Dũng cảm, chân
thành để hóa giải thù hận
Cập nhật lúc 09:45
TP
- “Khi tôi đến thắp nhang tại nghĩa trang Biên Hòa, có nhiều người lên án,
đòi đưa tôi ra xử lý. Rằng, tại sao một thứ trưởng đương nhiệm, một quan chức
cao cấp lại đến thắp hương tại nghĩa trang của quân đội Sài Gòn trước đây.
Nhưng nhờ những hành động như vậy mà nhiều người Việt ở hải ngoại chịu gặp,
tiếp xúc với tôi”, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn, Chủ nhiệm Ủy ban
Nhà nước về Người Việt Nam ở Nước ngoài, chia sẻ với Tiền Phong nhân dịp
30/4/2014.
Thù oán kéo dài làm đất nước yếu đi
Đoàn công tác liên ngành sang Mỹ và
Những người chúng tôi gặp là những người đứng đầu các
phong trào chống Cộng, đặc biệt là ở bang
Họ nói thẳng với tôi rằng họ đã theo dõi quá trình hoạt
động từ trước đến nay của tôi, thấy tôi là người có tấm lòng, có sự cởi mở
chân thành nên họ mới đến gặp, để xem “sự chân thành của ông ra sao”.
Trong số những người đến gặp đoàn chúng tôi có cả Thượng
nghị sĩ
Họ cảm thấy những hoạt động chống đối không đem lại lợi ích
gì nhưng họ vẫn chống đối vì cảm thấy không có bờ bến nào khác để neo đậu.
Lâu nay chúng ta vẫn giữ quan điểm cứng rắn. Cả hai bên cứng rắn với một bên chống
đến cùng còn một bên dứt khoát không bắt tay, không khoan hồng, không hòa
giải nên cứ xa cách nhau mãi, tạo ra sự hận thù kéo dài giữa một bộ phận cộng
đồng người Việt ở nước ngoài với trong nước. Đất nước chúng ta đã thống nhất
về mặt địa lý, nhưng trong thực tế nơi này nơi kia lòng dân vẫn chia cắt.
Chia cắt của thế hệ những người trực tiếp tham gia chiến
tranh ở hai chiến tuyến đối lập nhau còn dễ hiểu, nhưng không nên để những
thế hệ sau này, những người không trải qua chiến tranh mà chỉ nghe cha ông
mình nói lại rồi vẫn giữ hận thù. Mối thù oán mãi mãi sẽ làm đất nước yếu đi.
Cả hai bên từng cứng rắn, nhưng đã và đang bắt tay nhau.
Chúng ta cần chính sách hòa hợp, hòa giải như thế nào, thưa ông?
Đế quốc Mỹ đã gây ra bao đau thương tang tóc cho nhân dân
hai miền Nam Bắc. Thế mà đối với Mỹ chúng ta còn khép lại quá khứ, khép lại
một trang sử rất đau thương để nhìn về tương lai hòa bình, ổn định và hợp tác.
Vậy tại sao không tha thứ, hòa hợp với những người cùng một dân tộc, cùng một
đất nước?
Có thời kỳ họ dựa vào đế quốc Mỹ và mong muốn Bắc tiến để
thôn tính miền Bắc nhưng không làm được vì chính đồng minh của họ là người Mỹ
cũng bỏ họ. Chúng ta phải chiến đấu giải phóng đất nước. Đó là cuộc chiến không
mong muốn và chúng ta đã giành thắng lợi cuối cùng vào năm 1975.
Chúng ta đã thống nhất hai miền Nam Bắc. Những người miền
Vì thế hiện nay mới có cộng đồng người Việt
Bởi vì họ không muốn hiểu về thực tế đất nước và quá nặng
với quá khứ. Họ không hiểu thực tế, không hiểu sự chính nghĩa của cuộc chiến tranh
mà chúng ta đã giành thắng lợi. Cho nên họ mang nặng sự hằn thù cá nhân, cộng
với sự bảo thủ, dẫn đến đối kháng với đất nước.
Chính sách hòa hợp, hòa giải cần bước đi cụ thể, cần tình
cảm chân thành dành cho bà con cô bác, những người luôn mặc cảm rằng họ đã
mất hết sau cuộc chiến, luôn mặc cảm rằng họ không có đất nước, Tổ quốc Việt Nam
nữa bởi vì họ đã phải bỏ Tổ quốc ra đi.
Nếu chúng ta không chủ động hòa giải, không chìa tay, chủ
động mở rộng vòng tay với tấm lòng nhân ái thì bà con cô bác vẫn mang tư
tưởng mặc cảm, tự ti, đây đó có những người tủi thân vì nghĩ rằng họ bị bỏ rơi,
nên càng đi vào con đường cực đoan, sẽ càng bảo thủ, cố chấp hơn nữa.
Thứ trưởng nói rằng, để thể hiện sự chân thành cũng cần
lòng dũng cảm lớn. Xin ông nói rõ hơn về điều này?
Nếu chúng ta cũng tự ái, tự thỏa mãn với chiến thắng của
mình mà không có những bước đi cởi mở thực sự để hòa giải, hòa hợp thì không
bao giờ chữa lành được vết thương chiến tranh trong lòng họ. Sự hận thù, nuối
tiếc quá khứ, suy nghĩ lệch lạc về chế độ đương đại ở Việt
Một khi họ đã hiểu, đã thay đổi thì ai cũng muốn có cội
nguồn, trong sâu thẳm của họ đều có hai chữ Việt
Nếu chúng ta áp đặt, khiên cưỡng, thì sẽ không khiến họ
phục. Chúng ta đã làm được rất nhiều việc, như ở nghĩa trang Biên Hòa. Hiện
nay rất nhiều người thiếu thông tin. Vừa rồi tôi phê phán ông Nguyễn Tấn Lạc,
Chủ tịch của cái gọi là Hội Cộng đồng Việt-Mỹ Nam California.
