục vạn quân Trung Quốc
đã đồng loạt tiến công vào sáu tỉnh biên giới Bắc Việt Nam, gây ra cuộc chiến
tranh tàn khốc với nhân dân Việt Nam.
Bằng lực lượng lớn, quân Trung Quốc tập trung đánh vào Cao Bằng,
Lạng Sơn, Lào Cai, Phong Thổ (Lai Châu) của Việt Nam.
Trên hướng Lạng Sơn, Trung Quốc dùng Quân đoàn 43, 54, 55 đánh
chiếm Đồng Đăng, Tam Lung, Lộc Bình và thị xã Lạng Sơn.
Trên hướng Cao Bằng, Trung Quốc dùng Quân đoàn 41, 42 đánh chiếm
thị xã Cao Bằng, mỏ thiếc Tĩnh Túc.
Trên hướng Lào Cai, Trung Quốc dùng Quân đoàn 13, 14 đánh chiếm
thị xã Lào Cai, mỏ A-pa-tít Cam Đường.
Trên hướng Phong Thổ (Lai Châu), Trung Quốc dùng Quân đoàn 11
đánh chiếm thị trấn Phong Thổ.
Như vậy, Trung Quốc đã dùng tới chín quân đoàn chủ lực, 2.558
khẩu pháo, 550 xe tăng và xe thiết giáp vào cuộc tiến công Việt Nam.
Ở Cao Bằng, quân Trung Quốc tiến sâu vào đất Việt Nam từ 40 đến
45 ki lô mét. Ở Lạng Sơn, Lào Cai, quân Trung Quốc cũng tiến sâu vào đất Việt
Nam từ 10 đến 15 ki lô mét.
Các hướng tiến công của quân Trung Quốc ngay trong những ngày đầu
đã bị bộ đội địa phương và dân quân, tự vệ Việt Nam chặn đánh.
Lính Trung Quốc sau một trận đánh đẫm máu.
Trong năm ngày (từ 17-21/2/1979), quân và dân Việt Nam đã đánh
thiệt hại nặng 14 tiểu đoàn quân Trung Quốc, bắn cháy và phá hủy 140 xe tăng
và xe bọc thép.
Các trận chiến đấu diễn ra quyết liệt trên hướng Lạng Sơn, Cao
Bằng và Lào Cai. Đặc biệt, các trận chiến đấu ở Đồng Đăng và thị xã Lạng Sơn,
quân Trung Quốc với nhiều trung đoàn bộ binh, có xe tăng và pháo binh yểm
trợ, chia thành nhiều hướng tiến công đồng loạt.
Quân và dân Lạng Sơn đã hiệp đồng chặt
chẽ giữa các lực lượng, kiên quyết ngăn chặn các mũi tiến công của quân Trung
Quốc.
Chỉ trong ba ngày (27, 28/2 và ngày 1/3), quân và dân Lạng Sơn đã
đã đánh thiệt hại nặng và loại khỏi vòng chiến đấu một trung đoàn, ba tiểu
đoàn quân Trung Quốc, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh.
Trước sức tiến công mạnh mẽ của quân và dân ta, trước những tổn
thất lớn và tình hình dư luận thế giới kịch liệt lên án, phản đối cuộc chiến
tranh do Trung Quốc gây ra, ngày 5/3/1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân. Từ
ngày 6/3/1979, phía Trung Quốc bắt đầu vừa đánh vừa rút quân.
Đến ngày 20/3/1979, phần lớn quân Trung Quốc rút về bên kia biên
giới, số còn lại chiếm đóng khu vực mốc 121 ở Cần Yên, mốc 94 ở Trà Lĩnh, mốc
63 ở Trùng Khánh, mốc 121 Thông Nông.
Trên hướng Lạng Sơn, đối phương còn chiếm đóng hai vị trí là điểm
cao 605 giáp Khơ Đa - mốc 15 Đông huyện Văn Lãng và khu vực bình độ 400 huyện
Cao Lộc.
Điều đáng chú ý
là, sau khi tuyên bố rút quân, Trung Quốc vẫn duy trì 12 sư đoàn và hàng chục
trung đoàn độc lập áp sát biên giới Việt Nam, thường xuyên gây tình hình căng
thẳng, tiếp tục lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở mọi quy mô, thực hiện kiểu "chiến tranh phá hoại nhiều mặt".
