Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014

Dũng cảm, chân thành để hóa giải thù hận

Cập nhật lúc 09:45


TP - “Khi tôi đến thắp nhang tại nghĩa trang Biên Hòa, có nhiều người lên án, đòi đưa tôi ra xử lý. Rằng, tại sao một thứ trưởng đương nhiệm, một quan chức cao cấp lại đến thắp hương tại nghĩa trang của quân đội Sài Gòn trước đây. Nhưng nhờ những hành động như vậy mà nhiều người Việt ở hải ngoại chịu gặp, tiếp xúc với tôi”, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở Nước ngoài, chia sẻ với Tiền Phong nhân dịp 30/4/2014.
Thù oán kéo dài làm đất nước yếu đi
Đoàn công tác liên ngành sang Mỹ và Canada do Thứ trưởng dẫn đầu trong tháng 3 gặp một số người chống đối khét tiếng. Xin Thứ trưởng cho biết đoàn đã dùng biện pháp gì để thuyết phục họ?
Những người chúng tôi gặp là những người đứng đầu các phong trào chống Cộng, đặc biệt là ở bang Texas và quận Cam ở phía Nam bang California. Thuyết phục những đối tượng đó phải bằng tình cảm, đôi khi cần cả sự dũng cảm khi phải nói những điều rất thật với họ. 
Họ nói thẳng với tôi rằng họ đã theo dõi quá trình hoạt động từ trước đến nay của tôi, thấy tôi là người có tấm lòng, có sự cởi mở chân thành nên họ mới đến gặp, để xem “sự chân thành của ông ra sao”.
Trong số những người đến gặp đoàn chúng tôi có cả Thượng nghị sĩ Canada gốc Việt Ngô Thanh Hải và nhiều người cầm đầu các phong trào cực đoan chống đối từ nhỏ đến lớn. Người trẻ tuổi nhất trong số họ cũng đã trên dưới 60, đều là những người đã trải qua cuộc chiến tranh trong nước, rồi đi ra nước ngoài đã gần 40 năm.
Họ cảm thấy những hoạt động chống đối không đem lại lợi ích gì nhưng họ vẫn chống đối vì cảm thấy không có bờ bến nào khác để neo đậu. Lâu nay chúng ta vẫn giữ quan điểm cứng rắn. Cả hai bên cứng rắn với một bên chống đến cùng còn một bên dứt khoát không bắt tay, không khoan hồng, không hòa giải nên cứ xa cách nhau mãi, tạo ra sự hận thù kéo dài giữa một bộ phận cộng đồng người Việt ở nước ngoài với trong nước. Đất nước chúng ta đã thống nhất về mặt địa lý, nhưng trong thực tế nơi này nơi kia lòng dân vẫn chia cắt.
Chia cắt của thế hệ những người trực tiếp tham gia chiến tranh ở hai chiến tuyến đối lập nhau còn dễ hiểu, nhưng không nên để những thế hệ sau này, những người không trải qua chiến tranh mà chỉ nghe cha ông mình nói lại rồi vẫn giữ hận thù. Mối thù oán mãi mãi sẽ làm đất nước yếu đi.
Cả hai bên từng cứng rắn, nhưng đã và đang bắt tay nhau. Chúng ta cần chính sách hòa hợp, hòa giải như thế nào, thưa ông?
Đế quốc Mỹ đã gây ra bao đau thương tang tóc cho nhân dân hai miền Nam Bắc. Thế mà đối với Mỹ chúng ta còn khép lại quá khứ, khép lại một trang sử rất đau thương để nhìn về tương lai hòa bình, ổn định và hợp tác. Vậy tại sao không tha thứ, hòa hợp với những người cùng một dân tộc, cùng một đất nước?
Có thời kỳ họ dựa vào đế quốc Mỹ và mong muốn Bắc tiến để thôn tính miền Bắc nhưng không làm được vì chính đồng minh của họ là người Mỹ cũng bỏ họ. Chúng ta phải chiến đấu giải phóng đất nước. Đó là cuộc chiến không mong muốn và chúng ta đã giành thắng lợi cuối cùng vào năm 1975. 
Chúng ta đã thống nhất hai miền Nam Bắc. Những người miền Nam ra đi lúc đó là những người trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Họ ra đi vì họ không hiểu chế độ mới sẽ ra sao, họ nghe quá nhiều những điều tuyên truyền bậy bạ ghê gớm về chủ nghĩa Cộng sản. Họ vì lo sợ mà tự ra đi chứ không ai đuổi họ. 
Vì thế hiện nay mới có cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại, riêng ở Mỹ có hơn 2 triệu người. Trong số đó, đại đa số là bà con yêu nước và đã về nước, còn lại rất ít những người vẫn nuôi tư tưởng hận thù từ năm 1975 đến giờ. 
Bởi vì họ không muốn hiểu về thực tế đất nước và quá nặng với quá khứ. Họ không hiểu thực tế, không hiểu sự chính nghĩa của cuộc chiến tranh mà chúng ta đã giành thắng lợi. Cho nên họ mang nặng sự hằn thù cá nhân, cộng với sự bảo thủ, dẫn đến đối kháng với đất nước.
Chính sách hòa hợp, hòa giải cần bước đi cụ thể, cần tình cảm chân thành dành cho bà con cô bác, những người luôn mặc cảm rằng họ đã mất hết sau cuộc chiến, luôn mặc cảm rằng họ không có đất nước, Tổ quốc Việt Nam nữa bởi vì họ đã phải bỏ Tổ quốc ra đi.
Nếu chúng ta không chủ động hòa giải, không chìa tay, chủ động mở rộng vòng tay với tấm lòng nhân ái thì bà con cô bác vẫn mang tư tưởng mặc cảm, tự ti, đây đó có những người tủi thân vì nghĩ rằng họ bị bỏ rơi, nên càng đi vào con đường cực đoan, sẽ càng bảo thủ, cố chấp hơn nữa.
Thứ trưởng nói rằng, để thể hiện sự chân thành cũng cần lòng dũng cảm lớn. Xin ông nói rõ hơn về điều này?
Nếu chúng ta cũng tự ái, tự thỏa mãn với chiến thắng của mình mà không có những bước đi cởi mở thực sự để hòa giải, hòa hợp thì không bao giờ chữa lành được vết thương chiến tranh trong lòng họ. Sự hận thù, nuối tiếc quá khứ, suy nghĩ lệch lạc về chế độ đương đại ở Việt Nam đã khiến họ càng trở nên cực đoan, bảo thủ.
Một khi họ đã hiểu, đã thay đổi thì ai cũng muốn có cội nguồn, trong sâu thẳm của họ đều có hai chữ Việt Nam. Nhưng để họ trở về như thế nào để họ cảm thấy không tủi thân, không áy náy thì dứt khoát chúng ta phải đặt cho họ nền móng để cho họ trở về với danh dự, với tấm lòng yêu thương đất nước, trở về với mong muốn hòa giải, hòa hợp thực sự.
Nếu chúng ta áp đặt, khiên cưỡng, thì sẽ không khiến họ phục. Chúng ta đã làm được rất nhiều việc, như ở nghĩa trang Biên Hòa. Hiện nay rất nhiều người thiếu thông tin. Vừa rồi tôi phê phán ông Nguyễn Tấn Lạc, Chủ tịch của cái gọi là Hội Cộng đồng Việt-Mỹ Nam California. 
Ông ta không hiểu nên vẫn nói rằng, chúng ta ngăn cấm, cản trở ở nghĩa trang Biên Hòa, nhưng thực tế nghĩa trang này đang trở nên ngày càng khang trang, đẹp đẽ nhờ chúng ta có chính sách cởi mở.
Tôi là một trong những người tiên phong. Khi tôi đến thắp nhang tại nghĩa trang Biên Hòa, đã có nhiều người lên án, đòi đưa tôi ra xử lý, rằng tại sao một thứ trưởng đương nhiệm, một quan chức cao cấp lại đến thắp hương tại nghĩa trang của quân đội chính quyền Sài Gòn trước đây. Nhưng nhờ những hành động như vậy mà nhiều người Việt ở hải ngoại chịu gặp, tiếp xúc với tôi. 
Nếu chúng ta không dám làm những việc dũng cảm mà chỉ nói theo cứng nhắc thì trong nước cũng ít người nghe, chứ không nói đến bà con ở hải ngoại.
Quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo
Theo ông, còn những vấn đề gì mà cộng đồng người Việt ở nước ngoài nói chung, những người còn giữ tư tưởng hận thù nói riêng vẫn quan ngại?