Ông ta không hiểu nên vẫn nói rằng, chúng ta ngăn cấm, cản
trở ở nghĩa trang Biên Hòa, nhưng thực tế nghĩa trang này đang trở nên ngày càng
khang trang, đẹp đẽ nhờ chúng ta có chính sách cởi mở.
Tôi là một trong những người tiên phong. Khi tôi đến thắp
nhang tại nghĩa trang Biên Hòa, đã có nhiều người lên án, đòi đưa tôi ra xử
lý, rằng tại sao một thứ trưởng đương nhiệm, một quan chức cao cấp lại đến thắp
hương tại nghĩa trang của quân đội chính quyền Sài Gòn trước đây. Nhưng nhờ
những hành động như vậy mà nhiều người Việt ở hải ngoại chịu gặp, tiếp xúc
với tôi.
Nếu chúng ta không dám làm những việc dũng cảm mà chỉ nói
theo cứng nhắc thì trong nước cũng ít người nghe, chứ không nói đến bà con ở
hải ngoại.
Quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo
Theo ông, còn những vấn đề gì mà cộng đồng người Việt ở
nước ngoài nói chung, những người còn giữ tư tưởng hận thù nói riêng vẫn quan
ngại?
Sức sống Trường Sa
Một trong những vấn đề bà con rất quan
tâm, kể cả những người còn giữ tư tưởng hận thù, là quyết tâm bảo vệ chủ
quyền biển đảo của chúng ta. Chính vì vậy, đã ba năm nay chúng tôi tổ chức ba
đợt đưa kiều bào ra thăm Trường Sa. Năm nay, chúng tôi muốn có bước đi cụ thể
để chứng minh cho bà con cô bác thấy rằng, chúng ta đang mong muốn hòa hợp,
hòa giải thực sự.
Chúng ta mong muốn đánh giá mọi vấn đề một cách khách
quan, công bằng, nên chúng tôi đã quyết định lần này sẽ đưa bà con cô bác ra
thăm Trường Sa, trong đó chúng tôi đã vận động một số người chống đối quyết liệt
để họ ra Trường Sa tận mắt chứng kiến thực tế biển đảo chúng ta đang giữ
được, thực tế hằng ngày đang diễn ra trên các hòn đảo thuộc chủ quyền của
chúng ta, thực tế quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển đảo đến cùng. Đó là sức
mạnh của lực lượng vũ trang chúng ta, là tinh thần quả cảm, sẵn sàng hy sinh
bảo vệ đất nước, biển đảo của Tổ quốc.
Chúng ta muốn chứng minh cho hơn 4,5 triệu kiều bào rằng,
chúng ta đang làm thay họ với niềm tin, quyết tâm chắc chắn là không bao giờ
để mất chủ quyền biển đảo. Chúng ta không dâng biển bán đất cho ai, mà chỉ đòi
lại những thứ đã bị chiếm giữ trái phép bằng biện pháp hòa bình.
Thứ trưởng Nguyễn
Thanh Sơn. Ảnh: Trúc Quỳnh
Trong chuyến đi Trường Sa lần này,
chúng tôi cũng sẽ có một bước đi rất mạnh dạn là sẽ tổ chức một lễ cầu siêu
tại đảo Trường Sa lớn cho những anh hùng liệt sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam
đã hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo, cũng như những sĩ quan, binh lính quân
lực Việt Nam Cộng hòa đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa năm 1974.
Họ cũng là con dân Việt sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo
vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc mà tổ tiên để lại từ lâu đời. Chúng
ta phải vinh danh, cầu siêu để họ được siêu thoát. Họ cũng như những anh em
của chúng ta đã hy sinh ở đảo Gạc Ma năm 1988.
Tôi cho rằng, đó đều là những sự hy sinh rất xứng đáng vì
toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của Tổ quốc. Xương thịt họ đã hòa vào biển, trở
thành một phần của lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc.
Chúng ta mang hơi ấm đất liền, mang tình thương của dân
tộc để sưởi ấm cả vùng biển đảo Tổ quốc, sưởi ấm cho linh hồn của họ để linh
hồn họ được siêu thoát. Chúng ta cầu siêu theo nghi lễ dân tộc, theo tôn giáo
từng là quốc giáo của nhiều triều đại.
Lễ cầu siêu lần này còn hướng tới cả đồng bào bị nạn trên
biển mà ta từng gọi là thuyền nhân, có thể nói là một dịp chưa từng có. Xin
Thứ trưởng cho biết tại sao?
Lễ cầu siêu lần này còn cầu siêu cho cả những anh em, bà
con cô bác đã ra đi trong những năm 70, 80 và đầu 90 thế kỷ trước mà chúng ta
vẫn quen gọi là “thuyền nhân”. Họ ra đi vì không hiểu chế độ, vì hoàn cảnh khó
khăn, vì hoảng loạn tinh thần. Đã có thời kỳ chúng ta coi việc ra đi đó là
việc có tội với đất nước. Nhưng thực tế chúng ta phải đánh giá thấu đáo việc
họ ra đi. Hầu hết họ ra đi không phải vì hận thù đất nước, mà vì cuộc sống
quá khó khăn.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân với các kiều bào
tại chùa Trấn Quốc dịp Tết Ông Công, Ông Táo xuân Giáp Ngọ 2014 (ngày
23/1/2014). Ảnh: TTXVN
Thực tế là đa số bà con ra đi được gọi
là “thuyền nhân” và đã thành đạt đều hướng về đất nước. Hầu hết những người
ra đi mà chúng tôi gặp ở
Tư duy của chúng ta với những người đó bây giờ đã khác.
