Thứ Ba, 5 tháng 3, 2019

"Phải làm rõ trách nhiệm Bí thư, Chủ tịch dính tới vi phạm Thủ Thiêm"

Cập nhật lúc 14:10  


"Bí thư, Chủ tịch…Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn các vi phạm Thủ Thiêm xảy ra trách nhiệm đến đâu cần phải sớm được làm rõ”, ông Ngô Văn Sửu nói.

Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Ngô Văn Sửu, nguyên Vụ trưởng Vụ 1, Ủy Ban Kiểm tra Trung ương băn khoăn đặt câu hỏi khi nào sẽ công bố nội dung kết luận còn lại liên quan đến khu đô thị Thủ Thiêm.
Trước đó, tại hội nghị của ngành Nội chính Đảng vào tháng 1/2019, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân đã đề cập đến vụ Thủ Thiêm.
Theo Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, vừa qua Thanh tra Chính phủ đã kết luận bước đầu cho thấy các cơ quan quản lý có những sai sót.
Do vậy, Bí thư Thành phố Hồ chí Minh kiến nghị Chính phủ sớm công bố nội dung kết luận còn lại liên quan đến khu đô thị mới Thủ Thiêm.
 
Ông Ngô Văn Sửu mong Thanh tra Chính phủ sẽ sớm công bố nội dung kết luận còn lại liên quan đến khu đô thị Thủ Thiêm. Ảnh: Nhật Minh

Ở góc độ là người từng công tác nhiều năm ở Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ông Ngô Văn Sửu đặc biệt quan tâm đến vụ việc.
Theo ông Sửu, vụ Thủ Thiêm kéo dài mấy chục năm, qua 4 nhiệm kỳ. Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh đã không thể hiện được vai trò của mình, bao nhiêu nhiệm kỳ các sai phạm vẫn không bị phát hiện xử lý.
“Đến lúc, mọi chuyện vỡ lở hết, việc kiện cáo đông người phức tạp, Trung ương phải vào cuộc xem xét và đã kết luận.
Bước đầu vào tháng 9/2018, Thanh tra Chính phủ đã công bố kết quả kiểm tra một số nội dung liên quan khiếu nại của người dân về Khu đô thị mới Thủ Thiêm. Bản kết luận đã chỉ ra nhiều sai phạm ở quy hoạch Thủ Thiêm.
Cũng có liên quan đến vi phạm tại Thủ Thiêm, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã đưa ra kết luận về các vi phạm của ông Tất Thành Cang.
Kết luận này tương đối nghiêm minh và mở đường cho các hoạt động pháp lý sau này.
Thủ Thiêm chắc chắc còn nhiều việc phải làm trong năm 2019 chứ không chỉ riêng vi phạm cá nhân của ông Tất Thành Cang”, ông Sửu đánh giá.
Ông phân tích, các vi phạm của ông Tất Thành Cang được chỉ ra từ thời còn làm Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, đến khi làm Phó Chủ tịch Thành phố, Phó Bí thư Thành ủy rồi vào Trung ương.
Các sai phạm này có từ trước chứ không phải mới. Các sai phạm không được ai phát hiện và rồi cứ thế đưa ông ta lên.
“Chắc chắn ngoài ông Cang, Thường vụ các khóa trước của Thành phố Hồ Chí Minh không thể tránh khỏi liên quan.
Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch… giai đoạn các vi phạm Thủ Thiêm xảy ra trách nhiệm đến đâu cần phải sớm được làm rõ để làm trong sạch đội ngũ, cũng là để làm gương cho những ai cố tình vi phạm”, ông Sửu nêu quan điểm.
Rõ ràng qua các vụ việc nổi cộm thời gian vừa qua, theo ông Sửu, nó cho thấy, các sai phạm kéo theo cả dây các mối quan hệ lợi ích nhằng nhịt.
Chính vì thế, dư luận luôn đòi hỏi, yêu cầu công khai minh bạch. Vì càng công khai minh bạch bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu.
Đó cũng là một cách phá vỡ cơ chế quản lý kinh tế ngầm của những nhóm lợi ích được cấu kết chặt chẽ của tiền và quyền.
Ông Sửu đánh giá, những vụ án tham nhũng lớn vừa qua được đem ra xét xử đều minh chứng cho việc, các đối tượng vi phạm phải tạo ra được cơ chế quản lý chặt chẽ, móc nối càng sâu, càng nhiều thì càng hoạt động mạnh.
Không có hoạt động tham nhũng nào mà hoạt động đơn lẻ được.  
“Nhiều khi dư luận thường đặt câu hỏi, tại sao làm đúng quy trình, quy định chặt vậy mà lại sai. Bởi vì những kẻ muốn trục lợi phải vận dụng quy trình để làm vỏ ngoài cho hành vi vi phạm, để khi có vỡ lở thì lại đem “đúng quy trình” ra làm lá chắn.
Thực ra họ đã lồng các lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm vào cái gọi là "quy trình".
Vì thế cuộc chiến chống tham nhũng phải xác định là lâu dài chứ không thể một chốc một nhát mà xong được", ông Sửu nhận định.
Nhưng theo ông, các đường lối, chủ trương, quy định pháp luật ngày càng hoàn thiện sẽ chặn được những kẻ hở.
Cùng với đó, các tổ chức có trách nhiệm ngày càng phát huy được vai trò, tác dụng như Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước…chắc chắn sẽ ngăn chặn, phát hiện sớm được những vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, tiêu cực.
(Theo GDVN) NHẬT MINH

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2019

Toan tính lợi ích riêng, nhiều quốc gia, chính khách nợ Việt Nam một lời xin lỗi

Cập nhật lúc 16:57              
                    
Chúng ta có thể tự hào vì đã chiến thắng trong chiến tranh nhưng sẽ hổ thẹn muôn đời nếu thua trong hòa bình.

Không ít ý kiến cho rằng hai cuộc chiến ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc Việt Nam thời kỳ những năm 70 thế kỷ trước xuất phát từ âm mưu của một số cá nhân mà Đặng Tiểu Bình là người quyết định cuối cùng. 
Thực ra không phải như vậy, phía sau cuộc chiến là những toan tính địa chính trị của nhiều thế lực trong đó có Mỹ và những đồng minh của Mỹ như Anh, Pháp, của một số nước là thành viên Liên hợp quốc trong đó có cả vài nước ASEAN,…
Thái Lan chính là quốc gia trung chuyển các nguồn viện trợ từ bên ngoài và cung cấp căn cứ cho lực lượng Khmer Đỏ sau khi Phnom Penh thất thủ.
Dồn sự chú ý vào Trung Quốc trong hai cuộc chiến biên giới mà quên vai trò của Mỹ và đồng minh của Mỹ là một sai lầm bởi chính quyền Mỹ không chỉ viện trợ vật chất mà còn ra sức bảo vệ Khmer Đỏ trong các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc. 
Sau khi thống nhất, Việt Nam bước vào giai đoạn vô cùng khó khăn bởi sự kiệt quệ kinh tế, sự cấm vận, cô lập trên trường quốc tế do Mỹ khởi xướng. 