Sức sống Trường Sa

Một trong những vấn đề bà con rất quan tâm, kể cả những người còn giữ tư tưởng hận thù, là quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo của chúng ta. Chính vì vậy, đã ba năm nay chúng tôi tổ chức ba đợt đưa kiều bào ra thăm Trường Sa. Năm nay, chúng tôi muốn có bước đi cụ thể để chứng minh cho bà con cô bác thấy rằng, chúng ta đang mong muốn hòa hợp, hòa giải thực sự. 
Chúng ta mong muốn đánh giá mọi vấn đề một cách khách quan, công bằng, nên chúng tôi đã quyết định lần này sẽ đưa bà con cô bác ra thăm Trường Sa, trong đó chúng tôi đã vận động một số người chống đối quyết liệt để họ ra Trường Sa tận mắt chứng kiến thực tế biển đảo chúng ta đang giữ được, thực tế hằng ngày đang diễn ra trên các hòn đảo thuộc chủ quyền của chúng ta, thực tế quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo đến cùng. Đó là sức mạnh của lực lượng vũ trang chúng ta, là tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh bảo vệ đất nước, biển đảo của Tổ quốc. 
Chúng ta muốn chứng minh cho hơn 4,5 triệu kiều bào rằng, chúng ta đang làm thay họ với niềm tin, quyết tâm chắc chắn là không bao giờ để mất chủ quyền biển đảo. Chúng ta không dâng biển bán đất cho ai, mà chỉ đòi lại những thứ đã bị chiếm giữ trái phép bằng biện pháp hòa bình.


Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn. Ảnh: Trúc Quỳnh

Trong chuyến đi Trường Sa lần này, chúng tôi cũng sẽ có một bước đi rất mạnh dạn là sẽ tổ chức một lễ cầu siêu tại đảo Trường Sa lớn cho những anh hùng liệt sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo, cũng như những sĩ quan, binh lính quân lực Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa năm 1974. 
Họ cũng là con dân Việt sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà tổ tiên để lại từ lâu đời. Chúng ta phải vinh danh, cầu siêu để họ được siêu thoát. Họ cũng như những anh em của chúng ta đã hy sinh ở đảo Gạc Ma năm 1988. 
Tôi cho rằng, đó đều là những sự hy sinh rất xứng đáng vì toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc. Xương thịt họ đã hòa vào biển, trở thành một phần của lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc. 
Chúng ta mang hơi ấm đất liền, mang tình thương của dân tộc để sưởi ấm cả vùng biển đảo Tổ quốc, sưởi ấm cho linh hồn của họ để linh hồn họ được siêu thoát. Chúng ta cầu siêu theo nghi lễ dân tộc, theo tôn giáo từng là quốc giáo của nhiều triều đại.
Lễ cầu siêu lần này còn hướng tới cả đồng bào bị nạn trên biển mà ta từng gọi là thuyền nhân, có thể nói là một dịp chưa từng có. Xin Thứ trưởng cho biết tại sao?
Lễ cầu siêu lần này còn cầu siêu cho cả những anh em, bà con cô bác đã ra đi trong những năm 70, 80 và đầu 90 thế kỷ trước mà chúng ta vẫn quen gọi là “thuyền nhân”. Họ ra đi vì không hiểu chế độ, vì hoàn cảnh khó khăn, vì hoảng loạn tinh thần. Đã có thời kỳ chúng ta coi việc ra đi đó là việc có tội với đất nước. Nhưng thực tế chúng ta phải đánh giá thấu đáo việc họ ra đi. Hầu hết họ ra đi không phải vì hận thù đất nước, mà vì cuộc sống quá khó khăn.


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân với các kiều bào tại chùa Trấn Quốc dịp Tết Ông Công, Ông Táo xuân Giáp Ngọ 2014 (ngày 23/1/2014). Ảnh: TTXVN

Thực tế là đa số bà con ra đi được gọi là “thuyền nhân” và đã thành đạt đều hướng về đất nước. Hầu hết những người ra đi mà chúng tôi gặp ở Canada, Mỹ, Anh, Úc, Bỉ… đều là những người sẵn sàng trở về xây dựng đất nước. Họ không có khái niệm hận thù vì lúc ra đi, họ chỉ muốn thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn.
Tư duy của chúng ta với những người đó bây giờ đã khác. Chúng ta thông cảm, thương họ, đồng cảm với những khó khăn của họ khi phải bươn chải, đương đầu với sóng gió, khắc nghiệt của thiên nhiên, gặp hải tặc, rất nhiều trục trặc trên đường đi khiến nhiều người bỏ mạng, mất cả gia đình.
Đề xuất bỏ những từ ngữ không thích hợp
Đảng và Nhà nước đã xác định cộng đồng người Việt ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của dân tộc, bất kể trước đây họ ra đi vì lý do gì. Vậy đã gần 40 năm sau ngày thống nhất đất nước, những từ ngữ mang tính phân biệt như “ngụy quân, ngụy quyền” có nên được tiếp tục sử dụng trong sách giáo khoa, tài liệu chính thống?
Theo cá nhân tôi thì nên bỏ. Tư duy của chúng ta hiện nay đã khác những năm 70. Việt Nam muốn làm bạn với tất cả thế giới, với các quốc gia khác mà không phân biệt, kỳ thị, huống chi với những người trong cùng dân tộc, một đất nước. Chúng ta đã là những người chủ đất nước với đầy đủ tư cách, chúng ta nhìn nhận quá khứ đúng theo truyền thống của tổ tiên ông bà chúng ta, là bằng đại nghĩa, trí nhân. 
Theo tôi, thay vì những từ ngữ như “bè lũ phản động”, chúng ta nên gọi là họ những người còn có tư tưởng đi ngược lại với lợi ích đất nước hoặc chưa hiểu hết tình hình đất nước; thay vì gọi họ là “ngụy quân, ngụy quyền” chúng ta nên gọi là “những người dưới chế độ cũ” theo đúng bản chất. Chúng ta không nên đẩy họ ra xa mà nên kéo họ lại gần. 
Nếu chúng ta vẫn gọi họ là “bè lũ phản động”, “ngụy quân, ngụy quyền” thì hố ngăn cách sẽ mãi tồn tại, vết thương mãi mãi rỉ máu. Tôi mong muốn tới đây, ngành giáo dục Việt Nam sẽ xem xét, biên soạn lại bộ sách giáo khoa để bỏ những ngôn từ không thích hợp, gây chia rẽ lâu dài, để không còn tư tưởng hận thù chiến tranh trong thế hệ trẻ sau này.
Cảm ơn ông.
Lần này chúng ta mời cả một số người có tư tưởng hận thù, chống đối gay gắt ra thăm Trường Sa. Có phải họ đã tâm phục khẩu phục?
Một trong những thành công của chuyến đi của chúng tôi vừa qua là thuyết phục bằng tình cảm chân thành, bằng bước đi cụ thể cả trong nước và nước ngoài để một số người trở về nhằm kiểm nghiệm một thực tế là chúng ta đang bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. 
Trong chuyến đi lần này, chúng tôi còn mời cả hai phu nhân của Hạm trưởng tàu Nhật Tảo, Trung tá Ngụy Văn Thà (người đã chỉ huy chiến hạm Nhật Tảo bảo vệ Hoàng Sa) và Hạm phó Nguyễn Thành Trí, hai người đã hy sinh ở Hoàng Sa. Chúng tôi mời họ về để họ thắp nén nhang tưởng niệm những người thân, người chồng yêu quý của họ đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa đến cùng. 
Họ có quyền tự hào về những chiến công, thành tích của người thân của mình. Họ cũng sẽ tận mắt chứng kiến tình cảm chân thành, bước đi cụ thể mà chúng tôi đang tiến hành để dẫn tới đích cuối cùng là xóa bỏ hận thù, hòa hợp hòa giải dân tộc, chứ không phải bằng hành động giả tạo hay giáo điều.
Trong đoàn về lần này còn có Thiếu úy Thủy quân lục chiến Nguyễn Ngọc Lập đang ở quận Cam - thủ phủ của những người chống Cộng. Qua ba lần gặp gỡ, tôi đã thuyết phục ông Lập trở về để tận mắt chứng kiến sự đổi thay của đất nước, tận mắt chứng kiến những việc chúng ta đang làm để bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước, trực tiếp cảm nhận tình cảm của nhân dân trong nước sau 39 năm xa cách.
Ông Lập từng là người luôn dẫn đầu trong các phong trào chống Cộng, nhưng cũng là người yêu nước và rất hiểu biết, nên qua những lần tiếp xúc với chúng tôi, nhìn nhận đánh giá những việc chúng tôi đang làm, ông ấy thấy rằng, chúng ta đang làm những việc đúng. Ông ấy đã thấy ân hận, áy náy vì trong thời gian qua đã tham gia vào quá nhiều phong trào chống Cộng cực đoan. 
Tôi cho rằng, ông Lập trở về lần này với tư tưởng thoải mái, cởi mở và đặt hy vọng vào thành công của chính sách đại đoàn kết dân tộc của chúng ta. Ngoài ra, còn có một số nhà báo hoạt động trong các tổ chức chống Cộng, thủ lĩnh của một tổ chức chống Cộng rất mạnh như ông Đức “đầu bạc” ở Texas. 
Trong đoàn về lần này còn có một số người trong gia đình chống Cộng, không mong muốn tiếp xúc với chúng ta, nhưng qua quá trình gặp gỡ, vận động của chúng tôi, họ cảm thấy có niềm tin và mong muốn trở về.