Chúng ta thông cảm, thương họ, đồng cảm với những khó khăn của họ khi phải
bươn chải, đương đầu với sóng gió, khắc nghiệt của thiên nhiên, gặp hải tặc, rất
nhiều trục trặc trên đường đi khiến nhiều người bỏ mạng, mất cả gia đình.
Đề xuất bỏ những từ ngữ không thích hợp
Đảng và Nhà nước đã xác định cộng đồng người Việt ở nước
ngoài là một bộ phận không tách rời của dân tộc, bất kể trước đây họ ra đi vì
lý do gì. Vậy đã gần 40 năm sau ngày thống nhất đất nước, những từ ngữ mang
tính phân biệt như “ngụy quân, ngụy quyền” có nên được tiếp tục sử dụng trong
sách giáo khoa, tài liệu chính thống?
Theo cá nhân tôi thì nên bỏ. Tư duy của chúng ta hiện nay
đã khác những năm 70. Việt
Theo tôi, thay vì những từ ngữ như “bè lũ phản động”,
chúng ta nên gọi là họ những người còn có tư tưởng đi ngược lại với lợi ích
đất nước hoặc chưa hiểu hết tình hình đất nước; thay vì gọi họ là “ngụy quân,
ngụy quyền” chúng ta nên gọi là “những người dưới chế độ cũ” theo đúng bản
chất. Chúng ta không nên đẩy họ ra xa mà nên kéo họ lại gần.
Nếu chúng ta vẫn gọi họ là “bè lũ phản động”, “ngụy quân,
ngụy quyền” thì hố ngăn cách sẽ mãi tồn tại, vết thương mãi mãi rỉ máu. Tôi
mong muốn tới đây, ngành giáo dục Việt Nam sẽ xem xét, biên soạn lại bộ sách giáo
khoa để bỏ những ngôn từ không thích hợp, gây chia rẽ lâu dài, để không còn
tư tưởng hận thù chiến tranh trong thế hệ trẻ sau này.
Cảm ơn ông.
Lần này chúng ta mời cả một số người có tư tưởng hận
thù, chống đối gay gắt ra thăm Trường Sa. Có phải họ đã tâm phục khẩu phục?
Một trong những thành công của chuyến đi của chúng tôi
vừa qua là thuyết phục bằng tình cảm chân thành, bằng bước đi cụ thể cả trong
nước và nước ngoài để một số người trở về nhằm kiểm nghiệm một thực tế là chúng
ta đang bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Trong chuyến đi lần này, chúng tôi còn mời cả hai phu
nhân của Hạm trưởng tàu Nhật Tảo, Trung tá Ngụy Văn Thà (người đã chỉ huy
chiến hạm Nhật Tảo bảo vệ Hoàng Sa) và Hạm phó Nguyễn Thành Trí, hai người đã
hy sinh ở Hoàng Sa. Chúng tôi mời họ về để họ thắp nén nhang tưởng niệm những
người thân, người chồng yêu quý của họ đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa đến
cùng.
Họ có quyền tự hào về những chiến công, thành tích của
người thân của mình. Họ cũng sẽ tận mắt chứng kiến tình cảm chân thành, bước
đi cụ thể mà chúng tôi đang tiến hành để dẫn tới đích cuối cùng là xóa bỏ hận
thù, hòa hợp hòa giải dân tộc, chứ không phải bằng hành động giả tạo hay giáo
điều.
Trong đoàn về lần này còn có Thiếu úy Thủy quân lục
chiến Nguyễn Ngọc Lập đang ở quận Cam - thủ phủ của những người chống Cộng.
Qua ba lần gặp gỡ, tôi đã thuyết phục ông Lập trở về để tận mắt chứng kiến sự
đổi thay của đất nước, tận mắt chứng kiến những việc chúng ta đang làm để bảo
vệ chủ quyền biển đảo của đất nước, trực tiếp cảm nhận tình cảm của nhân dân
trong nước sau 39 năm xa cách.
Ông Lập từng là người luôn dẫn đầu trong các phong trào
chống Cộng, nhưng cũng là người yêu nước và rất hiểu biết, nên qua những lần
tiếp xúc với chúng tôi, nhìn nhận đánh giá những việc chúng tôi đang làm, ông
ấy thấy rằng, chúng ta đang làm những việc đúng. Ông ấy đã thấy ân hận, áy
náy vì trong thời gian qua đã tham gia vào quá nhiều phong trào chống Cộng
cực đoan.
Tôi cho rằng, ông Lập trở về lần này với tư tưởng thoải
mái, cởi mở và đặt hy vọng vào thành công của chính sách đại đoàn kết dân tộc
của chúng ta. Ngoài ra, còn có một số nhà báo hoạt động trong các tổ chức chống
Cộng, thủ lĩnh của một tổ chức chống Cộng rất mạnh như ông Đức “đầu bạc” ở
Texas.