 
Hà Nội - Thành phố vì hoà bình. Ảnh minh hoạ: VTV

Là kẻ bại trận, Pháp và Mỹ không khỏi cay cú khi phải cuốn gói khỏi Việt Nam.
Nhìn nước Việt Nam thống nhất sau bao mưu đồ chia cắt không thành công, Đặng Tiểu Bình và giới lãnh đạo Trung Quốc lúc đó không thể nuốt hận.
Kết quả là một liên minh ma quỷ ra đời và những kẻ chủ mưu hy vọng những cuộc chiến tranh biên giới ở hai đầu đất nước có thể làm Việt Nam sụp đổ.
Ngày 7/1/1979 quân đội nhân dân Việt Nam cũng các lực lượng yêu nước Campuchia giải phóng Phnom Penh, cứu đất nước Campuchia khỏi ách diệt chủng tàn bạo nhất thế kỷ 20.
Tàn quân Khmer Đỏ rút về phía tây và được Thái Lan hậu thuẫn lập căn cứ trong đất Thái, Khmer Đỏ vẫn nhận được viện trợ vật chất và pháp lý từ Mỹ, Anh, Trung Quốc và một số tổ chức quốc tế mà các nước này có tiếng nói quyết định.
Bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu quốc tế nêu dẫn chứng:
“Tới năm 1985, tiền CIA viện trợ cho các nhóm du kích Campuchia gồm Khmer Đỏ lên tới 12 triệu.
Theo điều khoản McCollum, cơ quan cấp viện USAID cũng chuyển quân trang quân dụng không sát thương dư thừa cho các nhóm du kích đóng ở Thái Lan, đạt con số 13 triệu USD năm 1989…
Luật sư của Ta Mok là Benson Samay nói tòa án sẽ được nghe chi tiết về chuyện từ 1985 đến 1989, SAS (Special Air Service – đặc nhiệm Anh) đã mở hàng loạt trại huấn luyện cho đồng minh của Khmer Đỏ ở Thái Lan, và lập ra một ‘tiểu đoàn phá hoại (sabotage battalion) với 250 chuyên gia dùng chất nổ và phục kích.
Các chuyên gia tình báo ở Singapore cũng giảng dạy các khóa học”. [1]
Cuộc chiến ở hai đầu biên giới Việt Nam thực ra không phải chỉ diễn ra trong năm 1979 mà bắt đầu từ khi Khmer Đỏ với sự hậu thuẫn của Mỹ và Trung Quốc tiến hành tấn công Việt Nam ngay từ năm 1975.
Mở đầu là các cuộc pháo kích vào Tịnh Biên (An Giang), tấn công giết hại hơn 500 dân thường tại đảo Thổ Chu (tháng 10/1975),…
Sự liên quan của Mỹ, Trung Quốc và các thế lực khác trong hai cuộc chiến biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Khmer Đỏ cho đến gần đây mới được làm sáng tỏ không phải chỉ bởi lịch sử không thể bị che đậy, xuyên tạc mà còn vì sự thay đổi thái độ của các quốc gia từng là kẻ thù của Việt Nam.
Ngày càng có nhiều người không thể im lặng trước những luận điệu bóp méo, đổi trắng thay đen nhằm trốn tránh trách nhiệm của không ít chính khách và chính quyền đương nhiệm.
Nhiều tài liệu được giải mật, nhiều tư liệu điều tra công phu công bố gần đây cho thấy chính quyền của Tổng thống Nixon đã hỗ trợ thế nào cho Trung Quốc không chỉ trong cuộc chiến biên giới 1979 mà còn ở Hoàng Sa, Trường Sa và biên giới phía Tây Nam.
Bốn mươi năm trước, đầu năm 1979, người viết bài này đã cùng trung đoàn tự vệ chiến đấu Thái Nguyên tăng cường cho mặt trận biên giới, đã cùng đồng đội cầm súng đứng trong chiến hào phòng tuyến cầu Khánh Khê, mặt trận Lạng Sơn.
Triền đồi bên kia sông là trận địa mìn của quân Trung Quốc. 
Ít người biết rằng cả một tiểu đoàn chiến sĩ mặc thường phục giữ chốt lúc đó bữa ăn chỉ có hạt bo bo luộc với cà pháo, vũ khí chỉ có súng bán tự động K63, 200 viên đạn mà mấy quả lựu đạn chày.
Nhắc lại điều này để thấy, lực lượng quân sự của Việt Nam tại vùng biên giới phía Bắc sau năm 1975 là khá mỏng, ngoài vài sư đoàn chủ lực, còn lại là bộ đội địa phương, biên phòng và dân quân tự vệ.
Với lực lượng như vậy làm sao Việt Nam có thể tấn công Trung Quốc để nước này “Phản kích tự vệ”?
Tiếc rằng luận điệu này đã đã nhận được sự hậu thuẫn của Mỹ và một số đồng minh, và vì thế đã lừa bịp được không ít người, tạo cái cớ để khá nhiều quốc gia hậu thuẫn lực lượng bành trướng tại các diễn đàn quốc tế, trong đó có Liên hợp quốc.
Cuộc chiến biên giới Tây Nam và phía Bắc sau năm 1975 có phải là cuộc chiến giữa các quốc gia cùng chung ý thức hệ hay chỉ là hệ quả của các âm mưu đen tối mà các cường quốc bày đặt sau lưng các nước yếu?
Về câu hỏi này cần có đôi chút giải thích về khái niệm “ý thức hệ”.
“Ý thức hệ” hay “hệ tư tưởng” là hệ thống các mục đích và quan niệm về chính trị, luật pháp, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học… giúp điều chỉnh mục tiêu, dự tính và hành động của một cộng đồng (con người).
Một ý thức hệ có thể hiểu như một tầm nhìn bao quát, như cách thức để xem xét sự vật và định hướng chính sách.
Theo ý nghĩa đó, “ý thức hệ” gắn với một cộng đồng, khi cộng đồng là cả dân tộc thì ý thức hệ mới trở thành “ý thức hệ quốc gia”.
Bè lũ diệt chủng Khmer Đỏ và Việt Nam hoàn toàn khác nhau về ý thức hệ dù ban đầu những tên đầu sỏ Khmer Đỏ cũng tự nhận mình là cộng sản.
Với Trung Quốc thì khác. Suốt chiều dài lịch sử, từ thời Bà Trưng, Bà Triệu, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê cho đến cuối những năm 70 của thế kỷ 20, người Việt luôn phải cầm vũ khí chống lại các đạo quân hùng hậu mà các vua chúa nhà Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh phát động nhằm đô hộ Việt Nam. 
Với giọng điệu giống hệt các hoàng đế Trung hoa trước đây: “Dạy cho Việt Nam một bài học”, mục đích của kẻ đầu sỏ phát động cuộc chiến năm 1979 trên toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam cũng không khác những gì đã diễn ra trong quá khứ là nhằm khuất phục Việt Nam, biến Việt Nam thành nước lệ thuộc về kinh tế và đối ngoại và chính trị. 
Tất nhiên đó không phải là suy nghĩ của đa số người dân lao động Trung Quốc.
Khu vực sinh sống của các bộ tộc Việt cổ đại trước đây nằm ở phía nam Trung Quốc và phía Bắc Việt Nam ngày nay.
Sử ký Tư Mã Thiên (Ngô Khởi truyện) hoàn thành năm 91 trước công nguyên đã đề cập đến cụm từ “Bách Việt” (một trăm bộ tộc Việt).
Nhiều bộ tộc Việt bị người phương Bắc đánh bại, bị đồng hóa trở thành người Hán.
Chỉ còn lại hai bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt không bị đồng hóa lập nên nhà nước Âu Lạc tức là Việt Nam ngày nay.
Bị người Hán dồn ép từ phía Bắc, để bảo vệ không gian sống và duy trì nòi giống, người Việt bắt buộc phải di dân xuống phía nam. 
Vua Chiêm Thành Chế Mân, đã đem châu Ô, châu Lý (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên - Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm sính lễ cầu hôn công chúa Huyền Trân.
Nhờ đám cưới của Huyền Trân công chúa mà biên cương Việt Nam mở rộng đến Quảng Trị.
Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, các cuộc di dân tự do đã khiến người Việt định cư tại vùng đồng bằng Nam bộ từ khoảng 500 năm trước. 
Hiệp ước ký tháng 12 năm 1845 giữa ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Campuchia) và các Hiệp định do người Pháp chủ trì đã chính thức thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ thuộc Việt Nam.  [2]
Năm 1975, sau khi nắm quyền ở Campuchia, Khmer Đỏ tạo nên một chế độ diệt chúng tàn bạo nhất thể kỷ 20 – như đánh giá của cộng đồng quốc tế.
Với sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ nước ngoài, Polpot đã đưa quân tấn công sâu vào lãnh thổ Việt Nam, tàn sát đồng bào ta ở biên giới phía Tây Nam. 