Hòa giải: Câu chuyện có thể có hồi kết

Cập nhật lúc 08:31
 Chúng ta cần thừa nhận những uẩn khúc rất đời - những câu chuyện tí hon mà vì hoàn cảnh chiến tranh đã được hấp thụ vào câu chuyện lịch sử vĩ đại của một dân tộc anh hùng - để mỗi người dù ở phía nào đều thấy chân dung của mình trong đó.
Vài tháng trước một học giả Pháp có tên Francois Guillemot xuất bản một cuốn sách về “phụ nữ Việt Nam trong các cuộc nội chiến".
Ông ta lý luận chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ của Việt Nam là “nội chiến” vì khi đó trong chính nước Việt, giữa người Việt với nhau cũng có nhiều phe phái nổi lên tranh giành quyền lực.
Lý luận đó đã dấy lên một cuộc tranh luận nảy lửa trên diễn đàn Nghiên cứu Việt Nam tại Mỹ về bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ. Như rất nhiều cuộc tranh cãi khác trong giới trí thức về chủ đề này, phần đông sẽ kết luận rằng, việc Mỹ giúp Pháp, rồi dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm và sau đó trực tiếp đổ quân vào Việt Nam là việc làm nếu không được coi là bành trướng đế quốc thì cũng là trái đạo đức. Tuy nhiên, với những tiếng nói ít ỏi vang lên, chẳng hạn như Guillemot, cũng không khỏi khiến ta chạnh lòng suy ngẫm về những gì đã xảy ra trên đất nước Việt Nam  qua bao thập kỷ chiến tranh.

 Hòa giải, hòa hợp, 30/4
Quảng Trị năm 1972, thành phố hoang tàn và đổ nát. Ảnh: Nick Út

Trong bất kì cuộc kháng chiến nào, việc chống can thiệp của nước ngoài, ở bất kì nơi đâu không riêng gì Việt Nam, đều có yếu tố nội bộ.  Thứ nhất là bao giờ cũng có những kẻ đầu cơ trục lợi, giặc chưa đến đã hàng, không những đầu hàng mà còn giúp ngoại bang bóc lột chính dân mình, miễn sao vinh thân phì gia. Số này sẽ chống lại bất kì người bản xứ nào muốn đứng lên.
Trong số những người còn lại thì hầu như bất kỳ ai khi đứng trước sự an nguy của đất nước, của gia đình và bản thân cũng đều sẽ đặt ra câu hỏi, “theo ai, làm gì, như thế nào.” Dù ta có muốn tin rằng mỗi người Việt là một cấu thành tuyệt đối của tổ quốc Việt Nam thiêng liêng và sẵn sàng hi sinh đến giọt máu cuối cùng để chống lại sự đô hộ của nước ngoài, trong thực tế mỗi người Việt khi quyết định tham gia (hay không tham gia) vào cuộc kháng chiến chống Mỹ đều đã đắn đo hết những thiệt hơn, hết lẽ phải trái, giữa cái chung và cái  riêng. Đó cũng là lẽ thường. Con người mà.
Nhưng chiến tranh càng kéo dài, càng khốc liệt thì lựa chọn của con người ta càng bị thu hẹp khi mà “đứng giữa” trở thành tiêu chí xa xỉ, khi  cuộc sống được quy nạp chỉ còn hai tiêu chí  "bên này – bên kia”. Tính chất của cuộc chiến, một bên là cường quốc số 1 thế giới về mọi mặt chống lại một bên là nước nhỏ và nghèo, khiến cho việc tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc trở thành một khối vững chắc là điều tối cần, càng làm cho lằn ranh giữa tốt (nghĩa là theo ta) và xấu (theo địch) trở nên rõ ràng hơn.
Có điều khi chiến tranh đã kết thúc thì hệ thống “phân loại nhị phân” kiểu này đã không còn thích hợp để nói lên tính đa dạng và nhiều trắc ẩn của cuộc kháng chiến cũng như của từng con người đã phải sống trong thời “nồi da xáo thịt” đó, đặc biệt càng không giúp ích gì cho việc hàn gắn vết thương chiến tranh mà dân ta đã phải chịu đựng cả thế kỉ qua (nếu tính từ những cuộc khởi nghĩa từng vùng/miền chống Pháp từ đầu thế kỉ 20).