Cuộc chiến
tranh trên biên giới Việt - Trung diễn ra trong vòng hơn một tháng, được phía
Trung Quốc tuyên bố là đã "dạy cho Việt Nam một
bài học", "đánh sập huyền thoại về tài bách chiến bách thắng của
quân đội Việt Nam".
Nhưng thực tế
thì ngược lại, tờ Nhật báo Phố Wall Mỹ,
số ra ngày 6/3/1979, dưới đầu đề: "Ai cho ai bài học" đã viết:
"Sau khi tính số lỗ lãi của đòn trừng
phạt Việt Nam vừa qua của Trung Quốc, thế giới có thể nhất trí rằng: Trung
Quốc đã phải rút khỏi cuộc chiến tranh với uy tín bị tổn thương và mặt mày
đầy máu me, thương tích...".
Tiến công Việt Nam, Trung Quốc thực sự đã tiến hành một cuộc
"xuất quân lớn" nhằm phá hoại và làm suy yếu Việt Nam, đánh một đòn
nặng vào cơ sở kinh tế, vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam,
làm cho Việt Nam mất thế ổn định.
Hậu quả là nhiều làng mạc, thị xã bị phá trụi, đường giao thông,
các thiết bị sản xuất, các cơ sở y tế, trường học... bị phá hoại không hoạt
động được.
Các thị xã Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai,
Cam Đường bị phá hủy hoàn toàn.
330 làng bản, 735 trường học, 428 bệnh viện và trạm xá, 41 nông
trường, 38 lâm trường, 81 xí nghiệp, hầm mỏ, 80.000 héc-ta lương thực và hoa
màu bị phá hủy.
Khoảng một nửa trong số 3,5 triệu dân ở sáu tỉnh biên giới mất
nhà cửa, hàng nghìn người Việt Nam, trong đó chủ yếu là các cụ già, phụ nữ và
trẻ em bị chết và bị thương...
Ngoài ra, còn có nhiều công trình văn hóa, lịch sử, nhiều nhà bảo
tàng ở các địa phương cũng bị đối phương phá hủy.
Cuộc chiến tranh do Trung Quốc phát động đã làm tổn hại mối quan
hệ truyền thống tốt đẹp giữa nhân dân Việt Nam và Trung Quốc. Đó là một
"khúc quanh lịch sử" trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Cuộc chiến tranh trên biên giới Việt - Trung đã kết thúc. Hòa
bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển đã đến với nhân dân hai nước Việt -
Trung.
Những đau khổ mà nhân dân hai nước phải gánh chịu trong chiến
tranh là bài học xương máu phải được nhận thức đầy đủ.
Nhân dân Việt
Nam và nhân dân Trung Quốc đều không muốn chiến tranh. Người Trung Quốc
thường nói: "Kỷ sở bất dục vật thi ư
nhân" (Cái mà mình không muốn thì đừng gây ra
cho người khác). Quá khứ vẫn là quá khứ, nhưng tương lai luôn ở phía trước.
Tình hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc đang được củng cố và
phát triển. Chúng ta mong rằng với bài học của quá khứ và sự nỗ lực của cả
nhân dân hai nước theo đúng những nguyên tắc, mà lãnh đạo hai Đảng, hai Chính
phủ đã chấp thuận, tình hữu nghị đó sẽ ngày càng phát triển tốt đẹp.
Tài liệu tham khảo:
- Nhiều tác
giả, Sự thật về những lần xuất quân
của Trung Quốc và quan hệ Việt -Trung, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng - 1996.
- Bộ Tư
lệnh Quân khu 1, Lịch sử lực lượng vũ trang Quân
khu 1 (1975-2010),Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội - 2010.
(theo GDVN) ĐẠI TÁ ĐẶNG VIỆT THỦY
|
|
Nghệ An: Phó phòng ngân hàng chém bố
tử vong, mẹ và em gái bị thương
Cập nhật lúc 15:09
Một cán bộ ngân hàng sau khi đi chơi về
bất ngờ dùng dao chém loạn xạ vào người thân, khiến 3 người thân bị thương,
trong đó bố đẻ đã tử vong do
vết thương quá nặng.
![]()
Lực lượng công an đang bảo vệ bên ngoài để cơ quan
chức năng khám nghiện hiện trường vụ án. ẢNH N.PHAN
Sáng
11.2, cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An đang tiến hành khám nghiệm hiện trường để điều tra vụ án mạng nghiêm trọng
xảy ra tại xã Nghi Thạch (huyện Nghi Lộc, Nghệ An), khiến 1 người chết, 2
người bị thương.
