Ủy viên
Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải từ chức khi không đủ điều kiện, uy tín
Cập
nhật lúc 10:58
Chủ động từ chức khi bản thân không đủ
điều kiện, uy tín hoặc cấp dưới trực tiếp có sai phạm là một nội dung trong
quy định mới về trách nhiệm nêu gương của đảng viên đang được thảo luận tại Hội nghị T.Ư 8.
![]()
Hội nghị T.Ư 8 dự kiến sẽ ban hành quy định mới về
trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là ủy viên Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, ủy viên T.Ư Đảng. ẢNH GIA HÂN
Dự thảo Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên,
trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên T.Ư Đảng
mà Bộ Chính trị trình Hội nghị T.Ư 8 gồm 4 điều.
Trong đó, điều 1 quy định quy định trách nhiệm nêu gương của cán
bộ, đảng viên, nhất là ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ủy viên T.Ư Đảng và
nhấn mạnh cán bộ giữ chức vụ càng cao, càng phải gương mẫu.
Nội dung điều 1 nêu: Tất cả cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy
viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Ban Chấp hành T.Ư phải gương
mẫu chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng,
chính sách, pháp luật của nhà nước; nghiêm túc thực hiện Quy định số
47-QĐ/TW, ngày 1.11.2011 của Ban Chấp hành T.Ư về “Những điều đảng viên không
được làm”, Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7.6.2012 của Ban Bí thư về “Trách
nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các
cấp", Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19.12.2016 của Bộ Chính trị về “Một số
việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương cùa cán bộ, đảng viên”. Cán
bộ giữ chức vụ càng cao càng phái gương mẫu.
Điều 2, gồm 10 điểm, yêu cầu từng ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí
thư và ủy viên T.Ư Đảng phải gương mẫu về bản lĩnh chính trị, ý chí chiến
đấu; đạo đức, lối sống, phong cách làm việc; trách nhiệm trong thực thi nhiệm
vụ; vai trò trung tâm đoàn kết, hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống chính trị.
Cụ thể, điều 2 quy định các cán bộ nêu trên phải trung thành
tuyệt đối, kiết quyết bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục
tiêu độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội với đường lối mới của Đảng; luôn đặt
lợi ích quốc gia, dân tộc là tối thượng; không ngại khó khăn gian khổ; thực
hành phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, tôn trọng pháp luật; thường xuyên
đổi mới tư duy, dám nghĩ, dám làm; thực sự dân chủ, công tâm, khác quan; mẫu
mực về đạo đức, lối sống…
Một điểm mới được nêu ra tại điều 2 là tại điểm 10 yêu cầu các
cán bộ nêu trên chủ động từ chức khi bản thân không đủ điều kiện, uy tín,
hoặc để địa phương, cơ quan, đơn vị mình phụ trách không hoàn thành nhiệm vụ
chính trị hoặc để xảy ra mất đoàn kết kéo dài, hoặc để cán bộ cấp dưới trực
tiếp tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cố ý làm trái, gây hậu quả nghiêm trọng
phải xử lý bằng pháp luật.
Kiên quyết chống tham vọng quyền lực, lộng quyền, lợi ích nhóm
Tại điều 3, gồm 9 điều, quy định từng ủy viên Bộ Chính trị, ủy
viên Ban Bí thư, ủy viên T.Ư Đảng phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết
chống các biểu hiện tiêu cực trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành;
công tác cán bộ; tham nhũng chính sách; tham vọng quyền lực, lạm quyền, lộng
quyền; “lợi ích nhóm”; tham nhũng, hối lội; chạy chức, chạy quyền; để người
nhà, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi… đang gây
bức xúc trong dự luận xã hội.
Trong đó, khoản 1 điều này nêu rõ, một trong những việc phải
nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống lại là chủ nghĩa cá nhân, chủ
nghĩa thành tích, “tư duy nhiệm kỳ”, công thần, tự cao, tự đại, háo danh, phô
trương, “đánh bóng” tên tuổi; hứa suông, nói không đi đôi với làm; nói trong
hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác.