Trong đoàn về lần này còn có một số người trong gia
đình chống Cộng, không mong muốn tiếp xúc với chúng ta, nhưng qua quá trình
gặp gỡ, vận động của chúng tôi, họ cảm thấy có niềm tin và mong muốn trở về.
|
Thứ Tư, 30 tháng 4, 2014
Hòa giải: Câu
chuyện có thể có hồi kết
Cập nhật lúc 08:31
Vài tháng trước một học giả Pháp có tên Francois Guillemot
xuất bản một cuốn sách về “phụ nữ Việt
Ông ta lý luận chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ của Việt
Nam là “nội chiến” vì khi đó trong chính nước Việt, giữa người Việt với nhau cũng
có nhiều phe phái nổi lên tranh giành quyền lực.
Lý luận đó đã dấy lên một cuộc tranh luận nảy lửa trên
diễn đàn Nghiên cứu Việt Nam tại Mỹ về bản chất cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Như rất nhiều cuộc tranh cãi khác trong giới trí thức về chủ đề này, phần đông
sẽ kết luận rằng, việc Mỹ giúp Pháp, rồi dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm
và sau đó trực tiếp đổ quân vào Việt Nam là việc làm nếu không được coi là
bành trướng đế quốc thì cũng là trái đạo đức. Tuy nhiên, với những tiếng nói
ít ỏi vang lên, chẳng hạn như Guillemot, cũng không khỏi khiến ta chạnh lòng
suy ngẫm về những gì đã xảy ra trên đất nước Việt
Trong bất kì cuộc kháng chiến nào, việc chống can thiệp
của nước ngoài, ở bất kì nơi đâu không riêng gì Việt Nam, đều có yếu tố nội
bộ. Thứ nhất là bao giờ cũng có những kẻ đầu cơ trục lợi, giặc chưa đến
đã hàng, không những đầu hàng mà còn giúp ngoại bang bóc lột chính dân mình, miễn sao vinh thân phì gia. Số này sẽ chống lại bất kì người bản xứ nào muốn đứng
lên.
Trong số những người còn lại thì hầu như bất kỳ ai khi
đứng trước sự an nguy của đất nước, của gia đình và bản thân cũng đều sẽ đặt
ra câu hỏi, “theo ai, làm gì, như thế nào.” Dù ta có muốn tin rằng
mỗi người Việt là một cấu thành tuyệt đối của tổ quốc Việt Nam thiêng liêng và
sẵn sàng hi sinh đến giọt máu cuối cùng để chống lại sự đô hộ của nước ngoài,
trong thực tế mỗi người Việt khi quyết định tham gia (hay không tham gia) vào
cuộc kháng chiến chống Mỹ đều đã đắn đo hết những thiệt hơn, hết lẽ phải
trái, giữa cái chung và cái riêng. Đó cũng là lẽ thường. Con người mà.
Nhưng chiến tranh càng kéo dài, càng khốc liệt thì lựa
chọn của con người ta càng bị thu hẹp khi mà “đứng giữa” trở thành tiêu chí
xa xỉ, khi cuộc sống được quy nạp chỉ còn hai tiêu chí "bên
này – bên kia”. Tính chất của cuộc chiến, một bên là cường quốc số 1 thế giới
về mọi mặt chống lại một bên là nước nhỏ và nghèo, khiến cho việc tập hợp
khối đại đoàn kết dân tộc trở thành một khối vững chắc là điều tối cần, càng
làm cho lằn ranh giữa tốt (nghĩa là theo ta) và xấu (theo địch) trở nên rõ
ràng hơn.
Có điều khi chiến tranh đã kết thúc thì hệ thống “phân
loại nhị phân” kiểu này đã không còn thích hợp để nói lên tính đa dạng và
nhiều trắc ẩn của cuộc kháng chiến cũng như của từng con người đã phải sống
trong thời “nồi da xáo thịt” đó, đặc biệt càng không giúp ích gì cho việc hàn
gắn vết thương chiến tranh mà dân ta đã phải chịu đựng cả thế kỉ qua (nếu
tính từ những cuộc khởi nghĩa từng vùng/miền chống Pháp từ đầu thế kỉ 20).
Trong một cuộc thảo luận gần đây tại Trung tâm Wilson (thủ
đô Washington) về việc chính phủ Mỹ sử dụng các bài học rút ra từ chiến tranh
Việt Nam trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại, một phụ nữ Mỹ gốc
Việt run giọng (không rõ vì xúc động hay vì cáu giận) nhắc đi nhắc lại một
câu “nước Mỹ không thua Cộng Sản, Nixon có thể tiếp tục cuộc chiến nhưng
quyết định bỏ rơi đồng minh (Sài Gòn)…” tới mức chủ tọa phải ngắt lời và yêu
cầu bà ngồi xuống. Với những người như bà, những người cho rằng việc Mỹ nên
tiến hành chiến tranh ở Việt Nam dù với bất kỳ tên gọi gì hoặc thủ đoạn nào,
thì việc hòa giải hòa hợp là điều bất khả thi.
Cụm từ “Hòa giải” chính nó đã mang nghĩa “hai phía”. Ta
không thể vì mục đích hòa giải mà chấp nhận xuyên tạc tính chính nghĩa của
cuộc kháng chiến vì mục tiêu thống nhất đất nước.
Tuy nhiên chính ta cũng phải thừa nhận đã có những bước đi
không sáng suốt khiến cho việc hòa giải thời kỳ đầu đã trở thêm khó khăn..