Hòa giải, hòa hợp, 30/4
Sông Sài Gòn nhìn từ trên cao. Ảnh: Theo Facebooker: asiaflycam

Trong một cuộc thảo luận gần đây tại Trung tâm Wilson (thủ đô Washington) về việc chính phủ Mỹ sử dụng các bài học rút ra từ chiến tranh Việt Nam trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại, một phụ nữ Mỹ gốc Việt run giọng (không rõ vì xúc động hay vì cáu giận) nhắc đi nhắc lại một câu “nước Mỹ không thua Cộng Sản, Nixon có thể tiếp tục cuộc chiến nhưng quyết định bỏ rơi đồng minh (Sài Gòn)…” tới mức chủ tọa phải ngắt lời và yêu cầu bà ngồi xuống. Với những người như bà, những người cho rằng việc Mỹ nên tiến hành chiến tranh ở Việt Nam dù với bất kỳ tên gọi gì hoặc thủ đoạn nào, thì việc hòa giải hòa hợp là điều bất khả thi.
Cụm từ “Hòa giải” chính nó đã mang nghĩa “hai phía”. Ta không thể vì mục đích hòa giải mà chấp nhận xuyên tạc tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến vì mục tiêu thống nhất đất nước.
Tuy nhiên chính ta cũng phải thừa nhận đã có những bước đi không sáng suốt khiến cho việc hòa giải thời kỳ đầu đã trở thêm khó khăn.. 
Nếu tỉnh táo nhìn nhận thì ta phải thấy trong số những người ở lại một phần là do không di tản kịp nhưng có rất nhiều người ở lại là do họ  hi vọng vào sự khoan hồng của chính quyền mới. Chính sách cải tạo đã đẩy những con người này từ chỗ muốn hoàn lương sang chỗ cay đắng, và từ đó gia đình họ dù ở nước ngoài hay ở Việt Nam đều mang ấn tượng rất xấu.
Tai hại hơn, họ và những người vượt biên những năm 70, 80 trở thành phương tiện truyền thông (tích cực) về hình ảnh (tiêu cực) của Việt Nam đối với thế giới bên ngoài, đặc biệt là ở Mỹ. Ai đã làm việc với chính phủ Mỹ để xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, bình thường hóa quan hệ hai nước, hoặc tăng cường hợp tác… đều hiểu rất rõ rằng những người Việt tị nạn sang Mỹ sau năm 1975 đóng một vai trò vô cùng lớn trong việc vận động hành lang nhằm phá cho bằng được bất kì động thái nào giữa hai nước tiến tới một mối quan hệ hữu nghị.
Còn những thế hệ sau, sinh ra ở Mỹ, thì hoặc là hoàn toàn mù mờ về gốc gác Việt hoặc nếu có quan tâm thì cũng mang những mặc cảm nặng nề. Về mặt tinh thần, rõ ràng không ai được lợi từ việc mỗi người hay cả dân tộc đeo đẳng sự hận thù, cay đắng.
Về mặt chính trị, ta cũng không có lợi khi mà hàng trăm nghìn người Mỹ gốc Việt – trong con mắt người Mỹ thì họ là đại diện “xác thực” nhất cho hai chữ “Việt Nam” – lại chỉ có những hành động và lời nói đầy kỳ thị về nước Việt.
Về mặt kinh tế ta càng không được lợi lộc gì. Theo nghiên cứu của các nhà xã hội học, người tị nạn/nhập cư, dù xuất phát từ bất kì quốc gia nào, đều là nhóm năng động và có khả năng thích nghi cao hơn so với mặt bằng dân số của nước đó. Điều này càng đúng với cộng đồng người Việt tại Mỹ, phần lớn đều thành công. Một lượng lớn tài năng và chất xám của con người Việt thể hiện ở những nhà khoa học và kinh tế học, những bác sỹ, kỹ sư người Mỹ gốc Việt đang ở lại phục vụ nước Mỹ, hoặc liên kết hợp tác với… nước khác chứ không phải Việt Nam. Thật đáng tiếc.
Còn ở trong nước, việc hàn gắn vết thương chiến tranh càng cần thiết. Không phải tẩy trắng lịch sử mà phải vẽ một bức tranh không chỉ có hai màu trắng và đen về cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Chúng ta cần thừa nhận những uẩn khúc rất đời - những câu chuyện tí hon mà vì hoàn cảnh chiến tranh đã được hấp thụ vào câu chuyện lịch sử vĩ đại của một dân tộc anh hùng - để mỗi người dù ở phía nào đều thấy chân dung của mình trong đó. Dân tộc ta giỏi đánh giặc nhưng cũng đầy lòng bao dung.
Ta đã có tự do, hòa bình, ta đã đổ quá nhiều xương máu để giành được điều đó. Không có lý gì mỗi chúng ta không thể nắm lấy tay những người Việt thiện chí khác để cùng nhau xây dựng một trang sử mới cho dân tộc.
Minh Nguyệt (Từ Mỹ)
 Ống dẫn nước công nghệ Tàu:

Thủng lương tâm, vỡ trách nhiệm?
Cập nhật lúc 08:00
                
(Tin tức thời sự) - Người dân Việt Nam đang tỏ ra bất bình về chất lượng công trình đường ống dẫn nước sạch sông Đà và trách nhiệm của những nhà quản lý.