Còn tại khoản 9 điều này nêu rõ, một trong những việc phải kiên
quyết chống là: lợi dụng uy tín, mượn danh người khác để nói, viết, đăng tin
bài sai sự thật, tạo dư luận, gây ảnh hưởng nhằm đề cao cá nhân mình, tô hồng
thành tích hoặc bôi nhọ, hạ thấp uy tín tập thể, cá nhân khác.
Điều 4 quy định trách nhiệm của các ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên
Ban Bí thư, ủy viên T.Ư Đảng; xác định trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức
đảng và các cơ quan liên quan trong việc thực hiện quy định.
Theo dự kiến, Hội nghị T.Ư 8 sẽ ban hành quy định mới về trách
nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên
Ban Bí thư, ủy viên T.Ư Đảng vào ngày bế mạc, 6.10, tới đây.
(Theo Thanh Niên) Lê Hiệp
|
Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018
Thứ Ba, 2 tháng 10, 2018
Lực
lượng chống chuyển giá: Có cũng như không?
Cập nhật lúc 16:59
Thành lập từ
lâu, nhưng lực lượng chống chuyển giá (Tổng cục Thuế) hoạt động như một ẩn
số, dù đây là vấn đề nóng dư luận quan tâm, nhiều cơ quan ban ngành nhiều lần
lên tiếng. Chuyên gia về luật cho rằng, việc thực thi của cán bộ thuế có vấn
đề. Vậy lực lượng này hoạt động ra sao?
![]()
Hiện tượng chuyển giá, trốn thuế
trong nhập khẩu ô tô, linh kiện từ các quốc gia có thuế suất thấp hơn vào
Việt Nam từng khiến một doanh nghiệp bị khởi tố, điều tra. Ảnh: T. Nguyễn
Gia tăng chuyển lợi nhuận về các thiên
đường thuế
Theo số liệu của Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài
chính), tốc độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp
từ nước ngoài (DN FDI) giai đoạn 2011-2016 đạt mức trung bình xấp xỉ 23%, tốc
độ tăng trưởng tài sản trên 19%. Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này, số lượng
các DN FDI báo lỗ hằng năm từ 44-51%. “Những con số nói trên cho thấy thực
trạng chuyển giá của DN FDI đang tồn tại và ngày càng nhức nhối”, Cục Tài
chính doanh nghiệp cho biết.
Để làm được điều này, công ty đa quốc gia thường lợi dụng
sự khác biệt trong chính sách thuế giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ và lợi
dụng chế độ ưu đãi thuế của các quốc gia, vùng, miền để xây dựng và áp dụng một
chính sách về giá giao dịch nội bộ trong tập đoàn.
Theo các chuyên gia về thuế, hội nhập kinh tế quốc tế ngày
càng sâu, hành vi tránh thuế thông qua chuyển giá của DN có phát sinh giao
dịch liên kết, đặc biệt là tại các tập đoàn đa quốc gia ngày càng tinh vi, phức
tạp. Để tối đa hoá lợi nhuận, các DN này ngày càng đưa ra nhiều biện pháp đối
phó để tránh thuế. DN FDI đã gia tăng các hoạt động chuyển lợi nhuận về thiên
đường thuế, thành lập công ty vỏ bọc, công ty không có hoạt động thực chất
tại nơi này để che giấu nguồn thu nhập và tránh thuế, dẫn tới nguy cơ suy
giảm nguồn thu của quốc gia nơi tạo ra lợi nhuận. Đây là thách thức lớn của
các quốc gia cũng như ở
Việt Nam.
Theo Phòng Thương mại - Công nghiệp Việt Nam (VCCI), không
chỉ có những ông lớn Coca Cola, Metro... dính nghi án chuyển giá, hàng loạt
các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khác cũng nằm trong diện nghi
vấn chuyển giá.
Bà Nguyễn Thị Lan Anh, Vụ phó Vụ Thanh tra cho biết, những
năm gần đây, công tác thanh tra, kiểm tra đối với DN có giao dịch liên kết
với nước ngoài được đẩy mạnh. Đơn cử, năm 2017, ngành Thuế đã thanh, kiểm tra
734 DN có giao dịch liên kết, qua đó truy thu, truy hoàn và phạt hơn 2.270 tỷ
đồng; giảm khấu trừ 92 tỷ đồng và điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế 4.625 tỷ
đồng. Trong đó, ngành Thuế đã thanh tra, kiểm tra xác định lại giá thị trường
đối với 186 DN, đã truy thu gần 720 tỷ đồng, điều chỉnh tăng thu nhập chịu
thuế 4.134 tỷ đồng.