Đáp ứng lời kêu gọi của lực lượng cứu nước Camphuchia, trước nạn diệt chủng mà chúng thi hành với người dân nước này - trong đó có cộng đồng người Việt và người Chăm - Việt Nam đưa quân vào Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng.
Khi những tên lính cuối cùng của Khmer Đỏ đầu hàng, khi cuộc sống của người dân Campuchia trở lại bình thường, Việt Nam rút quân về nước. 
Tại phiên tòa ngày 16/11/2018, Tòa án đặc biệt Campuchia (ECCC) với sự phối hợp của Liên hợp quốc đã  tuyên án tội "diệt chủng" với các cựu thủ lĩnh chế độ Khmer Đỏ.
Thẩm phán Nil Nonn chủ trì phiên tòa tuyên đọc phán quyết, khẳng định chế độ Khmer Đỏ đã có chính sách tiêu diệt người Chăm và người Việt Nam để "tạo ra một xã hội vô thần và thuần nhất không phân chia giai cấp".
Việc Tòa án quốc tế tuyên bố Khmer Đỏ phạm tội diệt chủng với người Khmer, người Chăm và người Việt đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu cho rằng Việt Nam xâm lược Campuchia, và cũng cho thấy nhiều quốc gia, chính khách nợ Việt Nam một lời xin lỗi về những tội ác trực tiếp hoặc gián tiếp, những đau khổ họ gây ra đối với nhân dân Việt Nam.
Vì sao cho đến nay, một vài cựu quan chức, học giả nước ngoài trong các phát biểu hoặc công trình nghiên cứu vẫn giữ cụm từ “Việt Nam xâm lược Campuchia”?
Cần phải khẳng định, hành động quân sự của Việt Nam không khác gì quân đồng minh (Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp) đánh vào thủ đô Berlin, tiêu diệt phát xít Đức, những kẻ phát động chiến tranh thế giới lần thứ 2 và phạm tội diệt chủng với người Do Thái. 
Sau khi tiêu diệt Phát xít Đức, quân đội Mỹ và Liên Xô còn hiện diện nhiều năm ở Tây Đức và Đông Đức, thủ đô Berlin cũng bị chia làm hai phần ngăn cách bởi bức tường Berlin.
Mỹ và nhiều nước luôn hãnh diện tuyên bố quân đội nước họ đã tấn công vào tận sào huyệt phát xít Đức, cứu người Do Thái khỏi nạn diệt chủng.
Một khi thế giới chính thức thừa nhân Khmer Đỏ chủ động tấn công sâu vào lãnh thổ Việt Nam, phạm tội diệt chủng với người Việt, người Chăm và người Khmer (như kết luận của Tòa án quốc tế) thì hành động quân sự của Việt Nam là chính nghĩa, bảo vệ tổ quốc và đồng bào mình, cũng là cứu nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng.  
Vậy tại sao họ lại phê phán Việt Nam, cho đến nay họ vẫn không thay đổi quan điểm?
Thái độ hai mặt của một số chính khách, chính phủ, nhà nghiên cứu cho thấy lịch sử không phải lúc nào cũng được diễn giải đúng sự thật.
Giải thích, phê phán thái độ đó là điều mà  bất kỳ người có lương tri nào, thuộc bất kỳ quốc gia nào cũng phải làm. 
Chúng ta cần cho thế giới biết, người Việt không chỉ yêu cầu một lời xin lỗi mà còn khuyến cáo những người đang mơ hồ, họ cần nhận thức một cách có trách nhiệm bản chất phi nghĩa, xâm lược mà mà các lực lương quân sự nước ngoài trực tiếp gây ra với Việt Nam trong quá khứ cho đến cuộc chiến tại hai vùng biên giới phía Bắc và phía Tây Nam hơn 40 năm trước. 
Nhân loại dù rất cảnh giác song không ít lần bị các chính khách lừa dối. Sự cảnh giác của người Việt không chỉ vì độc lập tự do cho đất nước mình mà cũng còn vì hòa bình cho nhân loại. 
Chính một người Trung Quốc tên là Trại Cường (Zhai Qiang) – viết trong cuốn sách: “China and the Vietnam Wars, 1950-1975” (Trung Quốc và cuộc chiến tranh Việt Nam thời kỳ 1950-1975) nêu ý kiến: 
“Quan niệm Đại Hán theo đó Trung Quốc là cái nôi của thế giới. Các quốc gia nhỏ bé khác bên ngoài Trung Quốc, trong đó có Việt Nam, là man di và phải là những chư hầu trong vùng ảnh hưởng của Trung Quốc”.
Trước khi Trung Quốc đưa quân đánh Việt Nam năm 1979, nhiều ý kiến cho rằng vì hai nước đều do Đảng Cộng sản lãnh đạo, đều cùng thuộc phe xã hội chủ nghĩa nên hai quốc gia đều chung ý thức hệ!
Nhận định này thoạt đầu nghe có vẻ đúng đắn nhưng thực tế có phải vậy?
Khi các lợi ích địa chính trị gặp nhau thì ý thức hệ bị đẩy xuống vị trí thứ yếu nếu không nói là bị vứt bỏ.
Một tờ báo nổi tiếng thế giới viết:
“Pháp đến Geneve (Hội nghị đình chiến Đông Dương năm 1954 – NV) nhằm đạt được một cuộc ngừng bắn theo kiểu Triều Tiên để cứu đội quân viễn chinh, chia cắt Việt Nam, duy trì chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương.
Rõ ràng lập trường của Trung Quốc khác hẳn lập trường của Việt Nam, nhưng lại rất phù hợp với lập trường của Pháp”. [3]
Lập trường của Trung Quốc phù hợp với Pháp nhưng khác hẳn lập trường của Việt Nam chính là thực tế cho đến nay không phải ai cũng biết.
Học giả Ấn Độ Nayan Chanda, người sáng lập và là tổng biên tập của YaleGlobal Online (một tạp chí trực tuyến xuất bản các bài viết về toàn cầu hóa) trong cuốn Brothers Enemy (Huynh đệ tương tàn – bản dịch của Hoàng Long Hải) dẫn lời Paul Mus nguyên là cố vấn của cao ủy Pháp ở Đông Dương như sau: 
“Trung Hoa nhượng bộ Pháp ở hội nghị Genève để ngăn chận Việt Nam chiếm toàn cõi Đông Dương, rằng điều quan tâm trước nhất của Trung Hoa trong hội nghị này là an ninh của họ”. [4]
Quan điểm của Paul Mus nhận được sự ủng hộ của nhiều người trong đó có nhà sử học người Pháp Francoise Joyaux.
Xin trích dẫn một số đoạn trong cuốn trong cuốn Brothers Enemy 
“Chu (Ân Lai) nói với Pháp trong cuộc thảo luận rằng Trung Hoa muốn kéo dài sự hiện hữu hai nước Việt Nam, và nói chung là muốn biên giới Trung Hoa tiếp giáp với nhiều nước (nhỏ) … Bắc Kinh vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách bằng mọi cách duy trì một Đông Dương manh mún không có một sức mạnh nào vượt trội”.
“Việc Trung Hoa viện trợ cho cuộc chiến đấu của Cộng sản Việt Nam  vượt quá trách nhiệm của tình đồng chí. Đó là sự kiện bắt buộc vì chính an toàn của Trung Hoa. Vợ Mao, Giang Thanh, nói với phái viên nhiếp ảnh người Mỹ của bà “Nếu Bắc Việt Nam không chiến đấu thì kẻ thù sẽ tấn công vào Trung Hoa”…”.
Trong cuốn “On China” cựu Bộ trưởng ngoại giao Mỹ H. Kissinger - người được dư luận coi là “bạn” của Trung Quốc – đã có hai đánh giá đáng chú ý được các dịch giả dịch sang tiếng Việt như sau:
“Mỹ thì chống miền Bắc Việt Nam, coi đó như mũi giáo xung kích của một liên minh Xô-Trung. Trung Quốc thì giúp đỡ Hà Nội để làm cùn bớt lưỡi dao của Mỹ thọc vào châu Á. Cả hai đều nhầm. Hà Nội chỉ chiến đấu vì một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ”.
 "Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của phong trào cộng sản cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc". 
H. Kissinger đã đúng khi cho rằng người Việt chỉ chiến đấu “vì một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ” nhưng ông ta đã không đúng khi đánh giá cuộc chiến biên giới 1979.
Đây không phải là cuộc “chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực” giữa các “trung tâm quyền lực cộng sản” mà là cuộc chiến tranh xâm lược do một quốc gia thành viên Liên hợp quốc tiến hành với một quốc gia có chủ quyền khác. 
Tuy nhiên H. Kissinger cũng đã đúng khi cho rằng phía chủ động gây chiến (Trung Quốc) “hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc" của họ.