Sáng ngày 29/4/2014, báo Đất Việt đăng tải bài viết “Đường ống nước bị vỡ 6 lần: Lý giải công nghệ Trung Quốc!?” Theo thông tin từ bài viết này, phóng viên đã tìm hiểu được ống cống bị vỡ nhiều lần trong thời gian qua của dự án Hệ thống cấp nước sạch sông Đà – Hà Nội được làm bằng công nghê composite cốt sợi thủy tinh. Và công nghệ này do được Trung Quốc chuyển giao cho Việt Nam.
Sau khi bài viết được đang tải, rất nhiều phản hồi của độc giả đã được gửi về, bày tỏ sự lo lắng cho chất lượng công trình, và cũng như cho chính chất lượng cuộc sống của họ. Và người dân cũng bày tỏ sự bất bình về các cơ quan hữu trách, đến bao giờ mới có lời xin lỗi, đến bao giờ mới hết sự phụ thuộc vào Trung Quốc.
Công nghệ Trung Quốc: Vẫn chưa sáng mắt
Độc giả Thanh Bình nhận định: “Đây mới đúng là nguyên nhân ống bị vỡ. Các nhà đầu tư chỉ muốn bỏ túi nhiều mà quên đi lợi ích người dân”.
“Công nghệ trung quốc biết là lạc hậu, chất lượng kém nhưng vẫn cố đấm ăn xôi để mang về lắp đặt, đất nước cứ mãi vẫn ở vòng luôn hồi lạc hậu nghèo nàn không thể bứt phá nếu cứ dùng hàng Trung Quốc kém chất lượng thế này.” – Đó là ý kiến nhận định của bạn đọc Nguyễn Văn Hùng.
Bạn đọc Trần Ai tỏ ra lo lắng về chất lượng của những sản phẩm của Trung Quốc: “Vỡ đường ống không thôi còn là may chán. Tôi còn lo lắng liệu chất lượng nước qua ống có bị ảnh hưởng bởi hóa chất độc hại không?”
 Ống cống composite cốt sợi thủy tinh nằm la liệt trong sân kho bãi của nhà máy thuộc Vinaconex
Ống cống composite cốt sợi thủy tinh nằm la liệt trong sân kho bãi của nhà máy thuộc Vinaconex
Độc giả ký danh GDTT đặt ra thắc mắc: “Tôi thấy nghịch lý... Trung Quốc đang đi học, mua công nghệ các nước tư bản để họ phát triển... còn Việt Nam thì sao? Chúng ta luôn học, mua công nghệ Trung Quốc, đó là điều làm chúng ta lạc hậu, tiêu tốn kinh tế... nên đất nước không thể là Nhật Bản hay Hàn Quốc,.. buồn!”
Còn lý giải cho việc vì sao Việt Nam luôn gắn với công nghệ Trung Quốc, bạn đọc Văn Trung nhận định: “Người Trung Quốc được cái bán hàng nhanh và giá rẻ. Hơn nữa Hàng Trung Quốc rẻ mà "lại quả" cao”
Vẫn là dấu hỏi cho trách nhiệm
Bạn đọc Nguyễn Văn Pha than thở: “Dạo này vỡ, thủng nhiều công trình quá, tất cả đều giải thích do nguyên nhân khách quan nhưng nguyên nhân chủ quan là gì nhỉ? Có phải do thủng lương tâm, vỡ trách nhiệm không?”
Độc giả ký tên Dũngxhn nhìn nhận: “Điều dở nhất là đơn vị sản xuất và thi công đều thuộc Vinaconex, mà Vinaconex không thể tìm ra nguyên nhân gốc và khắc phục ... 6 lần lặp đi lặp lại, điều then chốt là phải tìm ra nguyên nhân gốc, và có biện pháp khắc phục chính xác, ... Hay nguyên nhân gốc đã tìm ra rồi, nhưng không muốn khắc phục vì tốn kém, nên để cho xã hội gánh?”
Bạn đọc X.Hà chia sẻ: “Nói là ống composite có đường kính lớn mua của Trung Quốc là chính xác, còn công nghệ công nghệ dẫn nước tự chảy của TQ là chưa chuẩn. Nhớ lại rằng: nhà máy nước tự chảy Sông Đà xong đã lâu, nhưng lại chưa có ống dẫn về HN. Và rồi họ tìm ra ống composite giá rẻ của Trung Quốc, và các ông lại cho là cứu cánh với nhà máy nước Sông Đà. Từ đó, bán được nước sạch cho HN... Nguyên nhân, trách nhiệm cũng là từ đây...”
 Sửa chữa ống nước sạch sông Đà
Sửa chữa ống nước sạch sông Đà
Độc giả tên Thanh chỉ trích: “Hàng triệu dân HN lại cam chịu cách giải thích quen quen theo kiểu chờ xem kết luận và xin ý kiến. Nên sòng phẳng thông tin và chịu trách nhiệm đi đến cùng”.
Khoa học, công nghệ Việt Nam đang ở đâu?
Song song với những chỉ trích về vấn đề chất lượng công trình và bài học với Trung Quốc, những thắc mắc của độc giả về nền công nghệ khoa học của Việt Nam cũng khiến ngao ngán, đau lòng.
Độc giả ký danh Tong Thong đặt câu hỏi:”Sao không dùng công nghệ Việt Nam đi?”
Độc giả ký danh “thac mac” cũng nêu ra quan điểm của mình: “6 lần vỡ ống, sao không thử hỏi ngay lại cái chất lượng của Cúp vàng chất lượng xây dựng?”
Còn độc giả ký tên Yeu Viet thắc mắc: “Những dự án này hoàn toàn Việt Nam có thể đảm nhận sao lại phải để Trung Quốc làm nhỉ?! Khó đến thế cơ à?!
(Theo Đất Việt) Đỗ Phong
Kỷ niệm đại lễ 30.4:

Hòa hợp - hòa giải cần đôi mắt mới

Cập nhật lúc 07:41                 

(TNO) Thời điểm để đặt ra câu chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc đã trôi qua từ lâu. Vấn đề này hiện nay cần được nhìn nhận dưới những góc độ khác. Nhận định này được Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, nhà ngoại giao lão thành, nguyên thành viên đoàn đàm phán Hiệp định Paris 1973 chia sẻ với Thanh Niên Online. 


Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh - Ảnh: Trường Sơn
Ông Huỳnh lý giải: Lúc đầu đàm phán Paris, tư tưởng của ta là giành thắng lợi, buộc Mỹ rút, lập chính phủ liên hiệp và sau đó chính phủ sẽ đoàn kết toàn dân. Điều này có nghĩa là toàn dân Việt Nam dù phe này phe kia, tập hợp ba lực lượng: lực lượng cách mạng, lực lượng đối địch, lực lượng thứ ba cũng sẽ đoàn kết lại dưới sự lãnh đạo của chính phủ liên hiệp. Lúc đó chưa có khái niệm hòa hợp dân tộc.
Nhưng trong quá trình đàm phán và chiến đấu ta thấy đánh Mỹ khó, đánh thắng Mỹ lại càng khó. Ta đánh lâu dài thì Mỹ cũng có khả năng đánh lâu dài. Lúc đầu mình tính chính phủ liên hiệp nhưng sau sự kiện Mậu Thân 1968 và sau đó năm 1972, ta không có những thắng lợi quyết định.
Vậy phải tính thế nào? Năm 1972 ta mới đề ra đường lối tìm cách mở đường cho Mỹ rút. Ta mới đưa ra khẩu hiệu là “Mỹ rút, Sài Gòn còn, miền Nam giữ nguyên trạng”. Để liên kết các lực lượng miền Nam thì đặt ra vấn đề hòa hợp dân tộc.



 “Lấy lợi ích dân tộc đặt lên trên hết. Bất cứ thời đại hoàn cảnh nào thì lợi ích dân tộc vẫn là cao hơn cả, có sức mạnh hơn cả”


Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh

Vấn đề ấy được đặt ra trong lúc ta tính tới phương án giữ nguyên trạng miền Nam. Vì vậy ta đưa vào dự thảo Hiệp định và bàn kỹ vấn đề hòa hợp dân tộc.
Lúc đầu ta gọi là chính phủ liên hiệp ba thành phần. Chính phủ Mỹ không chấp nhận được vì chính phủ mới có nghĩa là thủ tiêu Sài Gòn. Ta mới hạ thấp xuống là “một chính quyền hòa hợp dân tộc”, gần gần với lập trường của Mỹ. Mỹ đề xuất một “body” - một tổ chức để tổng tuyển cử.
Mỹ dùng chữ “body” thì mình cũng dịu bớt đi, đề xuất là trong lúc chính quyền hai bên tồn tại, thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc để tiến tới tổ chức tổng tuyển cử thành lập chính quyền (đưa thêm khái niệm hòa giải, vì là hai kẻ địch.)
Nhưng Mỹ không chấp nhận chữ “chính quyền”. Chữ “chính quyền” có gì đó mang ý nghĩa thủ tiêu Sài Gòn. Vì thắng lợi của mình năm 1972 cũng có mức độ thôi, chưa thể lấn át Mỹ được, nên ta lấy yêu cầu Mỹ rút là chính. Mỹ nhận rút và quân miền Nam ở lại là đạt yêu cầu cao nhất rồi, ta mới chấp nhận thành lập một hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc. Hiệp định có điều khoản thành lập một hội đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc để tổ chức tổng tuyển cử và đôn đốc thi hành Hiệp định.
Lúc đó hình thành khái niệm hòa giải hòa hợp dân tộc.
Đấy là quá trình đàm phán đi đến hòa giải hòa hợp dân tộc. Ta thấy không có con đường nào khác cả. Bởi vì chúng ta thắng thế nào thì Sài Gòn cũng vẫn sẽ còn. Dù lập chính phủ hai thành phần, ba thành phần hay giữ nguyên trạng thì cũng vẫn phải có hòa giải, hòa hợp. Không có cách nào khác. Không có bên nào thắng bên nào. Thực tế miền Nam có ba lực lượng, hai chính quyền thì phải giải quyết với nhau như vậy.
Nhờ những sách lược mềm dẻo của ta, mà trong đó có việc tạm gác vấn đề xóa Sài Gòn, thực hiện một hình thức hòa giải, hòa hợp dân tộc mà tổ chức ấy chỉ là hội đồng thôi chứ không phải chính quyền, chính phủ gì nên Mỹ chấp nhận.
Nhờ đó mà ký được Hiệp định. Hiệp định Paris là gì? Là một hình thức thỏa hiệp giữa Việt Nam trên đường thắng lợi với Mỹ tuy thua nhưng vẫn đang còn mạnh và chính quyền Sài Gòn còn là một thực thể. Hiệp định Paris là một sự thỏa hiệp “phải chăng”. Vì vậy 4 bên chấp nhận được, Việt Nam chấp nhận được, Mỹ cũng chấp nhận được mở đường cho Mỹ rút, Sài Gòn cũng chấp nhận được.