Hơn 2 năm thành lập, ngồi kêu lực lượng “mỏng”
Sau hơn nửa năm các PV Tiền Phong liên hệ, đại
diện Vụ Thanh tra mới trả lời về chức phận của Vụ một cách chung chung. Vị
này cho hay, để ngăn ngừa các hành vi chuyển giá, chuyển lợi nhuận, tránh
thuế, Việt Nam cũng như các quốc gia đều đưa ra quy định yêu cầu người nộp thuế
kê khai nộp thuế như trong điều kiện giao dịch giữa các bên độc lập. Vị này
cũng kêu về nguồn thông tin, dữ liệu so sánh chưa thực sự đồng bộ, đang phải
củng cố.
Bên cạnh đó, đại diện Vụ Thanh tra cho hay, các DN đặc
biệt là các tập đoàn đa quốc gia phát sinh giao dịch liên kết có đội ngũ kế
toán giàu kinh nghiệm và luôn được sự hỗ trợ của các công ty luật, công ty tư
vấn, kiểm toán hàng đầu trên thế giới. Vì vậy, công tác chống thất thu, đấu
tranh đối với các hành vi tránh thuế của các DN này đòi hỏi cơ quan thuế phải
có chuyên gia giỏi và giàu kinh nghiệm. Ngoài ra, cần phải có sự phối hợp
chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương. Dù đã được chú trọng củng cố, song
Tổng cục Thuế thừa nhận lực lượng thanh tra giá chuyển nhượng này còn mỏng.
“Năm 2015, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế đã ban hành các
quyết định thành lập 5 phòng thanh tra giá chuyển nhượng (1 phòng thanh tra
giá chuyển nhượng tại Tổng cục Thuế và 4 phòng thanh tra giá chuyển nhượng tại
4 Cục Thuế lớn là Hà Nội, TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương). Sự ra đời của bộ phận
chuyên trách này nhằm chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa công tác thanh tra
giá chuyển nhượng nói riêng và công tác quản lý giá chuyển nhượng nói chung
để đảm bảo tính chuyên sâu, chuyên nghiệp và đạt hiệu quả trong quản lý thuế
đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết và công tác thanh tra giá chuyển
nhượng”, bà Lan Anh cho hay.
Ngoài ra, theo vị lãnh đạo này, công tác phối hợp, trao
đổi thông tin giữa ngành Thuế với một số bộ, ngành chưa được thực hiện thường
xuyên nên đôi khi hiệu quả chưa cao. Nghị định về quản lý Thuế đối với DN có giao
dịch liên kết và thông tư hướng dẫn hành lang pháp lý liên quan tới vấn đề
chuyển giá của Việt Nam đã được hoàn thiện thêm. Tuy nhiên, theo Luật sư
Trương Thanh Đức, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Basico, phải quy định
ở luật mới đủ tính
pháp lý.
Ông Đức cũng cho rằng, quá trình thực thi của các cán bộ
ngành Thuế đang có vấn đề, chưa làm dứt điểm, kiên quyết, đến nơi đến chốn.
Điều này phải được sửa đổi, trong đó, không loại trừ cả vấn đề tiêu cực, tham
nhũng. Cuối cùng, việc xử phạt phải nặng và nghiêm, để đối tượng không dám
tái phạm. Ví dụ, tại Singapore, dù không quy định mức phạt cụ thể dành riêng
cho hành vi chuyển giá, mức phạt chung cho các vi phạm về thuế từ 100-400%
khoản thuế phải trả. Án phạt sẽ được áp dụng nếu đơn vị đóng thuế không có
hoặc không cung cấp đầy đủ tài liệu liên quan việc điều tra chuyển giá.