Nếu tỉnh táo nhìn nhận thì ta phải thấy trong số những
người ở lại một phần là do không di tản kịp nhưng có rất nhiều người ở lại là
do họ hi vọng vào sự khoan hồng của chính quyền mới. Chính sách cải tạo
đã đẩy những con người này từ chỗ muốn hoàn lương sang chỗ cay đắng, và từ đó
gia đình họ dù ở nước ngoài hay ở Việt
Tai hại hơn, họ và những người vượt biên những năm 70, 80
trở thành phương tiện truyền thông (tích cực) về hình ảnh (tiêu cực) của Việt
Nam đối với thế giới bên ngoài, đặc biệt là ở Mỹ. Ai đã làm việc với chính phủ
Mỹ để xóa bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, bình thường hóa quan hệ hai nước,
hoặc tăng cường hợp tác… đều hiểu rất rõ rằng những người Việt tị nạn sang Mỹ
sau năm 1975 đóng một vai trò vô cùng lớn trong việc vận động hành lang nhằm
phá cho bằng được bất kì động thái nào giữa hai nước tiến tới một mối quan hệ
hữu nghị.
Còn những thế hệ sau, sinh ra ở Mỹ, thì hoặc là hoàn toàn
mù mờ về gốc gác Việt hoặc nếu có quan tâm thì cũng mang những mặc cảm nặng
nề. Về mặt tinh thần, rõ ràng không ai được lợi từ việc mỗi người hay cả dân tộc
đeo đẳng sự hận thù, cay đắng.
Về mặt chính trị, ta cũng không có lợi khi mà hàng trăm
nghìn người Mỹ gốc Việt – trong con mắt người Mỹ thì họ là đại diện “xác
thực” nhất cho hai chữ “Việt Nam” – lại chỉ có những hành động và lời nói đầy
kỳ thị về nước Việt.
Về mặt kinh tế ta càng không được lợi lộc gì. Theo nghiên
cứu của các nhà xã hội học, người tị nạn/nhập cư, dù xuất phát từ bất kì quốc
gia nào, đều là nhóm năng động và có khả năng thích nghi cao hơn so với mặt bằng
dân số của nước đó. Điều này càng đúng với cộng đồng người Việt tại Mỹ, phần
lớn đều thành công. Một lượng lớn tài năng và chất xám của con người Việt thể
hiện ở những nhà khoa học và kinh tế học, những bác sỹ, kỹ sư người Mỹ gốc
Việt đang ở lại phục vụ nước Mỹ, hoặc liên kết hợp tác với… nước khác chứ
không phải Việt Nam. Thật đáng tiếc.
Còn ở trong nước, việc hàn gắn vết thương chiến tranh càng
cần thiết. Không phải tẩy trắng lịch sử mà phải vẽ một bức tranh không chỉ có
hai màu trắng và đen về cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Chúng ta cần thừa nhận những uẩn khúc rất đời - những câu
chuyện tí hon mà vì hoàn cảnh chiến tranh đã được hấp thụ vào câu chuyện lịch
sử vĩ đại của một dân tộc anh hùng - để mỗi người dù ở phía nào đều thấy chân
dung của mình trong đó. Dân tộc ta giỏi đánh giặc nhưng cũng đầy lòng bao
dung.
Ta đã có tự do, hòa bình, ta đã đổ quá nhiều xương máu để
giành được điều đó. Không có lý gì mỗi chúng ta không thể nắm lấy tay những
người Việt thiện chí khác để cùng nhau xây dựng một trang sử mới cho dân tộc.
Minh Nguyệt (Từ Mỹ)
|
|
Ống dẫn nước công nghệ Tàu:
Thủng
lương tâm, vỡ trách nhiệm?
Cập nhật lúc 08:00
(Tin tức thời sự)
- Người dân Việt
Sáng ngày 29/4/2014, báo Đất Việt đăng
tải bài viết “Đường ống
nước bị vỡ 6 lần: Lý giải công
nghệ Trung Quốc!?” Theo thông tin từ bài viết này, phóng
viên đã tìm hiểu được ống cống bị vỡ nhiều lần trong thời gian qua của dự án
Hệ thống cấp nước sạch sông Đà – Hà Nội được làm bằng công nghê composite cốt
sợi thủy tinh. Và công nghệ này do được Trung Quốc chuyển giao cho Việt
Sau khi bài viết được đang tải, rất
nhiều phản hồi của độc giả đã được gửi về, bày tỏ sự lo lắng cho chất lượng
công trình, và cũng như cho chính chất lượng cuộc sống của họ. Và người dân
cũng bày tỏ sự bất bình về các cơ quan hữu trách, đến bao giờ mới có lời xin
lỗi, đến bao giờ mới hết sự phụ thuộc vào Trung Quốc.
Công nghệ Trung Quốc: Vẫn chưa sáng mắt
Độc giả Thanh Bình nhận định: “Đây mới
đúng là nguyên nhân ống bị vỡ. Các nhà đầu tư chỉ muốn bỏ túi nhiều mà quên
đi lợi ích người dân”.
“Công nghệ trung quốc biết là lạc hậu,
chất lượng kém nhưng vẫn cố đấm ăn xôi để mang về lắp đặt, đất nước cứ mãi
vẫn ở vòng luôn hồi lạc hậu nghèo nàn không thể bứt phá nếu cứ dùng hàng
Trung Quốc kém chất lượng thế này.” – Đó là ý kiến nhận định của bạn đọc
Nguyễn Văn Hùng.
Bạn đọc Trần Ai tỏ ra lo lắng về chất
lượng của những sản phẩm của Trung Quốc: “Vỡ đường ống không thôi còn là may
chán. Tôi còn lo lắng liệu chất lượng nước qua ống có bị ảnh hưởng bởi hóa
chất độc hại không?”