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mục đích tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc hết sức rõ ràng, ý đồ đánh Việt Nam để cứu vãn chế độ Khmer Đỏ tại Campuchia chỉ là mục tiêu ngắn hạn, thăm dò thái độ và thực lực của Liên Xô cũng là mục tiêu ngắn hạn.   
Mục tiêu chiến lược là không có quốc gia nào đủ mạnh nằm sát biên giới Trung Quốc.
Trong nửa thế kỷ qua, Mỹ là nước trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên nhiều cuộc chiến tranh nhất trên thế giới.
Trung Quốc ít nhất cũng gây ra ba cuộc chiến tranh biên giới với Liên Xô, Ấn Độ và Việt Nam.
Vậy vì sao có thời kỳ Trung Quốc lại giúp Việt Nam khá nhiều vũ khí, lương thực, trang thiết bị cho quân đội đánh lại quân Mỹ và đồng minh?
Thứ nhất, như lời Giang Thanh nói “Nếu Bắc Việt Nam không chiến đấu thì kẻ thù sẽ tấn công vào Trung Hoa”.
Người Việt “Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cùng phải giành cho được tự do, độc lập” vậy nên chúng ta luôn cảm ơn những sự giúp đỡ từ bên ngoài trong đó có Trung Quốc.
Giúp Việt Nam đánh Pháp và sau này là đánh Mỹ không có gì khác hơn chính là vì lợi ích của Trung Quốc như chính lời bà Giang Thanh thừa nhận.
Thứ hai, kinh nghiệm xương máu từ cuộc chiến tranh Triều Tiên đã dạy cho Trung Quốc một bài học nhớ đời.
Khi Mỹ đổ quân vào bán đảo này tham gia cùng quân đội Nam Triều Tiên, quân đội Bắc Triều Tiên bị đẩy lùi về phía bắc, đến sát biên giới Trung Quốc.
Không còn cách nào khác Trung Quốc buộc phải đưa quân vượt sông Áp Lục tham chiến.
Một số tài liệu cho rằng Trung Quốc mất khoảng 600.000 quân, còn theo SCMP (South China Morning Post – Bưu điện Hoa Nam buổi sáng, phát hành tại Hồng Kông), khoảng 149.000 đến 400.000 binh sĩ Trung Quốc đã bị thiệt mạng trong Chiến tranh Triều Tiên.
Mất hàng trăm nghìn binh sĩ mới đẩy được liên quân Mỹ - Hàn trở về giới tuyến cũ (vĩ tuyến 38) thực sự là cái giá quá đắt cho việc đẩy quân đội nước ngoài (Mỹ) ra xa biên giới phía đông bắc của Trung Quốc.
Từ kinh nghiệm Triều Tiên, vấn đề “Đẩy chiến tranh cách xa biên giới phía nam (Trung Quốc), để tránh “kẻ thù sẽ tấn công Trung Hoa”, sẽ phải đặt trong chiến lược của những người lãnh đạo Bắc Kinh, nếu chỉ tốn một số vũ khí, vật tư, lương thực mà không tốn sinh mạng binh sĩ thì tại sao không làm?
Khi một quốc gia cung cấp vũ khí, quân trang, lương thực cho Khmer Đỏ để họ gây chiến với Việt Nam, thực hiện chính sách diệt chủng không chỉ người Chăm, người Việt mà chính cả người Khmer thì không khó để kết luận quốc gia đó “quyết tâm đánh Việt Nam đến người Khmer cuối cùng”. 
Tuyên bố: “Người không động đến ta thì ta không động đến người” là một tín hiệu cho nước Mỹ, ngay sau cái bắt tay tội lỗi được thực hiện vào tháng 2/1972 ở Bắc Kinh, đến cuối năm Mỹ ném bom rải thảm Hà Nội.
Đổi lại, Mỹ gây sức ép với Hải quân Việt Nam Cộng hòa để Trung Quốc rảnh tay đánh chiếm phần phía tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974.
Với sự hợp tác giữa Mỹ, Anh, Pháp và một số quốc gia khác, các cuộc chiến ở Nam Tư cũ, Iraq, Syria,… đã gây nên các thảm họa nhân đạo khiến hàng triệu người phải rời bỏ quê hương, vậy nên sẽ đừng ngạc nhiên nếu một lúc nào đó, giới bình luận quốc tế lại đưa ra ý kiến: “Nước A muốn đánh nước B đến người nước C cuối cùng”. 
Khi âm mưu đen tối của các thế lực quốc tế nhằm chia cắt Việt Nam thành hai miền thất bại, lợi ích quốc gia lại khiến họ gặp nhau trong mưu đồ làm suy yếu nước Việt, cuộc chiến phía biên giới Tây Nam và phía Bắc nổ ra sau khi Việt Nam thống nhất là minh chứng.
Báo Thediplomat.com trong bài: “Cambodia and China: Rewriting (and Repeating) History” (Campuchia và Trung Quốc: viết lại (và làm sáng tỏ lại) lịch sử) dẫn ý kiến ông Hun Sen gửi Tổng thư ký Liên hợp quốc Kurt Waldheim vào tháng 1/1979 như sau:
“Described the government he had just helped overthrow, as “the barbarous genocidal regime of the Pol Pot clique, instrument of Beijing’s expansionist policy”.
“Dịch: (ông Hun Sen - NV) Mô tả chính phủ vừa bị lật đổ như là chế độ diệt chủng dã man của bè lũ Pol Pot, công cụ của chính sách bành trướng của Bắc Kinh”. [5]
Mỹ cũng là một trong những đồng minh ủng hộ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ. 
Bài viết trên Thời báo New York cuối năm 1981với tiêu đề: “Reagan Is Urged to End U.N. Support of Pol Pot” (Tổng thống Mỹ Reagan được khuyến khích chấm dứt sự hỗ trợ bè lũ Pol Pot) dẫn ý kiến hơn 130 người nổi tiếng, bao gồm các chính trị gia, diễn viên điện ảnh, nhà văn, nhân vật học thuật và các nhà lãnh đạo tôn giáo và nhân đạo như sau:
“'We are profoundly disturbed that for the third year the United States voted to keep Pol Pot's Democratic Kampuchea in the United Nations''.
(Dịch: “Chúng tôi thấy bất bình rằng trong ba năm Hoa Kỳ vẫn bỏ phiếu duy trì Campuchia Dân chủ của Pol Pot ở Liên Hiệp Quốc”). [6]
Không khó tìm kiếm vô số tài liệu từ các nước phương Tây lật lại lịch sử cuộc chiến mà dân tộc Việt Nam phải tiến hành chống xâm lược ở các vùng biên giới.
Những kẻ phát động chiến tranh thường viện dẫn lợi ích quốc gia của họ, có điều thế giới thừa biết chiến thuật đẩy mâu thuẫn nội bộ ra ngoài biên giới bằng các cuộc chiến phi nghĩa, hậu quả là hàng vạn binh lính bị thương, bị chết.
Đau thương cũng đè lên đôi vai chính người dân các quốc gia gây chiến chứ không chỉ nước bị xâm phạm.
Pháp, Mỹ, Trung Quốc, Khmer Đỏ, những kẻ phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam không chỉ gây tội ác với người Việt mà còn với chính đồng bào của họ.
Việt Nam ngày nay mong muốn làm bạn với cả thế giới, với chính sách ngoại giao cân bằng, liệu chúng ta có đang tự đặt mình vào vị thế giống như vật thể được treo bằng nhiều sợi dây, căng bên trong một vòng tròn. Lực căng đều nhau thì vật thể nằm ở trọng tâm, nếu một vài sợi dây đứt thì vật thể sẽ mất cân bằng, có thể bị rơi xuống.
Đường lối chính trị của Việt Nam là phải làm sao để Việt Nam trong tương lai là người nắm một đầu dây ở phía biên vòng tròn chứ không phải nắm nhiều đầu dây ở giữa. 
Điều này chỉ có thể xảy ra nếu chúng ta có một nền kinh tế mạnh đủ sức trang bị cho quân đội các khí tài hiện đại.
Một quốc gia hùng cường với sự đoàn kết tuyệt đối giữa dân và lãnh đạo là vũ khí duy nhất khiến những cái đầu nóng phải nguội.
Chúng ta có thể tự hào vì đã chiến thắng trong chiến tranh nhưng sẽ hổ thẹn muôn đời nếu thua trong hòa bình.
Đó không phải là mong mỏi hay lời nhắn nhủ, đó là điều cha ông chúng ta, lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta bắt buộc thế hệ hôm nay phải suy nghĩ, phải làm sao đưa đất nước phát triển ngang hàng với mọi quốc gia trên thế giới.
Tài liệu tham khảo:
[1]http://nghiencuuquocte.org/2018/11/20/ai-tung-tro-giup-khmer-do-khang-chien/
[2] https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_B%E1%BB%99_(Vi%E1%BB%87t_Nam)
[3] https://www.bbc.com/vietnamese/forum-38628670
[4] https://phanba.files.wordpress.com/2017/05/anhemthudich.pdf
[5]https://thediplomat.com/2018/01/cambodia-and-china-rewriting-and-repeating-history/
 [6] https://www.nytimes.com/1981/12/10/world/reagan-is-urged-to-end-un-support-of-pol-pot.html
(Theo GDVN) Xuân Dương