TS Ðỗ Thiên Anh Tuấn, Ðại học Fulbright Việt Nam khẳng
định, thiết chế pháp lý của Việt Nam còn yếu kém gây khó khăn cho chống
chuyển giá. Ngoài các lỗ hổng của quy định pháp luật thì năng lực xử lý, chế
tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuế còn nhẹ, chưa đủ sức ngăn ngừa
và răn đe. Nhiều DN nợ thuế kéo dài nhưng cơ quan chức năng không xử lý hình
sự được. Các vụ kiện về thuế thường đi vào bế tắc, tốn kém nhưng không mang
lại kết quả tích cực.
Nhóm PV Kinh tế Báo Tiền Phong
|
Cổ phần hóa DNNN: Doanh nghiệp mua trâu được cả nghé
Cập nhật lúc 15:29
PGS.TS Lê Cao Đoàn cho rằng cần xem xét lại toàn diện những thương vụ
cổ phần hóa có nguy cơ gây thất thoát để tìm ra giải pháp xử lý.
Trao đổi với
báo Đất Việt, vị chuyên gia của Viện Kinh tế Việt Nam khẳng định: “Việc xem
xét lại toàn diện sẽ giúp chúng ta đạt được hai mục đích. Một là có được
nguồn lực lớn từ quá trình cổ phần hóa, thoái vốn từ các DNNN để phục vụ mục
đích đầu tư, phát triển trong nước. Thứ hai, là giúp thiết lập cơ chế quản lý
chặt chẽ nguồn tài chính, không cho phép để lọt dù chỉ một đồng tiền của Nhà
nước, của nhân dân”.
Sai phạm phổ
biến
PV: Thanh tra Chính phủ vừa công bố kết
luận quá trình cổ phần hóa Hãng Phim truyện Việt Nam (VFS), theo đó, hàng
loạt sai phạm đã được chỉ ra. Ông bình luận thế nào về việc này? Theo ông,
những sai phạm như thương vụ cổ phần hóa Hãng Phim truyện Việt Nam có phải là
cá biệt không và vì sao?
PGS.TS Lê Cao Đoàn: Trước hết, cần
định nghĩa lại khái niệm cổ phần hóa và thoái vốn. Đối với doanh nghiệp tư
nhân, việc thoái vốn cũng giống như câu chuyện kinh doanh trên thị trường.
Một doanh nghiệp không có năng lực kinh doanh hoặc kinh doanh thua lỗ, nếu
vẫn cố lao vào làm, trước sau cũng phá sản. Ngược lại, nếu muốn tổ chức lại,
cơ cấu lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp hoạt động
tốt hơn, hiệu quả hơn, thì phải thực hiện tái cơ cấu hoặc có thể thoái vốn
nhường lại việc kinh doanh cho người khác. Quá trình thoái vốn tại các DNNN
cũng có thể được hiểu như vậy.
Về trường hợp
VFS, yêu cầu cổ phần hóa VFS cho thấy, chúng ta đã nhận rõ những yếu kém
trong hoạt động kinh doanh của hãng phim này. Đồng thời, việc kinh doanh phim
ảnh vốn không phải là thế mạnh, không phải là lĩnh vực Nhà nước phải tham gia
vào, do đó muốn ngành phim truyện Việt Nam phát triển thì phải cổ phần hóa,
giao cho tư nhân làm. Chỉ một nền điện ảnh có cạnh tranh mới cho ra đời những
sản phẩm tốt.
Như vậy, việc
thoái vốn là đương nhiên. Vấn đề chỉ là thoái vốn thế nào để Nhà nước không
mất vốn, mà vẫn có được nền điện ảnh tốt. Nhìn từ phương diện này có thể
khẳng định cổ phần hóa Hãng Phim truyện Việt Nam chưa thành công, cả hai mục
tiêu trên đều không đạt được.
Những sai phạm
được Thanh tra Chính phủ chỉ ra là cơ sở cho thấy quá trình mua bán tài sản,
thương hiệu của Nhà nước tại VFS có quá nhiều vấn đề mờ ám, không rõ ràng.
Đầu tiên là hàng loạt vấn đề về quy trình các bước tiến hành cổ phần hóa như:
lựa chọn tổ chức tư vấn định giá doanh nghiệp và tư vấn cổ phần hóa; quản lý,
sử dụng và thực hiện các quy định của pháp luật về đất đai; quản lý tài sản,
tiền vốn và hoạt động kinh doanh; việc xác định giá trị thương hiệu... đều có
sai sót, vi phạm.