Độc giả ký danh GDTT đặt ra thắc mắc:
“Tôi thấy nghịch lý... Trung Quốc đang đi học, mua công nghệ các nước tư bản
để họ phát triển... còn Việt
Còn lý giải cho việc vì sao Việt
Vẫn là dấu hỏi cho trách nhiệm
Bạn đọc Nguyễn Văn Pha than thở: “Dạo
này vỡ, thủng nhiều công trình quá, tất cả đều giải thích do nguyên nhân
khách quan nhưng nguyên nhân chủ quan là gì nhỉ? Có phải do thủng lương tâm,
vỡ trách nhiệm không?”
Độc giả ký tên Dũngxhn nhìn nhận: “Điều
dở nhất là đơn vị sản xuất và thi công đều thuộc Vinaconex, mà Vinaconex
không thể tìm ra nguyên nhân gốc và khắc phục ... 6 lần lặp đi lặp lại,
điều then chốt là phải tìm ra nguyên nhân gốc, và có biện pháp khắc phục
chính xác, ... Hay nguyên nhân gốc đã tìm ra rồi, nhưng không muốn khắc phục
vì tốn kém, nên để cho xã hội gánh?”
Bạn đọc X.Hà chia sẻ: “Nói là ống composite
có đường kính lớn mua của Trung Quốc là chính xác, còn công nghệ công nghệ dẫn
nước tự chảy của TQ là chưa chuẩn. Nhớ lại rằng: nhà máy nước tự chảy Sông Đà
xong đã lâu, nhưng lại chưa có ống dẫn về HN. Và rồi họ tìm ra ống composite
giá rẻ của Trung Quốc, và các ông lại cho là cứu cánh với nhà máy nước Sông
Đà. Từ đó, bán được nước sạch cho HN... Nguyên nhân, trách nhiệm cũng là từ
đây...”
Độc giả tên Thanh chỉ trích: “Hàng
triệu dân HN lại cam chịu cách giải thích quen quen theo kiểu chờ xem kết
luận và xin ý kiến. Nên sòng phẳng thông tin và chịu trách nhiệm đi đến cùng”.
Khoa học, công nghệ Việt
Song song với những chỉ trích về vấn đề
chất lượng công trình và bài học với Trung Quốc, những thắc mắc của độc giả
về nền công nghệ khoa học của Việt
Độc giả ký danh Tong Thong đặt câu
hỏi:”Sao không dùng công nghệ Việt
Độc giả ký danh “thac mac” cũng nêu ra
quan điểm của mình: “6 lần vỡ ống, sao không thử hỏi ngay lại cái chất lượng
của Cúp vàng chất lượng xây dựng?”
Còn độc giả ký tên Yeu Viet thắc mắc:
“Những dự án này hoàn toàn Việt Nam có thể đảm nhận sao lại phải để Trung
Quốc làm nhỉ?! Khó đến thế cơ à?!
(Theo
Đất Việt) Đỗ Phong
|
|
Kỷ niệm đại lễ 30.4:
Hòa hợp
- hòa giải cần đôi mắt mới
Cập nhật lúc 07:41
(TNO) Thời
điểm để đặt ra câu chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc đã trôi qua từ lâu. Vấn
đề này hiện nay cần được nhìn nhận dưới những góc độ khác. Nhận định này được
Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh, nhà ngoại giao lão thành, nguyên thành viên đoàn
đàm phán Hiệp định
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|||||||||||||||
Vấn đề ấy được đặt ra trong lúc ta tính tới phương án giữ
nguyên trạng miền Nam .
Vì vậy ta đưa vào dự thảo Hiệp định và bàn kỹ vấn đề hòa hợp dân tộc.
Lúc đầu ta gọi là chính phủ liên hiệp ba thành phần. Chính
phủ Mỹ không chấp nhận được vì chính phủ mới có nghĩa là thủ tiêu Sài Gòn. Ta
mới hạ thấp xuống là “một chính quyền hòa hợp dân tộc”, gần gần với lập trường
của Mỹ. Mỹ đề xuất một “body” - một tổ chức để tổng tuyển cử.
Mỹ dùng chữ “body” thì mình cũng dịu bớt đi, đề xuất là
trong lúc chính quyền hai bên tồn tại, thực hiện hòa hợp, hòa giải dân tộc để
tiến tới tổ chức tổng tuyển cử thành lập chính quyền (đưa thêm khái niệm hòa giải,
vì là hai kẻ địch.)
Nhưng Mỹ không chấp nhận chữ “chính quyền”. Chữ “chính
quyền” có gì đó mang ý nghĩa thủ tiêu Sài Gòn. Vì thắng lợi của mình năm 1972
cũng có mức độ thôi, chưa thể lấn át Mỹ được, nên ta lấy yêu cầu Mỹ rút là chính.
Mỹ nhận rút và quân miền Nam
ở lại là đạt yêu cầu cao nhất rồi, ta mới chấp nhận thành lập một hội đồng
quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc. Hiệp định có điều khoản thành lập một hội
đồng quốc gia hòa giải hòa hợp dân tộc để tổ chức tổng tuyển cử và đôn đốc
thi hành Hiệp định.
Lúc đó hình thành khái niệm hòa giải hòa hợp dân tộc.
Đấy là quá trình đàm phán đi đến hòa giải hòa hợp dân tộc.
Ta thấy không có con đường nào khác cả. Bởi vì chúng ta thắng thế nào thì Sài
Gòn cũng vẫn sẽ còn. Dù lập chính phủ hai thành phần, ba thành phần hay giữ
nguyên trạng thì cũng vẫn phải có hòa giải, hòa hợp. Không có cách nào khác.