Thông
tin ban đầu cho biết, khuya 10.2, Trương Mạnh Tuấn (32 tuổi, phó phòng kinh
doanh của một chi nhánh ngân hàng tại thị xã Cửa Lò, Nghệ An) đi chơi với bạn
bè trở về nhà tại xóm Xuân Sơn (xã Nghi Thạch) rồi bất ngờ cầm dao đâm chém
loạn xạ những người thân trong gia đình.
Phát
hiện chồng có dấu hiệu bất thường nên vợ Tuấn bế con trai 3 tuổi bỏ chạy khỏi
nhà nên thoát nạn. Ba người còn lại gồm ông Trương Cảnh Hữu (67 tuổi, bố đẻ
của Tuấn), mẹ đẻ và em gái Tuấn bị chém trọng thương. Ông Hữu sau đó đã tử vong
do vết thương quá nặng.
Người dân địa phương bàng hoàng trước vụ án mạng bất
ngờ này. ẢNH N.PHAN
Sau
khi gây án, Tuấn lái xe ô tô rời khỏi nhà và chạy được khoảng vài ki lô
mét thì xe đâm vào cột điện bên đường. Tuấn bị công an bắt giữ ngay sau
đó. “Đối tượng có bị ngáo đá hay không vẫn chưa xác định được và cơ quan điều
tra sẽ làm rõ”, Trưởng Công an xã Nghi Thạch cho biết.
Người
dân sống gần nhà Tuấn cho biết, trước khi xảy ra sự việc, Tuấn đi họp lớp với
bạn bè. Thường ngày, Tuấn sống hiền lành, hiếu thảo với bố mẹ và rất thương
vợ con. Sự việc xảy ra quá bất ngờ khiến nhiều người bàng hoàng.
(Theo Thanh
Niên) Khánh Hoan
|
Sân bay
Quốc tế Long Thành: Đội vốn gấp đôi nếu chậm tiến độ
Cập nhật lúc 14:46
Nếu lùi lại 5 năm so với kế hoạch hoàn thành vào năm 2025,
giai đoạn 1 của sân bay Long Thành có thể tăng lên 10 tỉ USD thay vì 5,4 tỉ
USD như dự tính hiện nay.
Bộ GTVT chốt
thiết kế hoa sen cho sân bay Long Thành - Ảnh: ACV
Đây là ý kiến của ông Đỗ Tất Bình - phó tổng
giám đốc Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) - trong cuộc trao đổi
với Tuổi Trẻ.
Ông Bình cho rằng cần phải xác định chủ đầu
tư xây dựng sân bay Long Thành trước khi Đồng Nai giải phóng xong mặt bằng và
báo cáo nghiên cứu khả thi (FS) trình Chính phủ.
Chúng tôi đang xây dựng phương án, quyền quyết định cuối cùng vẫn là Chính phủ. Sau khi Chính phủ thảo luận chọn phương án nào thì ra nghị quyết, chúng tôi sẽ thực hiện phương án đó.
Bộ trưởng NGUYỄN VĂN THỂ
Chủ đầu tư, không ai khác, theo ông Bình,
chính là ACV, đơn vị hiện đang quản lý và khai thác 21 cảng hàng không trong
nước.
Vậy ACV có đủ năng lực tài chính?
"Không đơn vị nào ở Việt Nam có bộ máy có
kinh nghiệm quản lý khai thác 21 cảng hàng
không như ACV và có năng lực tài chính để thực hiện dự án lớn như sân bay
Long Thành" - ông Bình khẳng định.
Vị này cho rằng đầu tư sân bay Long Thành
không giống như sân bay Vân Đồn quy mô nhỏ, tư nhân có thể làm được, nhưng
thừa nhận nếu có tư nhân tham gia thì tiến độ sẽ nhanh hơn.
"Giả sử Nhà nước cho phép ACV áp dụng
cơ chế như đối với tư nhân thì ACV làm nhanh hơn tư nhân nhiều và không bị
ràng buộc bởi quy định quản lý vốn của Nhà nước" - ông Bình nói.