Như vậy đã rõ,
cổ phần hóa mà chỉ tính toán dựa trên nền tảng cơ sở hạ tầng, máy móc đã cũ
kỹ, chỉ dựa vào các hoạt động đơn thuần của Hãng Phim truyện thì cổ phần hóa
chẳng khác nào "cho không, biếu không".
Về vấn đề sử
dụng đất, việc thoái vốn tại Hãng Phim truyện Việt Nam, Thanh tra Chính phủ
đã nói rõ, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp không tính giá trị lợi thế
quyền thuê đất nhà nước vào giá trị doanh nghiệp. Vì thế, mới có câu chuyện
nhập nhèm, xác định giá thuê bèo bọt, không đúng giá thị trường.
Trong khi đó,
với quyền thuê đất vài chục năm (thường là 50 năm) và sẽ được gia hạn thêm
nếu không tranh chấp, thì một khi mua được DNNN cổ phần hóa tức gần như đồng
nghĩa rằng mảnh đất đó thuộc về bên mua. Đáng chú ý, theo phương án cổ phần
hóa DNNN, Nhà nước bán toàn bộ vốn tại doanh nghiệp, VIVASO sở hữu 65% cổ
phần VFS cũng đồng nghĩa là sau cổ phần hóa, nhà đầu tư có thể chi phối số
phận các khu đất vàng này.
Thông qua việc
chi phối, gia tăng quỹ đất chính là cách nhanh nhất giúp tài sản của một số
nhà đầu tư, một số nhóm người nhanh chóng "nở" ra, còn tài sản của
Nhà nước thì ngày càng teo tóp lại.
Đây không phải
là trường hợp cá biệt. Thực tế, một số DNNN có lợi thế về đất đã bị các nhà
đầu tư thâu tóm, thực chất chỉ để lấy đất, triển khai các dự án bất động sản.
Điểm lại hàng loạt thương vụ cổ phần hóa đình đám trước đó như Kem Tràng
Tiền, Tổng công ty Vật tư nông nghiệp (Vigecam), Khách sạn Kim Liên, khu
Triển lãm Giảng Võ, đất của Cao su Sao Vàng... sẽ thấy hầu hết các thương vụ
cổ phần hóa đều rơi vào tay các nhà đầu tư kinh doanh bất động sản. Điều này
càng cho thấy, nhà đầu tư tham gia vào cổ phần hóa DNNN không phải vì mục
đích tái cơ cấu, giúp doanh nghiệp phát triển tốt hơn, mà thực chất là quan
tâm tới quỹ đất lớn, vị trí đắc địa mà các doanh nghiệp này đang sở hữu.
Vì lý do trên
mà dư luận luôn hoài nghi rằng việc mua cổ phần Hãng Phim truyện Việt Nam chủ
yếu để nhắm vào đất vàng, cổ phần hóa thực chất là chờ cơ hội hóa giá tài sản
của nhà nước, biến tài sản của nhà nước thành tài sản tư nhân. Hoặc cổ phần
hóa nhưng thực chất là mua đi bán lại, tự mình bán cho mình, là sang tên,
chuyển nhượng cho các doanh nghiệp thân hữu, sân sau, cho nhóm lợi ích để sở
hữu tài sản của nhà nước một cách hợp pháp, đúng quy trình.
PV: Song song với việc công bố những sai phạm trong
công tác cổ phần hóa, Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo
“Bộ VH-TT-DL xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện ngay các quy trình, thủ
tục theo quy định để cho nhà đầu tư chiến lược VIVASO rút vốn trước thời hạn.
Vậy phải hiểu thế nào về động thái trên của VIVASO? Có ý kiến cho rằng, đây
là động thái "bỏ của chạy lấy người", thấy khó mà bỏ của nhà đầu
tư, ông có đồng tình với nhận định trên không?