Bà con Việt kiều về Việt Nam ăn Tết: Nụ cười đoàn viên... - Ảnh: Độc Lập
* Thanh Niên Online: Sau ngày 30.4.1975 vấn đề hòa giải dân tộc đã được thực hiện như thế nào? Có điều gì chúng ta đã làm được và chưa làm được?
- Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh: Ta đã chân thành đấu tranh thi hành Hiệp định Paris 1973, thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc. Ta đã làm việc rất tích cực với các lực lượng thứ ba. Nhưng kết quả rất hạn chế. Ngay đêm Hiệp định có hiệu lực (27.1.1973), chính quyền Thiệu đã cho chiếm Cửa Việt, sau đó ta phản kích lấy lại. Có thể nói là không có lấy một ngày hòa bình. Đã không có hòa bình thì không có điều kiện cho hòa hợp.
Nhưng sau khi ta thắng lợi giải phóng miền Nam thì vấn đề hòa hợp trở thành vấn đề lớn. Thậm chí là cực kỳ lớn.
Nhưng khi ta thắng lợi rồi thì chính sách hòa hợp dân tộc thực hiện được bộ phận thôi chứ chưa được rộng rãi và có kết quả. Phải thẳng thắn nhìn nhận là nhiều chính sách của ta sau giải phóng khá nặng nề với sĩ quan, binh lính chế độ cũ cũng như gia đình họ. Rồi chuyện báo chí Sài Gòn bị đóng cửa hầu hết, tất cả hoạt động kinh doanh của miền Nam bị hạn chế... Sau đó là hợp tác hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến chuyện hàng chục vạn người bỏ nước ra đi, thành phong trào “thuyền nhân”. Đó là một trang sử đau thương, đen tối của chúng ta. 
Khi tôi sang dự một hội thảo liên quan đến chiến tranh Việt Nam tại ĐH Brown (Mỹ), ban tổ chức có bố trí một chương trình giao lưu với các giáo sư và khoảng 1.000 sinh viên. Tôi nhận được vài chục câu hỏi trong đó có câu hỏi liên quan đến vấn đề này. Một sinh viên hỏi: Thưa ngài đại sứ, Việt Nam đã chiến thắng Mỹ, các ngài coi là “giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc” nhưng tại sao lại có chuyện hàng triệu người bỏ nước ra đi?


Nhóm thứ nhất là cộng đồng những người Việt mà ta gọi là “người Việt yêu nước”. Theo tôi cái chữ ấy nên bỏ đi, không ai lại phân biệt bằng khái niệm “yêu nước” với “không yêu nước”. Lấy gì để xác định yêu nước? Nên nhìn họ như những Việt kiều có quan niệm thuận với trong nước. 

Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh

Tôi đã trả lời thế này: Đó là chuyện rất đáng tiếc. Về nguyên nhân thì thứ nhất là trong suốt thời gian chiến tranh, quân đội, các nhà chức trách Mỹ cũng như chính quyền Sài Gòn qua mấy đời tổng thống đều tuyên truyền nếu Việt Cộng về sẽ có nạn tắm máu. Sau 30.4.1975 nhiều người đã lo lắng chuyện “tắm máu” vì vậy việc đầu tiên họ tính là ra đi. Có mấy loại người ra đi: người thuộc chính quyền cũ, những người thấy làm ăn không thuận lợi, người giàu có và sau là những người sợ tắm máu.
Có một số người nữa thấy kinh tế Việt Nam đã nghèo lại còn bị chiến tranh tàn phá nên cũng kiếm đường ra đi.
Một lý do nữa, chúng tôi chiến trận thì biết nhưng làm kinh tế chưa nắm được tình hình, chưa làm tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân nên họ bỏ ra đi.
Nguyên nhân cuối cùng là việc thống nhất đất nước qua con đường chiến tranh thì đã làm tốt nhưng việc tranh thủ lòng người thì chưa làm tốt, chưa thực hiện hòa hợp tốt.
Tôi cũng bổ sung thêm: Dù nguyên nhân gì và những người ra đi khỏi Việt Nam như thế nào, chúng tôi luôn luôn coi họ thuộc dân tộc Việt Nam và luôn luôn sẵn sàng mở cửa để ai về thăm, ai về nước, ai liên lạc lại, cả ba mức đó chúng tôi đều chấp nhận, mở cửa rộng rãi.
Tôi nói vậy, mọi người vỗ tay rất mạnh.
* Tại sao sau 30.4.1975, ta chưa thực hiện tốt hòa hợp dân tộc?
- Phải nói là ta đã có thực hiện được một số việc chứ không phải không làm được gì. Nhưng trong phạm vi hẹp. Đối với những người thuộc lực lượng thứ ba ta đều giữ lại dùng cả. Một số giáo sư tiếp tục ở lại giảng dạy, những nhân vật cao cấp thuộc chính quyền cũ đầu hàng ở dinh Độc Lập ta đều tôn trọng, không bắt bớ gì mà để họ được tự do. Một số người thuộc chính quyền cũ cũng được đối xử tương đối nhẹ nhàng. Nhưng những chuyện ấy chỉ diễn ra ở diện hẹp.
Tại sao không thực hiện được hòa hợp dân tộc để xảy ra những chuyện như tôi vừa nói? Đây là quan điểm của cá nhân tôi thôi, chứ chưa có tổng kết: Theo tôi, nguyên nhân thứ nhất là thắng lợi lớn quá. Đến mức ngợp. Không kịp suy nghĩ gì cả. Đến cái mức mà có lãnh đạo cấp cao của ta nói là bây giờ đã hết kẻ thù, vĩnh viễn sẽ không có chiến tranh nữa.
Nguyên nhân thứ hai, lúc ấy tư tưởng giáo điều ý thức hệ rất nặng nề, thể hiện ở chuyện “thành phần”. Phân biệt kẻ thắng người thua rất nặng nề. Tư tưởng địch-ta nặng nề. Rồi tư tưởng XHCN đối lập với tư bản. Nhiều cái giáo điều ý thức hệ như vậy nên chuyện hòa hợp là không thể.
Nguyên nhân thứ ba là trình độ nghiên cứu của ta rất thấp. Không nghiên cứu được là sau khi giải phóng miền Nam cái gì sửa cái gì giữ, đối xử với các tầng lớp thế nào...