Ông Bình cho rằng việc chậm triển khai đầu
tư xây dựng sân bay Long Thành không chỉ ảnh hưởng đến việc vận chuyển mà còn
có nguy cơ dự án bị đội vốn. Nếu lùi lại 5 năm so với kế hoạch hoàn thành vào
năm 2025, giai đoạn 1 của sân bay Long Thành có thể tăng lên 10 tỉ USD thay
vì 5,4 tỉ USD như dự tính hiện nay.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể cho biết hiện nay
Bộ GTVT và ACV đang phối hợp với UBND tỉnh Đồng Nai giải phóng mặt bằng, cố
gắng hoàn thành khoảng 1.800ha giai đoạn 1 trong năm 2019-2020. Phần mặt bằng
này phần lớn là diện tích trồng cao su và khoảng 200 hộ dân.
Theo ông Thể, tháng 3-2019 sẽ hoàn thành
đánh giá tác động môi trường và đến tháng 6-2019 tư vấn JFC sẽ hoàn thành báo
cáo FS.
"Theo kế hoạch, tháng 10-2019
sẽ trình báo cáo FS lên Quốc hội. Sau khi Quốc hội thông qua sẽ ủy quyền cho
Chính phủ phê duyệt dự án. Sau khi phê duyệt, Bộ GTVT sẽ tổ chức đấu thầu
thiết kế trong năm 2020. Tư vấn sẽ tiến hành khảo sát nhiều thứ để lập hồ sơ
thiết kế kỹ thuật, dự toán trong năm 2020 để đủ các điều kiện khởi công xây
dựng vào năm 2021 nhằm hoàn thành và đưa dự án vào khai thác trong năm
2025" - ông Thể cho biết.
(Theo Tuổi Trẻ) CÔNG TRUNG - TUẤN PHÙNG
|
Minh
bạch thông tin, nhìn từ vụ cướp trạm thu phí Dầu Giây
Cập nhật lúc 10:39
Trong mấy ngày tết, vụ cướp số tiền hơn 2,2 tỷ đồng tại trạm thu phí
Dầu Giây khiến báo chí, mạng xã hội sôi sục. Cho dù sau đó chủ đầu tư - Tổng
công ty Phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) đã lên tiếng, nói rõ số tiền
2,2 tỷ đồng đó là của nhiều ca trực nhưng đâu đó, vẫn còn có những nghi ngờ.
Trước
đó, dư luận trên mạng xã hội (facebook) và một số bài viết trên các báo đã tỏ
ý nghi ngờ, thậm chí có nhiều ý kiến giận dữ cho rằng vụ cướp trên đã làm lộ
sự không trung thực của VEC khi trước đây chỉ công bố doanh thu một ngày
không đạt 1 tỷ đồng. Vậy mà chỉ trong 1 ca mà vào ngày tết, số thu đã trên
2,2 tỷ đồng. Nếu nhân lên 3 ca thì số tiền phí thu được phải đạt 6 -7 tỷ
đồng/ngày (!).
Và
kèm theo đó là đủ thứ suy luận, bình luận rằng, những trạm thu phí như Dầu
Giây là thu cực lớn, là làm ăn gian dối. Tuy nhiên, cũng đã sớm có những ý
kiến nghi ngờ rằng con số thu 2,2 tỷ đồng/ca có lẽ là không chính xác.
VEC
sau đó đã lên tiếng thanh minh, nói rõ đó là con số thu của nhiều ngày bởi vì
mấy ngày tết, ngân hàng không làm việc thì thu được bao nhiêu, để vào két để
sau Tết chuyển vào ngân hàng nên số thu mới nhiều như vậy. Điều này cũng rất
có lý vì đúng là những ngày tết, 100% các ngân hàng nghỉ làm việc và chẳng ai
lại mang số thu kia về nhà riêng vì nó không đúng nguyên tắc.
Mặc
dù vậy, cho đến nay cũng còn nhiều ý kiến nghi ngờ vì dù sao, đó vẫn chỉ là
lời nói của lãnh đạo VEC. Cũng không rõ, nói số thu đó của nhiều ngày là bao
nhiêu ngày? Nếu là 2 ngày thì cũng là con số không hề nhỏ của một trạm thu
phí. Ngoài ra, nếu theo chính con số của VEC mà báo Tuổi trẻ đưa tin ngày
8/2, trung bình một ngày, tuyến cao tốc TPHCM-Long Thành-Dầu Giây, tổng mức
thu phí đạt 3,3-3,4 tỷ đồng. Đây là một con số không hề nhỏ. Và hơn nữa,
người dân đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước phải kiểm tra, xác minh xem
"ông" VEC nói có đúng hay không.