PGS.TS Lê Cao Đoàn: Như đã
phân tích ở trên, nếu cổ phần hóa chỉ nhắm vào cơ sở hạ tầng như nhà xưởng,
máy móc, thiết bị của VFS thì giá trị gần như bằng 0. Không có nhà đầu tư nào
sẵn sàng đổ tiền chỉ để thừa kế những tài sản cũ nát nói trên, nếu không nhìn
thấy triển vọng phát triển tốt hơn sau thương vụ mua bán này. Tổng công ty
Vận tải Thủy (VIVASO) chắc chắn không phải là ngoại lệ.
Tuy nhiên, dù đã nắm giữ cổ phần chi
phối nhưng ở đây đã có những nghi vấn nhập nhèm trong quá trình thực hiện cổ
phần hóa. Khi kết luận của Thanh tra Chính phủ được công bố, chúng ta đều
biết đã có việc thanh tra, xem xét lại toàn bộ quá trình diễn ra việc thoái
vốn tại doanh nghiệp này. Điều này có thể ngầm hiểu, có sai phạm sẽ phải có
xử lý, có thất thoát chắc chắn sẽ phải thu hồi.
Đứng trên phương diện của nhà đầu tư
phản ứng trên là phù hợp. Khi phương án đầu tư không thuận lợi như kế hoạch
ban đầu hoặc lợi ích của nhà đầu tư có nguy cơ xấu hơn kỳ vọng, họ phải tính
tới phương án rút vốn, không đầu tư nữa.
Khi giá trị đất đai không đem lại lợi
thế cho họ, trong khi thế mạnh của nhà đầu tư chiến lược là kinh doanh đất,
kiếm lợi từ việc mua đi bán lại chứ không phải sản xuất phim ảnh, sẽ không
thể làm phim được. Việc rút lui là đương nhiên.
Như vậy, VIVASO vội vàng xin rút vốn
trước thời hạn cũng không có gì khó hiểu. Không loại trừ khả năng, đây có thể
là một phản ứng kiểu "không ăn được thì bỏ", "bỏ của chạy lấy
người" hoặc cũng có thể muốn lảng tránh trách nhiệm liên quan.
Không để doanh nghiệp mua
trâu được cả nghé
PV: Một điểm đáng chú ý,
tại kết luận, Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị Bộ VH-TT-DL chủ trì làm việc
với nhà đầu tư mới để thực hiện các quy trình, thủ tục tiếp nhận và chuyển
giao Hãng phim. Điểm khúc mắc lớn hiện nay là, quá trình thoái vốn này sẽ
diễn ra thế nào để đảm bảo đồng thời hai mục tiêu: một là, nhà nước không
thua thiệt; hai là, nhà nước không trở lại nắm giữ cổ phần ở các doanh nghiệp
đã cổ phần hóa. Nếu vậy, muốn thực hiện được thì phải thực hiện như thế nào?
PGS.TS Lê Cao Đoàn: Tới đây
thì cần phải nhìn nhận lại quá trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại
doanh nghiệp này. Phải xem câu chuyện cổ phần hóa, thoái vốn tại VFS là câu
chuyện của nền kinh tế thị trường. Về bản chất đây là cuộc mua đi - bán lại
lần thứ hai. Nói chính xác là Nhà nước bán đi, giờ mua lại, để sau đó lại bán
đi.
Ở đây tôi lưu ý một vấn đề rất quan
trọng đó là, trước khi làm việc với nhà đầu tư mới để thực hiện các quy
trình, thủ tục tiếp nhận và chuyển giao hãng phim thì việc xác định lại giá
trị tài sản của doanh nghiệp phải được thực hiện rất minh bạch, công khai,
chính xác.
Hãng phim có trách nhiệm liệt kê đầy đủ
tài sản, các diện tích đất đai mà doanh nghiệp đang sở hữu, sử dụng, khai
thác hoặc thuê của nhà nước. Những tài sản nào không được tính vào giá trị
của doanh nghiệp khi bán vốn cho VIVASO thì giờ cũng không được tính vào. Các
diện tích đất đai hãng phim thuê lại của nhà nước làm nhà xưởng phục vụ sản
xuất kinh doanh mà VIVASO đang sử dụng giờ phải trả lại cho nhà nước.