Ban quản lý đường sắt đô thị TP.HCM xin tạm ứng 39 tỉ để trả lương

Cập nhật lúc 14:42  

Ban quản lý đường sắt đô thị TP.HCM vừa có văn bản khẩn gửi Thường trực UBND TP.HCM về việc xin tạm ứng kinh phí hoạt động để trả lương cho cán bộ, người lao động. 

 Ban quản lý đường sắt đô thị TP.HCM xin tạm ứng 39 tỉ để trả lương - Ảnh 1.
Tuyến metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) dự kiến hoàn thành trong năm 2020 - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Ban Quản lý đường sắt đô thị TP.HCM cho biết tình hình kinh phí hoạt động năm 2019 tiếp tục gặp nhiều khó khăn do chưa được tạm ứng kịp thời mặc dù ban đã có văn bản kiến nghị từ tháng 11-2018 và lãnh đạo TP.HCM đã họp nhiều cuộc giải quyết vướng mắc.
Tính từ 31-1 đến nay, cán bộ, viên chức và người lao động của ban mới chỉ nhận được 2 tháng lương theo mức lương cơ sở để chăm lo cho Tết Nguyên đán và đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu trong thời gian chờ UBND TP cho tạm ứng kinh phí. 
Số tiền chi trả lương trên được sử dụng từ tiền tạm ứng không sử dụng hết từ năm 2018.
Theo Ban Quản lý đô thị đường sắt đô thị TP.HCM, tình hình khó khăn trên một lần nữa lại làm tinh thần của đa số cán bộ, viên chức người lao động bất an và tiếp tục rơi vào giai đoạn khó khăn vì thu nhập không đủ trang trải cuộc sống. 
Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến nỗ lực ổn định tình hình khó khăn chung xảy ra trong thời gian qua.
Mặt khác, thời gian qua tập thể ban đang dồn sức thực hiện ổn định công tác tổ chức bộ máy, lấy lại niềm tin của nhà tài trợ, nhà thầu, tăng tốc thi công nhằm đưa tuyến metro số 1 hoàn thành vào cuối năm 2020.
Ban quản lý đường sắt đô thị TP.HCM kiến nghị UBND TP chấp thuận cho tạm ứng 39 tỉ đồng để chi tiền lương, thu nhập, khen thưởng và phúc lợi, đào taạo… nhằm duy trì hoạt động ổn định.
Tháng 11-2018, ban đã có báo cáo về biến động tình hình nhân sự, trong đó nêu việc thiếu nhân sự chủ chốt các phòng ban và cả lãnh đạo ban làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ do đơn nghỉ việc dồn dập.
Cụ thể, tính từ 7-2016 đến tháng 11-2018 có tới 45 người nghỉ việc, trong số đó có 5 lãnh đạo phòng ban, 37 chuyên viên và thêm 3 người nghỉ do tinh giản biên chế.
Ngoài số nhân sự nghỉ trên, còn có một số lãnh đạo cấp phòng, lãnh đạo ban cũng nộp đơn xin nghỉ. Tính tổng cộng, thời điểm trên người đã nghỉ và nộp đơn xin nghỉ lên tới hơn 50.
Kể từ ngày 4-1, UBND TP đã bổ nhiệm ông Bùi Xuân Cường - giám đốc Sở Giao thông vận tải TP.HCM - giữ chức vụ trưởng ban thay ông Lê Nguyễn Minh Quang. Ông Quang là người nhiều lần làm đơn xin nghỉ việc trước đó.
Sau đó, một số lãnh đạo phòng, ban xin ở lại làm việc dù trước đó đã gửi đơn xin nghỉ, trong đó có ông Dương Hữu Hòa - giám đốc Ban quản lý dự án 1 thuộc Ban. 
(Theo Tuổi Trẻ) ĐỨC PHÚ

Vụ "tố" xâm hại hàng chục nữ sinh: Vỗ mông, sờ nơi nhạy cảm chỉ là trò đùa?

Cập nhật lúc 14:38  

Theo báo cáo, thầy D.T.M, giáo viên Trường Tiểu học Tiên Sơn (Bắc Giang), bị tố xâm hại nhiều nữ sinh, cho rằng hành động véo vào mũi, vỗ tai và mông nhiều học sinh trên lớp chỉ là hành động "vui đùa".

Trưa 4-3, trao đổi với Báo Người Lao Động, bà Đỗ Thị Hương, Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Việt Yên (tỉnh Bắc Giang), cho biết phòng đã nắm được thông tin phụ huynh tố thầy giáo D.T.M, chủ nhiệm một lớp 5 ở Trường Tiểu học Tiên Sơn, xâm hại nhiều nữ học sinh.
"Theo báo cáo từ phía Trường Tiểu học Tiên Sơn, trưa ngày 1-3, thầy M. nhận lời mời của 2 phụ huynh học sinh đến ăn cơm, trong bữa cơm thầy có uống rượu. Chiều 1-3, thầy lên lớp giảng dạy và có hành động là véo vào mũi, vỗ tai và mông nhiều học sinh" - bà Hương nói.
Theo bà Hương, thầy M. trong tường trình cho rằng đó chỉ là hành động "vui đùa". 

Vụ tố xâm hại hàng chục nữ sinh: Thầy chủ nhiệm tường trình gì? - Ảnh 1. 
Tường trình của thầy D.T.M