Bà con Việt kiều về Việt Nam ăn Tết mừng rỡ khi gặp người thân ngay tại sân bay - Ảnh: Độc Lập
* Theo ông hiện nay vấn đề hòa hợp dân tộc cần đặt ra như thế nào? Đặt ra với ai?
- Theo tôi có lẽ đặt ra trước hết với người Việt ở nước ngoài. Thứ hai là đối với các tầng lớp nhân dân trong nước. Tôi chỉ xin chia sẻ một vài suy nghĩ của tôi có thể đúng, có thể chưa đúng nhưng để chúng ta suy nghĩ.
Đối với người Việt ở ngoài nước hiện có 3 - 4 cộng đồng có quan niệm khác nhau.
Nhóm thứ nhất là cộng đồng những người Việt mà ta gọi là “người Việt yêu nước”. Theo tôi cái chữ ấy nên bỏ đi, không ai lại phân biệt bằng khái niệm “yêu nước” với “không yêu nước”. Lấy gì để xác định yêu nước? Nên nhìn họ như những Việt kiều có quan niệm thuận với trong nước. 
Nhóm thứ hai sống bình thường, họ không ủng hộ mà không gây sự, chỉ lo tập trung làm ăn. Tôi cho rằng đây là nhóm đa số, bây giờ mời họ về giúp nước là khó đấy. Đây là nhóm mà Nhà nước cần có chính sách tranh thủ.
Thứ ba là lực lượng đối lập, có phê phán những chính sách, có đóng góp ý kiến, phê phán.
Nhóm cuối cùng là những người đối nghịch hoặc báo chí ta gọi nặng nề là chống cộng. Họ là những người công khai không tán thành chủ nghĩa cộng sản, nhóm này theo tôi biết bên Mỹ có nhiều.
Thế bây giờ đặt vấn đề thế nào? Đối với những người đã ủng hộ đã sống hòa hợp, thích hợp rồi thì ta tiếp tục tranh thủ, tạo điều kiện để họ đi về đóng góp thăm viếng đất nước. Những người chờ đợi và chưa có thái độ rõ ràng là lớp người còn xa ta nhưng mà không chống đối, chính là cần thực hiện hòa hợp dân tộc với những người đó. Thực hiện hòa hợp dân tộc ở đây không phải bằng lập trường giai cấp, bằng chủ nghĩa cộng sản đâu, mà bằng TƯ TƯỞNG DÂN TỘC, TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC, ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN HẾT.
Tôi cho rằng đối với Việt kiều càng đưa vấn đề ý thức hệ ra thì càng không có tác dụng. Tôi đối xử với anh bằng tinh thần dân tộc, bằng tinh thần yêu nước chứ không phải bằng ý thức hệ thì lúc đó mới nói chuyện được với nhau, nếu không thì còn nhiều khó khăn. Đối xử bằng lòng yêu nước bằng tinh thần dân tộc. Lấy lợi ích dân tộc đặt lên trên hết. Bất cứ thời đại hoàn cảnh nào thì lợi ích dân tộc vẫn là cao hơn cả, có sức mạnh hơn cả.
Còn đối với trong nước, vấn đề không phải là hòa hợp mà là làm sao tranh thủ sự đồng thuận, lấy lợi ích dân tộc để tranh thủ đồng thuận là đường lối chiến lược. Bây giờ tầng lớp nào trở nên quan trọng và cần tranh thủ đồng thuận? Ngoài nông dân, công nhân thì đặc biệt cần tranh thủ đội ngũ trí thức và doanh nhân. Đồng thuận chính là đồng thuận với hai tầng lớp này.
* Xin cảm ơn ông.
(Theo Thanh niên) Trường Sơn thực hiện

Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014

Cắt đứt hợp tác quốc phòng với Nga, Ukraine sẽ mất tất cả

 Cập nhật lúc 20:45
ANTĐ - Trong cuộc gặp với ban lãnh đạo quốc hội liên bang và khu vực ngày 29-4, Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố, cắt đứt quan hệ với các công ty của Nga có thể sẽ là thảm họa đối với tổ hợp công nghiệp quốc phòng của Ukraine.
Ukraine mất rất nhiều khi Crimea về tay Nga
Tổng thống Nga V. Putin tuyên bố: "Đối với tổ hợp công nghiệp quốc phòng của Ukraine, cắt đứt quan hệ với các đối tác Nga có khả năng dẫn đến thảm họa. Tại sao? Tại vì họ không có thị trường tiêu thụ khác. Khách hàng duy nhất của họ là các lực lượng vũ trang Nga".
Ông Putin cũng cho biết Nga đã có thể bắt đầu sản xuất sản phẩm quân sự của mình mà hiện nay đang mua hoặc thuê Ukraine gia công. Tuy nhiên, ông cũng bày tỏ hy vọng rằng sự hợp tác với Ukraine trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng sẽ không đến mức đoạn tuyệt quan hệ.
Trước khi cắt đứt hoàn toàn quan hệ hợp tác quốc phòng với Nga, Ukraine đã mất rất nhiều khi Crimea tuyên bố độc lập bởi tất cả hạ tầng của các xí nghiệp quỗc phòng quốc doanh của họ đặt tại bán đảo này đã bị quốc hữu hóa, sau khi Crimea và Sevastopol chính thức trở thành các chủ thể nằm trong Liên bang Nga. 
Trong thành phần của Tập đoàn xuất khẩu quốc phòng Nhà nước “Ukroboronprom” Ukraine có 134 xí nghiệp quốc phòng (125 cơ sở nhà nước và 9 công ty cổ phần), trong đó có 13 doanh nghiệp nằm trên bán đảo Crimea, trọng điểm là các cơ sở chế tạo và dịch vụ bảo dưỡng máy bay và tàu thuyền, cùng với một số công trình sản xuất quốc phòng quan trọng khác.
 
Ukraine đã mất rất nhiều khi Crimea về tay Nga
Hạm đội biển Đen của Nga đóng quân tại quân cảng Sevastopol, các dịch vụ bảo dưỡng và cung cấp thiết bị chủ yếu dựa vào Crimea và nhà máy đóng tàu biển Đen. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, đây là nhà máy đóng tàu duy nhất đặt tại Ukraine có khả năng chế tạo được hàng không mẫu hạm cho hải quân Liên Xô.
Các cơ sở công nghiệp đóng tàu Crimea cũng chính là “cố vấn” đắc lực cho Trung Quốc cải tạo tàu sân bay Liêu Ninh từ đống sắt vụn là tàu sân bay Varyag đã bị bỏ phế từ thập niên 90 của thế kỷ trước; hỗ trợ cho Trung Quốc chế tạo tiêm kích hạm J-15 trên cơ sở bán cho họ 1 nguyên mẫu của Su-33 là T-10K-3 và giúp Bắc Kinh chế tạo thành công cáp hãm đà cho tiêm kích hạm J-15.
Sau khi Liên Xô tan rã, ở Crimea có 3 doanh nghiệp đóng tàu lớn là công ty cổ phần “Nhà máy đóng tàu Zaliv”, công ty cổ phần “Nhà máy đóng tàu Feodosia” và công ty vật liệu và chế tạo tàu thuyền quốc doanh “Stekloplastik”. Trong đó, Feodosia là doanh nghiệp chủ lực, nổi tiếng trong ngành đóng tàu quân sự.
Các sản phẩm đóng tàu của Crimea rất nổi tiếng và phòng phú về chủng loại, bao gồm: tàu khu trục, tàu hộ vệ, tàu đổ bộ, tàu chở dầu, tàu vận tải… Theo thống kê, hơn 1 nửa số tàu cánh ngầm thế giới được đóng ở Crimea. Ngoài ra, các công ty thuộc ngành công nghiệp đóng tàu cũng đảm nhận các dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng tàu thuyền.
 