Yêu
cầu làm rõ thông tin từ nguồn thu, lợi nhuận của các chủ đầu tư các trạm thu
phí BOT để bớt đi sự nghi hoặc từ phía người dân là hoàn toàn đúng đắn. Mặc
dù, ở nhiều doanh nghiệp, doanh thu, lợi nhuận...thường được coi giữ kín, có
khi còn được coi là bí mật kinh doanh. Nhưng với những doanh nghiệp là doanh
nghiệp nhà nước hay các công ty cổ phần thì những thông tin đó vẫn phải được
công khai để người dân, để cổ đông giám sát.
Ở
đây, một cơ sở kinh doanh như trạm thu phí là nơi hoạt động của nó ảnh hưởng
trực tiếp đến lợi ích của người dân, là chi phí với nhiều doanh nghiệp khác,
nhất là các doanh nghiệp kinh doanh vận tải thì càng cần phải công khai, minh
bạch.
Đáng
tiếc là trong khoảng một năm nay, thông tin về các hoạt động, kinh doanh của
doanh nghiệp nhất là các chủ đầu tư các trạm thu phí đường bộ BOT rất ít được
công khai. Kiểm toán Nhà nước và Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ Tài chính,
Thanh tra Bộ Giao thông- là những cơ quan thường xuyên đi thanh tra, kiểm tra
các doanh nghiệp nhưng hầu như đã không còn họp báo thường kỳ, hay chí ít là
công bố kết luận thanh tra, kiểm tra của họ trên cổng thông tin, trang web
của các cơ quan này.
Bất
cứ người dân nào cũng có thể dễ dàng vào các trang web của Kiểm toán Nhà nước
hay Thanh tra Chính phủ. Các trang đó đều có mục công khai kết luận kiểm toán
hay công khai kết luận thanh tra. Nhưng rất khó khăn để tìm kiếm kết luận
kiểm tra, thanh tra, kiểm toán nào về các trạm thu phí BOT. Kiểm toán Nhà
nước thì đã rất lâu không công khai kết luận nào chứ đừng nói đến kết luận
kiểm toán một doanh nghiệp BOT dù thực tế, hàng năm, vẫn có nhiều đoàn đi
kiểm toán về vấn đề này.
Thiếu
thông tin chính thống từ các cơ quan nhà nước, người dân lấy gì để tin vào
những tuyên bố, thông báo từ các chủ đầu tư các trạm thu phí BOT, nhất là khi
trên thực tế, đã có những ví dụ cho thấy, có những doanh nghiệp kinh doanh
loại hình này đã báo cáo sai lệch về số thu?.
Do đó, cần có luật quy định buộc các chủ đầu tư BOT phải
thường xuyên công bố, cập nhật thông tin về doanh thu, chi phí và cơ quan nhà
nước phải kiểm tra, xác minh để người dân được biết. Như thế mới tránh được chuyện
có thể có chuyện "hiểu nhầm" về số thu của trạm thu phí BOT như ở trạm
Dầu Giây.
(Theo
Dân Trí) Mạnh Quân
|
Duyệt
vống mức đền bù tại dự án thủy lợi cấp quốc gia
Cập
nhật lúc 10:30
Việc nổ mìn xây dựng kênh thủy lợi Bắc sông Chu - Nam sông Mã gây
lún nứt, hư hỏng nhà dân, các dấu hiệu gian lận trong kiểm đếm, áp giá đền bù
khiến người dân ở Ngọc Lặc (Thanh Hóa) bức xúc gửi đơn khiếu nại…
Nhiều nhà dân bị lún nứt, hư hỏng nặng nhưng mức đền bù chưa thỏa
đáng
Nứt hơn 300 nhà, ba gia
đình được ưu tiên
Dự án đầu tư hệ thống kênh thủy lợi Bắc
sông Chu - Nam sông Mã do Ban quản lý dự án Đầu tư và xây dựng thủy lợi 3 (Bộ
NN&PTNT) làm chủ đầu tư với tổng kinh phí 4.315 tỷ đồng từ vốn vay của
Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Hệ thống công trình được thiết kế với kênh
chính dài 16,510km, kênh chính Bắc dài 58,4998km, kênh chính Nam dài
43,348km. Dự án nhằm phát huy hiệu quả đồng bộ của công trình thủy lợi - thủy
điện Cửa Đạt, khi hoàn thành sẽ chủ động tưới tự chảy cho gần 32.000 ha đất nông
nghiệp của huyện Thọ Xuân, Ngọc Lặc... thuộc tỉnh Thanh Hóa. Công trình
được khởi công vào tháng 3/2015 và đến nay đã đưa vào sử dụng.