Không có bên nào thắng bên nào. Thực tế miền Nam có ba lực lượng, hai chính
quyền thì phải giải quyết với nhau như vậy.
Nhờ những sách lược mềm dẻo của ta, mà trong đó có việc
tạm gác vấn đề xóa Sài Gòn, thực hiện một hình thức hòa giải, hòa hợp dân tộc
mà tổ chức ấy chỉ là hội đồng thôi chứ không phải chính quyền, chính phủ gì nên
Mỹ chấp nhận.
Nhờ đó mà ký được Hiệp định. Hiệp định Paris là gì? Là một hình thức thỏa hiệp
giữa Việt Nam
trên đường thắng lợi với Mỹ tuy thua nhưng vẫn đang còn mạnh và chính quyền
Sài Gòn còn là một thực thể. Hiệp định Paris
là một sự thỏa hiệp “phải chăng”. Vì vậy 4 bên chấp nhận được, Việt Nam chấp
nhận được, Mỹ cũng chấp nhận được mở đường cho Mỹ rút, Sài Gòn cũng chấp nhận
được.
* Thanh Niên Online: Sau ngày
30.4.1975 vấn đề hòa giải dân tộc đã được thực hiện như thế nào? Có điều gì
chúng ta đã làm được và chưa làm được?
- Đại sứ Nguyễn Khắc Huỳnh: Ta đã
chân thành đấu tranh thi hành Hiệp định Paris
1973, thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc. Ta đã làm việc rất tích cực với
các lực lượng thứ ba. Nhưng kết quả rất hạn chế. Ngay đêm Hiệp định có hiệu
lực (27.1.1973), chính quyền Thiệu đã cho chiếm Cửa Việt, sau đó ta phản kích
lấy lại. Có thể nói là không có lấy một ngày hòa bình. Đã không có hòa bình
thì không có điều kiện cho hòa hợp.
Nhưng sau khi ta thắng lợi giải phóng miền Nam thì vấn đề
hòa hợp trở thành vấn đề lớn. Thậm chí là cực kỳ lớn.
Nhưng khi ta thắng lợi rồi thì chính sách hòa hợp dân tộc
thực hiện được bộ phận thôi chứ chưa được rộng rãi và có kết quả. Phải thẳng
thắn nhìn nhận là nhiều chính sách của ta sau giải phóng khá nặng nề với sĩ
quan, binh lính chế độ cũ cũng như gia đình họ. Rồi chuyện báo chí Sài Gòn bị
đóng cửa hầu hết, tất cả hoạt động kinh doanh của miền Nam bị hạn
chế... Sau đó là hợp tác hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa.
Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến chuyện hàng chục
vạn người bỏ nước ra đi, thành phong trào “thuyền nhân”. Đó là một trang sử
đau thương, đen tối của chúng ta.
Khi tôi sang dự một hội thảo liên quan đến chiến tranh
Việt Nam
tại ĐH Brown (Mỹ), ban tổ chức có bố trí một chương trình giao lưu với các giáo
sư và khoảng 1.000 sinh viên. Tôi nhận được vài chục câu hỏi trong đó có câu
hỏi liên quan đến vấn đề này. Một sinh viên hỏi: Thưa ngài đại sứ, Việt Nam đã chiến thắng Mỹ, các ngài coi là “giải
phóng miền Nam ,
thống nhất Tổ quốc” nhưng tại sao lại có chuyện hàng triệu người bỏ nước ra
đi?
|
|
|
|||||||||||||||
Tôi đã trả lời thế này: Đó là chuyện rất đáng tiếc. Về
nguyên nhân thì thứ nhất là trong suốt thời gian chiến tranh, quân đội, các
nhà chức trách Mỹ cũng như chính quyền Sài Gòn qua mấy đời tổng thống đều
tuyên truyền nếu Việt Cộng về sẽ có nạn tắm máu. Sau 30.4.1975 nhiều người đã
lo lắng chuyện “tắm máu” vì vậy việc đầu tiên họ tính là ra đi. Có mấy loại
người ra đi: người thuộc chính quyền cũ, những người thấy làm ăn không thuận
lợi, người giàu có và sau là những người sợ tắm máu.
Có một số người nữa thấy kinh tế Việt Nam đã nghèo
lại còn bị chiến tranh tàn phá nên cũng kiếm đường ra đi.
Một lý do nữa, chúng tôi chiến trận thì biết nhưng làm
kinh tế chưa nắm được tình hình, chưa làm tốt, chưa đáp ứng được yêu cầu của
người dân nên họ bỏ ra đi.
Nguyên nhân cuối cùng là việc thống nhất đất nước qua con
đường chiến tranh thì đã làm tốt nhưng việc tranh thủ lòng người thì chưa làm
tốt, chưa thực hiện hòa hợp tốt.
Tôi cũng bổ sung thêm: Dù nguyên nhân gì và những người ra
đi khỏi Việt Nam như thế nào, chúng tôi luôn luôn coi họ thuộc dân tộc Việt
Nam và luôn luôn sẵn sàng mở cửa để ai về thăm, ai về nước, ai liên lạc lại, cả
ba mức đó chúng tôi đều chấp nhận, mở cửa rộng rãi.
Tôi nói vậy, mọi người vỗ tay rất mạnh.
* Tại sao sau 30.4.1975, ta chưa thực hiện tốt hòa hợp dân
tộc?