Trong khi đó, theo tường trình của thầy D.T.M, trưa ngày 1-3, thầy M. nhận lời mời của 2 phụ huynh học sinh đến ăn cơm, trong bữa cơm thầy có uống rượu và đã uống quá chén. Vào buổi chiều, thày M. phụ đạo ngoài giờ học cho một số em học sinh.
Thầy M. thừa nhận có một số hành vi với học sinh trong giờ học phụ đạo buổi chiều cùng ngày. "Trong chiều hôm đó tôi đã có hành động là véo vào mũi, vỗ tai và mông học sinh" - thầy M. tường trình.
Thầy M. cho biết khi hết giờ thầy đã về nhà và đi ngủ. Sau đó, thầy M. cho biết đã giật mình dậy khi nghe vợ thông báo có một số phụ huynh học sinh của lớp phản ánh việc làm của thầy. "Lúc này tôi không nhớ rõ và rất hoang mang về sự việc xảy ra. Sau đó, tôi cùng vợ lên họp tại đình Chúc Núi với các phụ huynh cùng các cơ quan chức năng" - thầy M. tường trình.
Tại đây, thầy M. đã được yêu cầu viết bản tường trình. "Trong lúc không tỉnh táo, tôi thực hiện việc này rất khó khăn. Cùng với đó, lãnh đạo thôn cũng lấy lời khai của 5 em học sinh lớp tôi và đọc biên bản trước cuộc họp. Trong lúc tinh thần hoang mang, chưa tỉnh táo tôi đã không nắm được toàn bộ nội dung của biên bản. Sau đó, tôi đã ký vào biên bản theo yêu cầu" - thầy M. viết trong tường trình.
Thầy M. cho biết sau đó thầy được công an viên của xã áp tải ra về, khi đến cổng đình đã bị một nhóm người hành hung.
Bà Đỗ Thị Hương cho biết sau khi nhận thông tin, phòng đã báo cáo UBND huyện và xin ý kiến chỉ đạo để tiếp tục xác minh. Hiện tại, hai bên phía thầy và phụ huynh vẫn còn ý kiến trái chiều, nên cần xác minh thêm.
Trước đó, phản ánh với báo chí, một phụ huynh của học sinh lớp 5, Trường Tiểu học Tiên Sơn phản ánh về việc ông D.T.M, là giáo viên chủ nhiệm lớp 5 này, đã có hành vi xâm hại tình dục với hàng loạt nữ sinh của lớp này.
Theo phản ánh của phụ huynh này, giáo viên M. đã có hành vi xâm hại vào vùng nhạy cảm của hơn 10 em học sinh nữ trong lớp. Vì sự việc nhạy cảm nên đã phản ánh đến cơ quan chức năng ngành giáo dục địa phương. 
Hiện, Công an huyện Việt Yên cũng đang xác minh, làm rõ vụ "tố" thầy giáo có hành vi xâm hại tình dục nhiều nữ học sinh tiểu học.
(Theo Người Lao Động) Ng. Hưởng
Tranh cãi việc xử lý hình sự doanh nghiệp chây ì đóng BHXH

Cập nhật lúc 09:04      

Bảo hiểm xã hội cho rằng doanh nghiệp chây ì, trốn đóng bảo hiểm nhiều năm với số tiền lớn, đề nghị khởi tố để điều tra.

 Gần 2.000 công nhân Công ty Texwell Vina (khu công nghiệp Bàu Xéo, H.Trảng Bom, Đồng Nai) bị chủ doanh nghiệp nợ lương gần 13,7 tỉ đồng và nợ BHXH hơn 17,5 tỉ đồng, nay chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn
 /// Ảnh: Lê Lâm
Gần 2.000 công nhân Công ty Texwell Vina (khu công nghiệp Bàu Xéo, H.Trảng Bom, Đồng Nai) bị chủ doanh nghiệp nợ lương gần 13,7 tỉ đồng và nợ BHXH hơn 17,5 tỉ đồng, nay chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn. Ảnh: Lê Lâm

Cơ quan điều tra nêu quan điểm “đây chỉ là hoạt động dân sự” và muốn xử lý hình sự phải chứng minh được “hành vi gian dối”. Vậy việc chứng minh thuộc chức trách của ai?
Ông Nguyễn Đình Chất, Phó giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Bình Thuận, cho biết tính đến cuối tháng 1.2019, BHXH Bình Thuận còn bị doanh nghiệp (DN) nợ tiền BHXH hơn 97 tỉ đồng. Trong số này, nợ chậm đóng (dưới 1 tháng) chiếm 43%; nợ đọng (từ 1 tháng đến 3 tháng) chiếm 16%; nợ kéo dài (từ 3 tháng trở lên) chiếm 35% và nợ khó thu (tức DN mất liên lạc, giải thể, không còn người lao động) chiếm khoảng 6%. Mới đây cơ quan này đã tập hợp hồ sơ 7 DN chây ì, cố tình trốn đóng BHXH sang Cơ quan CSĐT Công an tỉnh để điều tra, khởi tố theo điều 216, bộ luật Hình sự (BLHS) 2015. Đây là những DN cố tình trốn không đóng BHXH nhiều tháng liền, thậm chí nhiều năm. Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT trả lời đây chỉ là hoạt động dân sự, không cấu thành tội hình sự nên không xử lý hình sự được.

Hình sự hay dân sự ?

Cụ thể, theo công văn Công an Bình Thuận trả lời BHXH Bình Thuận, các hành vi vi phạm (không đóng BHXH cho người lao động - PV) của các DN bị BHXH Bình Thuận tập hợp gửi sang để điều tra “là hành vi vi phạm luật dân sự, do nợ tiền BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), không có dấu hiệu tội phạm về hành vi gian lận, trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN theo điều 214, 215, 216 BLHS 2015”.
Nhận được công văn, BHXH Bình Thuận đã chủ trì, mời các ngành Công an, TAND tỉnh, Viện KSND, Sở Tư pháp để cùng bàn bạc và tháo gỡ. Tại cuộc họp liên ngành diễn ra sau đó, công an tỉnh vẫn giữ nguyên quan điểm: các DN không đóng BHXH chỉ là hoạt động dân sự. Công an tỉnh cho rằng BHXH phải chứng minh được hành vi “gian dối” hoặc “bằng thủ đoạn khác” của DN để không đóng bảo hiểm, trong đó phải làm rõ hành vi DN cố tình làm giả hồ sơ, làm sai lệch nội dung, hoặc che giấu sự thật nhằm trốn đóng bảo hiểm. Không làm rõ được các tình tiết trên thì chưa đảm bảo yếu tố cấu thành tội phạm, quy định tại điều 216 của BLHS.
Bà Lê Thị Tâm, Trưởng phòng Nghiệp vụ Viện KSND tỉnh Bình Thuận, cũng cho rằng các DN nợ tiền BHXH mà BHXH Bình Thuận chuyển sang Cơ quan CSĐT “mới hội đủ 3 điều kiện” cấu thành tội phạm quy định tại điều 216 BLHS 2015, đó là người có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động nhưng không đóng từ 6 tháng trở lên; đã bị xử phạt hành chính; trốn đóng BHXH trên 50 triệu đồng. Tuy nhiên, còn một yếu tố bắt buộc phải có thì mới cấu thành tội phạm là “gian dối” hoặc “bằng thủ đoạn khác”.
Ngược lại, bà Nguyễn Thị Hiệp Hòa, Phó chánh án TAND tỉnh Bình Thuận, không đồng tình với quan điểm xem việc các DN không đóng, hoặc đóng không đầy đủ BHXH, BHYT, BHTN là “hoạt động dân sự”. Theo bà Hòa, đây là loại tội phạm mới, cần bóc tách các khoản nợ trước và sau thời điểm 1.1.2018 để xử lý mới đúng quy định của luật.
“Điều 26 bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án là không có tranh chấp về BHXH, nên đây không phải là quan hệ dân sự”, bà Hòa phân tích.

Chứng minh tội phạm là trách nhiệm của cơ quan điều tra

Quan điểm bất đồng trong xử lý hình sự DN chây ì, trốn đóng BHXH không chỉ riêng ở Bình Thuận, mà ở nhiều tỉnh thành, khiến nợ đọng BHXH còn rất cao và việc thu hồi thiếu hiệu quả. Ông Nguyễn Hòa Bình, Phó vụ trưởng Pháp chế BHXH VN, cho biết sau 11 tháng thực hiện các quy định của BLHS năm 2015, đến đầu tháng 12.2018 đã có 15 BHXH tỉnh, TP chuyển sang CQĐT đề nghị xử lý hình sự các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN với tổng số 43 hồ sơ. Kết quả, mới chỉ có 2 vụ việc đã bị khởi tố; 1 vụ việc chuyển sang xử lý vi phạm hành chính do CQĐT xác định chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm; 10 vụ việc CQĐT không thụ lý với lý do hành vi vi phạm xảy ra trước thời điểm BLHS năm 2015 có hiệu lực; 1 trường hợp công ty đã tự nguyện trả hết nợ sau khi cơ quan BHXH chuyển hồ sơ cho CQĐT. Các trường hợp còn lại, CQĐT đang xem xét, nghiên cứu hồ sơ...
Việc DN trốn đóng bằng thủ đoạn, hành vi gian dối nào thì đó là biện pháp nghiệp vụ điều tra của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xử lý tin báo, tố giác tội phạm. Chính CQĐT, Viện KSND phải chứng minh được DN cố tình trốn đóng, chây ì
không đóng, chứ không phải trách nhiệm của BHXH