Nhà máy đóng tàu Feodosia”- Crimea là nơi chế tạo 4 tàu đổ bộ đệm khí
Project 958 Bizon (Zubr) cho Trung Quốc
Công ty cổ phần “Nhà máy đóng tàu Zaliv” là nhà sản xuất hàng đầu của chủng loại tàu chở dầu tầm trung. Công ty thực hiện các công trình đa dạng trong đóng tàu và dịch vụ tàu biển, sản xuất thiết bị cho các nhà máy đóng tàu, kỹ thuật tàu thuyền, các tàu đặc chủng vận chuyển nhiên liệu dễ cháy nổ như: Oxy, axetylen…
Công ty cổ phần “Nhà máy đóng tàu Feodosia” là một nhà sản xuất hàng đầu trong lĩnh vực tàu cao tốc, ví dụ như tàu cánh ngầm, tàu đệm khí; du thuyền và xuồng máy vỏ hợp kim nhôm - magiê... Công ty này chính là nhà sản xuất 2 chiếc tàu đổ bộ đệm khí Project 958 Bizon (Zubr) trong gói thầu đặt mua 4 chiếc của hải quân Trung Quốc.
Còn doanh nghiệp nhà nước “Stekloplastik” có tiềm năng sản xuất đáng kể và là một doanh nghiệp lớn chuyên ngành công nghệ sản xuất của công trình xây dựng tàu thuyền chế tạo bằng vật liệu tổng hợp Polymer phức hợp. Các sản phẩm của doanh nghiệp là xuồng cứu sinh và xuồng máy đa chức năng, du thuyền, xuồng Kayak… được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Ngoài ra, ở Crimea còn có căn cứ huấn luyện bay mặt đất Nitka, được xây dựng từ thời Liên bang Xô viết, chuyên dùng để huấn luyện phi công tiêm kích hạm Su-33 cho tàu sân bay Kuznetsov. Sau khi lá cờ đầu của phe xã hội chủ nghĩa tan rã, Ukraine chính thức tiếp quản Nitka năm 1991 và cho chính Nga thuê lại. Khi Crimea về tay Nga, lực lượng không quân của hải quân nước này sẽ tái tiếp quản Nitka.
 
Ukraine là nhà sản xuất động cơ D-18T trên máy bay vận tải hạng nặng An-124-100 “Ruslan”
Cắt đứt quan hệ với Nga, Ukraine có thể sẽ mất tất cả
Trong giai đoạn Nga tiến hành sáp nhập Crimea vào lãnh thổ của mình, Ukraine đã tuyên bố rằng họ có kế hoạch chấm dứt hợp tác quân sự với Nga cho đến khi nào những bất ổn chính trị ở nước này được giải quyết.
Ngày 29-3 vừa qua, tập đoàn xuất khẩu quốc phòng Nhà nước “Ukroboronprom” Ukraine cũng đã tuyên bố đóng băng việc cung cấp vũ khí và thiết bị quân sự cho Nga, chấp nhận những thiệt hại kinh tế rất lớn theo điều khoản phá vỡ hợp đồng do sức ép từ phía chính phủ.
Hiện nay, nguồn thu nhập đáng tin cậy nhất của tập đoàn xuất này vẫn là những hợp đồng xuất khẩu hoặc gia công cho các đối tác nước ngoài, trong đó, chủ yếu là từ Nga. Ngoài ra, còn một số khách hành khác như Trung Quốc, Việt Nam..
Hiện nay, một số sản phẩm mà họ vẫn sản xuất hoặc gia công cho Nga như: Các thiết bị radar điện tử, thước ngắm vũ khí quân dụng, thiết bị dẫn đường cho robot và phương tiện dẫn đường hàng không, động cơ xe tăng công suất nhỏ và trung bình…
Ngoài ra, loại tên lửa đạn đạo liên lục địa RS-20 Voyevoda mạnh nhất trên thế giới được thiết kế ở đây, dưới thời Liên Xô cũ cho, đến nay vẫn tiếp tục được lực lượng tên lửa chiến lược Nga sử dụng và do chuyên gia người Ukraine tiến hành các hạng mục bảo hành.
 
Ukraine chính là cơ sở sửa chữa và bảo dưỡng loại ICBM lừng danh
RS-20 Voyevoda (SS-18 Satan)
Đơn vị trực tiếp làm công tác bảo dưỡng tên lửa đạn đạo liên lục địa cho Nga là doanh nghiệp nhà nước “Văn phòng thiết kế Yuzhnoye” mang tên Yangel ở Dnepropetrovsk. Đây chính là cái nôi của một số loại tên lửa đạn đạo liên lục địa lừng danh của Liên Xô cũ.
Ngành công nghiệp động cơ máy bay của Ukraine cũng khá phát triển nhưng chỉ với các loại động cơ máy bay vận tải quân sự hạng nặng và máy bay huấn luyện chiến đấu hạng nhẹ có từ thời Liên Xô cũ, không có bước phát triển đột phá nào trong thời gian gần đây. Hơn nữa, đối tác chủ yếu của họ từ trước đến nay cũng chính là Nga và phần nào là Trung Quốc.
Phó Thủ tướng Nga Dmitri Rogozin cũng đổng quan điểm với Tổng thống Nga Putin khi cho rằng, ngành công nghiệp Nga chậm nhất là trong vòng 2,5 năm sẽ có thể hoàn toàn từ bỏ các sản phẩm do công nghiệp quốc phòng Ukraine sản xuất.
Trong một tuyên bố trước đây trên kênh truyền hình "Nước Nga 24", phó Thủ tướng Nga cho biết: "Tại thời điểm này khả năng sản xuất của chúng tôi lên đến 70% trên tổng số lượng mà ngành công nghiệp Ukraine sản xuất. 30% còn lại sẽ đạt được trong khoảng thời gian từ 1 tháng đến 2,5 năm.
Ông Dmitri Rogozin lưu ý rằng để thay thế hoàn toàn sản phẩm quốc phòng Ukraine, Nga không cần phải sử dụng một khoản đầu tư lớn vì thực chất, tất cả những sản phẩm mà Kiev sản xuất, gia công và bảo dưỡng cho mình, Moscow đều có thể làm được với trình độ thậm chí còn cao hơn.
Viện thiết kế chế tạo máy A.A. Morozv Ukraine là nhà sản xuất động cơ
diezel 6TD-2E trên xe tăng MBT-2000 của Trung Quốc
Bên cạnh đó, Nga đang tích cực thu hút chất xám của Ukraine trong lĩnh vực quốc phòng. Moscow chào đón các chuyên gia hàng đầu trong ngành công nghiệp quốc phòng của Ukraine với những hỗ trợ tài chính tối đa. "Họ sẽ nhận được một mức lương xứng đáng, và nhà ở” - ông Putin hứa hẹn.
Để đáp trả lại hành động cấm vận của Ukroboronprom, Nga cũng sẽ hủy bỏ hoàn toàn hợp đồng kinh tế đã ký trước đây và những ưu đãi trong quan hệ hợp tác kiểu “anh em”. Các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng Ukraine sẽ phải tìm kiếm thị trường mới, trong bối cảnh các quốc gia sở hữu công nghệ vũ khí kiểu Nga không phải là nhiều trên thế giới.
Hơn nữa, khi đó họ sẽ phải cạnh tranh cung cấp vũ khí và sửa chữa, bảo dưỡng với chính các đối tác Nga, “ông trùm” trong lĩnh vực sản phẩm quốc phòng kiểu Liên Xô cũ. Đây là điều khó cho họ bởi Nga đã có chỗ đứng rất vững chãi ở các thị trường truyền thống, tại các thị trường tiềm năng thì danh tiếng của Kiev càng không thể so được với Moscow.
Như vậy, do khủng hoảng chính trị với sức ép từ chính phủ Ukraine, ngành công nghiệp quốc phòng nước này đã phải gánh chịu những thiệt hại vô cùng lớn về kinh tế khi từ bỏ một đối tác lớn nhất với nhiều ưu đãi. Đây có thể là một cú sốc lớn đối với đất nước vốn đang “ọp ẹp” sau khủng hoảng chính trị và suy thoái về kinh tế.
(Theo An ninh Thủ đô) Nguyễn Ngọc tổng hợp