- Phải nói là ta đã có thực hiện được một số việc chứ
không phải không làm được gì. Nhưng trong phạm vi hẹp. Đối với những người
thuộc lực lượng thứ ba ta đều giữ lại dùng cả. Một số giáo sư tiếp tục ở lại giảng
dạy, những nhân vật cao cấp thuộc chính quyền cũ đầu hàng ở dinh Độc Lập ta
đều tôn trọng, không bắt bớ gì mà để họ được tự do. Một số người thuộc chính
quyền cũ cũng được đối xử tương đối nhẹ nhàng. Nhưng những chuyện ấy chỉ diễn
ra ở diện hẹp.
Tại sao không thực hiện được hòa hợp dân tộc để xảy ra
những chuyện như tôi vừa nói? Đây là quan điểm của cá nhân tôi thôi, chứ chưa
có tổng kết: Theo tôi, nguyên nhân thứ nhất là thắng lợi lớn quá. Đến mức
ngợp. Không kịp suy nghĩ gì cả. Đến cái mức mà có lãnh đạo cấp cao của ta nói
là bây giờ đã hết kẻ thù, vĩnh viễn sẽ không có chiến tranh nữa.
Nguyên nhân thứ hai, lúc ấy tư tưởng giáo điều ý thức hệ
rất nặng nề, thể hiện ở chuyện “thành phần”. Phân biệt kẻ thắng người thua
rất nặng nề. Tư tưởng địch-ta nặng nề. Rồi tư tưởng XHCN đối lập với tư bản. Nhiều
cái giáo điều ý thức hệ như vậy nên chuyện hòa hợp là không thể.
Nguyên nhân thứ ba là trình độ nghiên cứu của ta rất thấp.
Không nghiên cứu được là sau khi giải phóng miền Nam cái gì sửa cái gì giữ, đối xử
với các tầng lớp thế nào...
* Theo ông hiện nay vấn đề hòa hợp dân tộc cần đặt ra như
thế nào? Đặt ra với ai?
- Theo tôi có lẽ đặt ra trước hết với người Việt ở nước
ngoài. Thứ hai là đối với các tầng lớp nhân dân trong nước. Tôi chỉ xin chia
sẻ một vài suy nghĩ của tôi có thể đúng, có thể chưa đúng nhưng để chúng ta suy
nghĩ.
Đối với người Việt ở ngoài nước hiện có 3 - 4 cộng đồng có
quan niệm khác nhau.
Nhóm thứ nhất là cộng đồng những người Việt mà ta gọi là
“người Việt yêu nước”. Theo tôi cái chữ ấy nên bỏ đi, không ai lại phân biệt
bằng khái niệm “yêu nước” với “không yêu nước”. Lấy gì để xác định yêu nước? Nên
nhìn họ như những Việt kiều có quan niệm thuận với trong nước.
Nhóm thứ hai sống bình thường, họ không ủng hộ mà không
gây sự, chỉ lo tập trung làm ăn. Tôi cho rằng đây là nhóm đa số, bây giờ mời
họ về giúp nước là khó đấy. Đây là nhóm mà Nhà nước cần có chính sách tranh thủ.
Thứ ba là lực lượng đối lập, có phê phán những chính sách,
có đóng góp ý kiến, phê phán.
Nhóm cuối cùng là những người đối nghịch hoặc báo chí ta
gọi nặng nề là chống cộng. Họ là những người công khai không tán thành chủ
nghĩa cộng sản, nhóm này theo tôi biết bên Mỹ có nhiều.
Thế bây giờ đặt vấn đề thế nào? Đối với những người đã ủng
hộ đã sống hòa hợp, thích hợp rồi thì ta tiếp tục tranh thủ, tạo điều kiện để
họ đi về đóng góp thăm viếng đất nước. Những người chờ đợi và chưa có thái độ
rõ ràng là lớp người còn xa ta nhưng mà không chống đối, chính là cần thực
hiện hòa hợp dân tộc với những người đó. Thực hiện hòa hợp dân tộc ở đây
không phải bằng lập trường giai cấp, bằng chủ nghĩa cộng sản đâu, mà bằng TƯ
TƯỞNG DÂN TỘC, TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC, ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN HẾT.
Tôi cho rằng đối với Việt kiều càng đưa vấn đề ý thức hệ
ra thì càng không có tác dụng. Tôi đối xử với anh bằng tinh thần dân tộc,
bằng tinh thần yêu nước chứ không phải bằng ý thức hệ thì lúc đó mới nói
chuyện được với nhau, nếu không thì còn nhiều khó khăn. Đối xử bằng lòng yêu nước
bằng tinh thần dân tộc. Lấy lợi ích dân tộc đặt lên trên hết. Bất cứ thời đại
hoàn cảnh nào thì lợi ích dân tộc vẫn là cao hơn cả, có sức mạnh hơn cả.
Còn đối với trong nước, vấn đề không phải là hòa hợp mà là
làm sao tranh thủ sự đồng thuận, lấy lợi ích dân tộc để tranh thủ đồng thuận
là đường lối chiến lược. Bây giờ tầng lớp nào trở nên quan trọng và cần tranh
thủ đồng thuận? Ngoài nông dân, công nhân thì đặc biệt cần tranh thủ đội ngũ
trí thức và doanh nhân. Đồng thuận chính là đồng thuận với hai tầng lớp này.
* Xin cảm ơn ông.
(Theo
Thanh niên) Trường Sơn thực hiện
Thứ Ba, 29 tháng 4, 2014
Cắt đứt hợp tác
quốc phòng với Nga,
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)