Ông Võ Văn Thêm, nguyên Phó viện trưởng Viện KSND cấp cao tại TP.HCM

Lý giải việc chậm trễ xử lý các DN nợ BHXH tại các địa phương, đại diện Vụ Pháp chế cho rằng còn có những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện. Cụ thể là chưa có hướng dẫn về quy trình, danh mục hồ sơ đối với việc chuyển hồ sơ cho cơ quan chức năng đề nghị điều tra, xử lý hình sự các đơn vị nợ nên địa phương còn lúng túng trong tổ chức thực hiện. BHXH các tỉnh, TP cũng gặp khó khăn trong việc xác định thế nào được coi là hành vi vi phạm, cách xác định các dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực BHXH, BHYT, BHTN nên cần phải cơ quan chức năng phối hợp tổ chức hướng dẫn, giải thích và tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu…
Trao đổi với PV Thanh Niên về thực tế nêu trên, nguyên Phó viện trưởng Viện KSND cấp cao tại TP.HCM Võ Văn Thêm cho rằng nguyên tắc chứng minh tội phạm trong tố tụng hình sự là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, không phải của BHXH. “Đóng bảo hiểm là nghĩa vụ của người sử dụng lao động. Thay vì đóng theo luật định nhưng DN lại chây ì, không đóng hoặc đóng không đầy đủ trong thời gian dài, liên tục… dù đủ điều kiện, khả năng, tức là đã trốn đóng bảo hiểm và ẩn nấp dưới hành vi gian dối hoặc thủ đoạn khác bất kỳ. Còn việc DN trốn đóng bằng thủ đoạn, hành vi gian dối nào thì đó là biện pháp nghiệp vụ điều tra của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình xử lý tin báo, tố giác tội phạm. Chính CQĐT, Viện KSND phải chứng minh được DN cố tình trốn đóng, chây ì không đóng, chứ không phải trách nhiệm của BHXH”, ông Thêm phân tích.

Theo BHXH VN, tính đến hết năm 2018, số nợ bảo hiểm phải tính lãi do DN chậm đóng từ 30 ngày trở lên là 5.715 tỉ đồng, bằng 1,7% tổng số phải thu (giảm 1,2% so với năm 2017). Trước đó, đến hết quý 3/2018, toàn ngành BHXH đã thanh tra chuyên ngành, thanh tra liên ngành và kiểm tra 13.640 đơn vị (trong đó, thanh tra chuyên ngành tại 4.959 đơn vị, thanh tra liên ngành tại 3.123 đơn vị, kiểm tra tại 5.558 đơn vị). Qua thanh tra phát hiện có 27.678 lao động thuộc đối tượng phải tham gia nhưng DN chưa tham gia hoặc đóng thiếu thời gian tham gia BHXH, BHTN, BHYT với số tiền phải truy đóng là 79,8 tỉ đồng; 39.021 lao động đóng thiếu mức quy định với số tiền phải truy đóng từ DN là 43,3 tỉ đồng. BHXH đã ban hành 631 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền xử phạt phải thu là 22,23 tỉ đồng.
(Theo Thanh Niên) Quế Hà-Phan Thương-Thu Hằng

Bị “tố” nợ ăn uống, tiếp khách hàng tỷ đồng: Lãnh đạo huyện Tương Dương lên tiếng

Cập nhật lúc 08:54    

 Theo đơn thư của nhiều hộ dân, Văn phòng UBND huyện Tương Dương (Nghệ An) đang nợ nhiều hộ dân kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn thị trấn Hòa Bình, huyện Tương Dương.  

 Bà Phan Thị Thanh Mùi, chủ nhà hàng Minh Mùi phản ánh sự việc 
với phóng viên
Bà Phan Thị Thanh Mùi, chủ nhà hàng Minh Mùi phản ánh sự việc với phóng viên

Bà Phan Thị Thanh Mùi, chủ nhà hàng Minh Mùi, có địa chỉ tại khối Hòa Đông, thị trấn Hòa Bình phản ánh: “Từ năm 2011 - 2013, văn phòng UBND huyện liên tục đặt cơm tiếp khách tại nhà hàng nhưng chưa thanh toán. Đến năm 2013, tổng số tiền các cơ quan của huyện nợ nhà hàng tôi là 162 triệu đồng. Sau đó, họ cho chúng tôi tạm ứng số tiền 70 triệu đồng. Hiện, họ vẫn còn nợ chúng tôi tổng số tiền là 92 triệu đồng”. Trong đơn yêu cầu thanh toán của mình, bà Mùi nêu cụ thể những lần huyện tiếp các đoàn khách từ các sở ban ngành ở tỉnh Nghệ An. Ngoài ra bà Mùi còn cung cấp thêm sổ nợ gốc có chữ ký của nhiều cán bộ đã và đang công tác tại UBND huyện Tương Dương.
Cũng rơi vào tình cảnh tương tự bà Mùi, bà Nguyễn Thị Lễ Quế, người từng có thời gian phục vụ tại nhà ăn UBND huyện Tương Dương cho biết: “Từ năm 2011 - 2015, tôi liên tục tổ chức nấu ăn cho các đoàn khách của văn phòng UBND huyện Tương Dương. Theo bảng đối chiếu công nợ chưa thanh toán, đến ngày 31/7/2015, ông Quang Văn Đặng với tư cách là Chánh Văn phòng đã xác nhận số tiền nợ của cơ quan này lên đến hơn 1,4 tỷ đồng”.
Theo biên bản đối chiếu công nợ của UBND huyện Tương Dương vào ngày 20/6/2016, từ năm 2011 - 2016, văn phòng UBND huyện thống nhất số nợ nhà hàng Vinh Phượng ở khối Hòa Bắc do ông Trần Văn Vinh làm chủ lên đến hơn 1 tỷ đồng. Đến năm 2015, cơ quan này đã chuyển trả hơn 500 triệu đồng và vẫn còn nợ nhà hàng 463 triệu đồng.
Nếu vi phạm sẽ xử lý theo quy định
Ông Vi Mỹ Sơn, Phó chủ tịch UBND huyện Tương Dương cho biết: “Văn phòng ủy ban huyện không thực hiện đối chiếu từng năm để nợ đọng kéo dài. Bên chủ nợ cũng không hỏi, bên nợ cũng không rà soát, có những khoản nợ từ năm 2009, qua 4 đời chánh văn phòng rồi. Trong báo cáo hàng năm, văn phòng UBND huyện không có những khoản nợ này. Chúng tôi phát hiện sự việc từ tháng 5/2018 và huyện đã thành lập đoàn thanh tra để xác minh.
Trách nhiệm này thuộc về chánh văn phòng và kế toán cơ quan của từng giai đoạn”. Cũng theo ông Sơn thì số tiền nợ trong đơn của nhiều hộ dân là không chính xác, không có hóa đơn chứng từ. Cụ thể, nhà hàng Vinh Phượng báo nợ hơn 1 tỷ, chúng tôi rà soát lại còn nợ hơn 200 triệu đồng; số tiền đang nợ của nhà hàng Minh Mùi chỉ hơn 40 triệu đồng.
“Riêng trường hợp của bà Nguyễn Thị Lễ Quế với số tiền lên đến hơn 1,4 tỷ đồng, chúng tôi đã rà soát kỹ các chứng từ thanh toán, khấu trừ dịch vụ nhà nghỉ, hiện tại văn phòng UBND huyện không còn nợ tiền ăn của bà Quế nữa”.
Liên quan đến vụ việc, ông Nguyễn Văn Hải - Bí thư Huyện ủy Tương Dương cho biết: “Có những khoản đã thanh toán cho người dân rồi nhưng anh em vẫn kê nợ, muốn có con số chính xác thì phải rà soát cụ thể. Chẳng hạn như bà Quế không nợ nhưng vẫn nói nợ. Ai nợ người ta cũng ghi cho ủy ban là không đúng. Quan điểm của tôi là nếu như cơ quan nợ của nhà hàng, của cá nhân, tập thể nào đó thì buộc phải trả cho họ thôi. Còn chỗ nào vi phạm công tác quản lý tài chính thì phải kỷ luật theo quy định của pháp luật”.