Tuy nhiên, theo phản ánh, đơn thư của
người dân gửi đến Tiền Phong, từ tháng 6/2016, nhà thầu thi công kênh Bắc
đoạn chảy qua xã Nguyệt Ấn (huyện Ngọc Lặc) nổ mìn phá đá ngay sát nhà dân,
có đoạn khoảng cách chưa đầy 15m khiến hàng trăm công trình nhà ở của hộ dân
ở các thôn Minh Thạch, Liên Cơ 1, Liên Cơ 2, Liên Cơ 3, làng Nán, làng Tường,
Khe Ba thuộc xã Nguyệt Ấn bị lún nứt, hư hỏng, thậm chí có nguy cơ đổ sập.
Ông Hoàng Đình Hào ở thôn Liên Cơ 1
phản ánh: Gia đình ông và nhiều hộ khác không được đền bù thỏa đáng phần
thiệt hại nhà cửa bị ảnh hưởng từ việc thi công, nổ mìn xây dựng dự án. Không
chỉ vậy, ông Hào và nhiều người dân ở đây bức xúc khi nhận thấy có dấu hiệu
gian lận trong việc kê khai thiệt hại. Trong số 349 hộ dân bị ảnh hưởng có 3
hộ, gồm gia đình ông H.S.S, N.V.Đ và ông Q.T.Đ ở thôn Liên Cơ 1 được đền bù trước
với số tiền 4,7 tỷ đồng, chiếm phân nửa kinh phí dành cho đền bù. Trong khi
đó, hơn 200 hộ dân có nhà cửa thiệt hại, trong đó có nhiều nhà thiệt hại rất
nghiêm trọng nhưng chỉ được áp giá đền bù vài chục triệu đồng, không đủ tiền
sửa chữa. “Nhà ông Q.T.Đ chỉ có hệ thống cửa nhôm kính, nhưng khi kiểm kê và
đền bù lại ghi là cửa gỗ. Tổng số tiền đền bù gia đình ông Đ nhận được lên
tới hơn 2 tỷ đồng”, ông Hào lấy ví dụ.
“Đúng quy trình” nhưng phải thu hồi hàng trăm triệu
Sau nhiều lần UBND huyện Ngọc Lặc cùng
các cơ quan có thẩm quyền tổ chức họp dân, kiểm tra, thống kê thiệt hại để
tiến hành đền bù, nhiều hộ dân vẫn chưa đồng thuận, vì cho rằng không công
bằng, thiếu minh bạch
Ngày 28/12/2018, ông Phạm Tiến Dũng,
Phó Chủ tịch UBND huyện Ngọc Lặc ký văn bản trả lời người dân khẳng định,
việc kiểm kê và lập dự toán đúng quy định. Tuy nhiên, văn bản này cũng thừa
nhận, sau khi thành lập tổ rà soát quy trình kiểm kê, áp giá bồi thường đối
với 3 hộ mà người dân phản ánh ở trên có sai sót dẫn đến phải thu hồi trên
463 triệu đồng.
Trao đổi với phóng viên, ông Lê Văn
Tuấn, Chủ tịch UBND huyện Ngọc Lặc cho biết, cho đến nay đã cơ bản đền bù
xong cho các hộ dân ở xã Nguyệt Ấn. Về dấu hiệu gian lận trong kê khai tài
sản đền bù, ông Tuấn cho biết, do nhà ở nông thôn xây dựng không có thiết kế
cụ thể, dẫn đến việc đo, kiểm đếm sai, nên khi áp giá có “dư ra chút ít”, đã
chỉ đạo thu hồi.
Về trách nhiệm, UBND huyện Ngọc Lặc
đang giao cho phòng Nội vụ kiểm điểm làm rõ trách nhiệm, đề xuất hình thức kỷ
luật đối với từng người vi phạm, khi có kết quả cụ thể sẽ thông báo công khai.