Bị “tố” nợ ăn uống, tiếp khách hàng tỷ đồng: Lãnh đạo huyện Tương Dương lên tiếng - ảnh 1
Sổ nợ của nhà hàng ghi rõ ngày tháng tiếp khách của huyện Tương Dương

Ngày 28/2, trao đổi với PV Tiền Phong, ông Vi Mỹ Sơn - Phó Chủ tịch UBND huyện Tương Dương (Nghệ An) cho biết, sau khi nhận được đơn thư của người dân, UBND huyện đã thành lập đoàn thanh tra để xác minh, làm rõ việc một số cơ quan, đơn vị nợ tiền của các hộ kinh doanh ăn uống trên địa bàn.
(Theo Tiền Phong) Cảnh Huệ

Kết quả hình ảnh cho cảnh cán bộ ăn nhậu lãng phí

Đây đúng là những khỏan nợ công đã chi vào các cái mồm riêng. Ở tầm quốc gia cũng thế thôi, khi món tiền có thể quá lớn nếu mồm không ăn hết thì cho vào túi riêng, còn nợ vẫn là công, dân sẽ trả.
Thương Giang

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2019

Vụ bán cảng Quy Nhơn: Thu hồi cổ phần, xử lý cán bộ sai phạm


Cập nhật lúc 14:47

 

Chính phủ chỉ đạo Bộ GTVT và Tổng công ty Hàng hải VN (Vinalines) thu hồi 75,01% cổ phần (CP) cảng Quy Nhơn đã bán cho nhà đầu tư sai quy định.

Vụ bán cảng Quy NhÆ¡n: Thu hồi cổ phần, xá»­ lý cán bá»™ sai phạm - Ảnh 1. 
Toàn cảnh cảng Quy Nhơn - Ảnh: NGUYỄN DŨNG

Ngoài ra cần xử lý nghiêm các cá nhân cố tình bán đứt cảng Quy Nhơn để chấn chỉnh quá trình CP hóa, chặn trước nguy cơ thất thoát tài sản nhà nước tại doanh nghiệp.
Bán cảng bằng 2 quyết định sai
Trước đó, khi ban hành kết luận thanh tra việc CP hóa cảng Quy Nhơn, Thanh tra Chính phủ nêu rõ Bộ GTVT với vai trò, trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực giao thông, vận tải, là cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước tại Vinalines chưa làm đúng chức năng, nhiệm vụ, để xảy ra nhiều vi phạm trong quá trình bán vốn nhà nước tại cảng Quy Nhơn.
Cụ thể, tháng 4-2013, bộ này đã đề nghị Thủ tướng cho phép CP hóa cảng Quy Nhơn, giảm tỉ lệ nắm giữ vốn của Nhà nước xuống 49%. 
Tiếp đó vào tháng 3-2014 bộ đề nghị Thủ tướng cho phép Vinalines chuyển nhượng hết 49% CP còn lại tại Công ty CP cảng Quy Nhơn.
Đề nghị này của Bộ GTVT không đúng với đề án tái cơ cấu Vinalines giai đoạn 2012-2015 đã được Thủ tướng phê duyệt trước đó, cụ thể là khi CP hóa cảng Quy Nhơn, Nhà nước sẽ nắm giữ 75% vốn điều lệ cảng. 
Hơn nữa, khi đề xuất bán hết 49% vốn tại Công ty CP cảng quy Nhơn cho Công ty Hợp Thành, Bộ GTVT đã phớt lờ các cảnh báo từ hai bộ KH-ĐT và Tài chính về các vấn đề kinh tế, an ninh, quốc phòng khi bán đứt cảng biển cho tư nhân.
Thời điểm đó, Vinalines cũng có văn bản gửi Bộ GTVT báo cáo, đánh giá về vai trò, tiềm năng của cảng Quy Nhơn, lợi ích hiện tại, lâu dài và đề nghị được duy trì tỉ lệ sở hữu 49% vốn điều lệ tại Công ty CP cảng Quy Nhơn. 
Nhưng Bộ GTVT đã không xem xét, mà tiếp tục có văn bản đề nghị Thủ tướng cho bán nốt 49% vốn nhà nước tại Công ty CP cảng Quy Nhơn. 
Hơn nữa, trong chuyển nhượng vốn nhà nước tại Công ty CP cảng Quy Nhơn, Bộ GTVT đã ban hành 2 văn bản cho phép Vinalines bán cho Công ty Hợp Thành 75,01% CP cảng Quy Nhơn theo phương thức thỏa thuận trực tiếp.
Từ những sai phạm trên, Thanh tra Chính phủ đã yêu cầu bộ hủy bỏ 2 văn bản và kiến nghị thu hồi 75,01% CP cảng Quy Nhơn đã bán cho Công ty Hợp Thành. 
Ngoài ra Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị Bộ GTVT chỉ đạo Vinalines xem xét, xử lý việc bán 10% CP cảng cho Công ty Hợp Thành tại thời điểm bắt đầu CP hóa cảng Quy Nhơn.
Sẽ kỷ luật tổ chức, cá nhân vi phạm
Việc xử lý các tổ chức, cá nhân có sai phạm trong vụ mua bán CP cảng Quy Nhơn, theo ông Bùi Ngọc Lam - phó tổng Thanh tra Chính phủ, đang được tiến hành. 
Theo quy trình xử lý vụ việc thì Vinalines và Bộ GTVT đang tiến hành kiểm điểm trách nhiệm. Các cá nhân có vi phạm liên quan đang được trình lên cấp có thẩm quyền xem xét và đang làm thủ tục để kiểm điểm.
Ông Bùi Ngọc Lam cho biết thêm sau khi kiểm điểm sẽ tiến hành xử lý kỷ luật các tổ chức, cá nhân có vi phạm. 
"Trong vụ việc này, Nhà nước sẽ không mua lại CP cảng Quy Nhơn mà sẽ thu hồi 75,01% CP cảng Quy Nhơn vì quá trình thoái vốn không đúng" - ông Bùi Ngọc Lam khẳng định.
Theo luật sư Bùi Đình Ứng - Đoàn luật sư TP Hà Nội, kết quả thanh tra cho thấy Bộ GTVT, Vinalines đã làm trái quy định của Nhà nước khi bán tất vốn tại cảng Quy Nhơn. 
Kết luận thanh tra về sai phạm đã đưa ra, nhưng vấn đề theo luật sư Bùi Đình Ứng hiện nay cần làm là truy trách nhiệm ai là người ban hành 2 văn bản trái quy định để bán CP cho Vinalines phải xử lý. 
Thứ hai, người quyết định bán 75,01% vốn nhà nước tại cảng cũng cần phải xem xét trách nhiệm.
Từ một góc nhìn khác về thương vụ bán CP cảng Quy Nhơn, TS Vũ Đình Ánh - Viện Nghiên cứu thị trường giá cả - lại cho rằng CP cảng Quy Nhơn đã bán rồi, giờ thu lại CP vì thương vụ mua bán không hợp pháp, hoặc trái quy định thì phải hoàn trả nhà đầu tư phần tiền họ đã bỏ ra mua. 
Có thể có cơ chế bồi thường trong trường hợp nhà đầu tư mua cảng không hề vi phạm mà người vi phạm là phía cơ quan quản lý cảng Quy Nhơn.
TS Vũ Đình Ánh cũng cho rằng việc thu hồi CP đã bán tại cảng Quy Nhơn là vấn đề bình thường vì đã có sai phạm trong mua bán CP nhà nước thì phải xử lý, không thể bỏ qua được. 
Việc làm này góp phần chấn chỉnh hoạt động CP hóa doanh nghiệp nhà nước, để làm sao không làm thiệt hại đến tài sản nhà nước.
Luật sư Bùi Đình Ứng: “Cần xử lý các tổ chức, cá nhân liên quan đến các sai phạm trong mua bán CP cảng Quy Nhơn dù Nhà nước đã tiếp nhận lại phần vốn này” .
(Theo Tuổi trẻ) BẢO NGỌC