(Theo Tiền Phong) Long Vân - Võ Hóa
|
Chủ Nhật, 10 tháng 2, 2019
Để cao tốc thật sự là
cao tốc
Cập nhật lúc 14:56
Phạt
5,5 triệu đồng, tước bằng lái hai tháng, ấy là trường hợp tài xế ở Thanh Hóa
dừng xe trên cao tốc Nội Bài - Lào Cai mở tiệc ăn uống và livestream trên
mạng xã hội. Mức phạt này liệu có là cảnh báo nghiêm khắc?
![]()
Tài xế dừng xe trên cao tốc và cùng gia đình
ngồi nhậu khiến nhiều người bức xúc - Ảnh: Facebook
Có lẽ là không! Vì
những vụ tai nạn kinh hoàng trên các tuyến đường cao tốc ở Việt Nam trong
thời gian qua xảy ra ngày càng nhiều, nhưng câu chuyện dừng xe rước khách hay
đáng nói hơn là chạy lùi xe trên cao tốc vẫn cứ lặp đi lặp lại.
Mới đây, hồi đầu
tháng 12-2018, một chiếc xe hơi 4 chỗ ngồi chạy lùi trên cao tốc Hà Nội - Hải
Phòng.
Trên cao tốc Hà
Nội - Thái Nguyên, ngày 10-1-2018 là một chiếc xe biển đỏ có hành vi tương tự
và giới tài xế đã mấy phen né tránh khó khăn.
Vụ này xảy ra ngay
sau phiên tòa xử tài xế xe container tông xe hơi 7 chỗ ngồi đang chạy lùi
trên cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên hồi tháng 11-2016 khiến 4 người tử vong.
Việc cho xe chạy
lùi trên cao tốc dường như đang bị xử phạt quá nhẹ, chỉ từ 800.000 đến
1.200.000 đồng, tước giấy phép lái xe 1-3 tháng. Trường hợp gây tai nạn sẽ bị
tước giấy phép lái xe 2-4 tháng. Việc dừng, đậu xe trên cao tốc cũng chỉ bị
xử phạt 5 triệu đến 6 triệu đồng.
Dường như các quy
định pháp luật chưa chạm đến được được khả năng gây nguy hiểm của những
trường hợp này.
Hãy hình dung trên
hai làn xe cao tốc, những chiếc xe chạy vun vút với tốc độ hơn 100km/h, chỉ
cần một chiếc xe khác chạy "thấp tốc" cũng đã gây nên sự khó chịu,
huống hồ chi là dừng lại, hay đáng lên án hơn là chạy lùi.
Một chuyên gia về giao thông đã phải thốt lên: Chạy lùi
xe trên đường cao tốc chẳng khác nào là "khủng bố" vì một khi xảy ra và chạm, hệ quả sẽ là hết sức thảm khốc.
Trên cả nước mới
chỉ có khoảng 870km đường cao tốc đã hoạt động, từ Pháp Vân - Cầu Giẽ, Nội
Bài - Lào Cai, Hà Nội - Hải Phòng, hay Đà Nẵng - Quảng Ngãi, TP.HCM - Trung
Lương…
Khoảng chừng hơn
300km nữa đang xây dựng và hàng trăm cây số khác đang chuẩn bị được đầu tư…
và hàng ngàn kilomet khác đang được quy hoạch…
Khi đường sá tốt
lên, đời sống người dân khấm khá hơn và họ sẽ mua xe nhiều hơn, nhưng cùng
với đó, những người cầm lái cần phải nâng cao ý thức an toàn, không chỉ bảo
vệ bản thân mình, gia đình.
Sự hiểu biết và ý
thức an toàn của những người cầm lái về lưu thông trên đường cao tốc là hết
sức cần thiết. Điều khiển một chiếc xe hơi hoàn toàn khác với xe máy, và chạy
xe trên đường cao tốc hoàn toàn khác với lái xe trên đường làng, hay đô thị.
Nói cách khác, đã
lên cao tốc, thì phải tuân thủ các quy định lái xe an toàn vì chỉ cần một
chút sơ sẩy là có thể gây nên một thảm cảnh.
Đó không chỉ là
vấn đề văn hóa, mà là điều bắt buộc phải làm.
(Theo Tuổi trẻ) HOÀNG PHI
Đây đúng là
một vụ “tự sát tập thể” bất thành. Liệu gia đình này có nghĩ đây là bữa ăn
cuối đời? Không những thế, có thể họ còn mang thêm tai vạ cho người khác.
Thương Giang
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