Về phần VIVASO sẽ xác định cụ thể nguồn
vốn nhà đầu tư đã bỏ ra khi tham gia vào quá trình cổ phần hóa VFS lần thứ
nhất. VIVASO sẽ được xem xét hoàn lại phần vốn đúng với giá trị nhà đầu tư
này đã bỏ ra khi mua lại cổ phần của VFS. Giá trị thoái vốn chỉ được xác định
dựa trên giá trị tài sản được định giá trong lần thoái vốn thứ nhất. VIVASO
muốn thuê lại các khu đất mà VFS từng sử dụng bắt buộc phải theo cơ chế đấu
thầu và theo đúng giá thị trường.
Câu chuyện tiếp theo là thoái lại vốn
hãng phim lần 2 như thế nào để vừa bảo đảm nhà nước không thua thiệt, nhưng
nhà nước cũng không thể ôm đồm một lĩnh vực mà tư nhân có thể làm tốt hơn.
Muốn vậy, để tránh xảy ra những sai sót
như trước đó, việc thoái vốn lần hai trước hết phải xác định rõ mục tiêu cổ
phần hóa là để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong
ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cốt lõi hay cổ phần hóa chỉ đơn giản là
bán vốn thu tiền về? Khi xác định rõ được mục tiêu cổ phần hóa thì mới có
được phương án cổ phần hóa hiệu quả nhất.
Quan trọng nhất, việc cổ phần hóa phải
đi vào thực chất chứ không phải hình thức. Doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa
phải có được nhà đầu tư chiến lược có thể giúp "thay máu" cho doanh
nghiệp không chỉ về tài chính mà còn là quy trình quản lý, nâng cao hiệu suất
kinh doanh, chứ không phải mua cổ phần chỉ nhắm vào mục đích bán tài sản thu
lợi.
Quan điểm của tôi là nhà nước nên rút
hoàn toàn vốn, giao cho tư nhân toàn quyền quản lý, điều hành lĩnh vực này.
Tôi xin nhắc lại rằng, cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước phải được nhìn nhận theo góc độ kinh tế và việc thoái
vốn phải theo cơ chế thị trường. Cần xác định rất rõ người mua - người bán,
bán cái gì, giá bao nhiêu... tất cả đều phải rất rõ ràng, minh bạch. Chỉ khi
làm được như vậy, mục đích cổ phần hóa mới thành công, và chỉ khi làm được
như vậy mới hạn chế được nguy cơ thất thoát tài sản của nhà nước.
Đặc biệt, khi mọi giá trị đều công
khai, minh bạch cũng giúp quá trình cổ phần hóa, thoái vốn trở nên minh bạch,
rõ ràng hơn, tránh được tình trạng "bán hớ", bán không đúng giá,
giúp nhà đầu tư mua trâu nhưng lại được thêm cả con nghé như hàng loạt thương
vụ mua bán, cổ phần hóa được thực hiện thời gian qua.
Cần xem xét toàn diện các thương
vụ cổ phần hóa
PV: Điểm lại hàng loạt
thương vụ cổ phần hóa gây nhiều tai tiếng thời gian qua như: thương vụ mua
bán giữa Tổng công ty Viễn thông Mobifone và Công ty cổ phần Nghe nhìn Toàn
cầu (AVG); Công ty đầu tư xây dựng số 2 Hà Nội (HACINCO); sai phạm trong cổ
phần hóa tại cảng Quy Nhơn... ông có cho rằng vấn đề trên càng cần phải xem
xét kỹ lưỡng hơn không?
PGS.TS Lê Cao Đoàn: Chắc chắn
rồi, cổ phần hóa DNNN không thể dễ dãi, xuê xoa như trước nữa. Đồng ý, cổ
phần hóa phải theo nguyên tắc chung, nhưng khi xác định giá trị tài sản của
doanh nghiệp phải căn cứ dựa trên nhiều yếu tố, trong đó phải xét tới cả tính
đặc thù riêng của từng lĩnh vực, từng ngành nghề.
Tôi lấy ví dụ như việc cổ phần hóa cảng
Quy Nhơn hay cảng Khuyến Lương (Hà Nội). Không thể nói rằng, không tính giá trị
đất đai, kho xưởng, bãi đậu vào giá trị của doanh nghiệp khi thực hiện định
giá tài sản để thực hiện cổ phần hóa. Về nguyên tắc, diện tích đất thuê của
nhà nước thì không được tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, nhưng kho
bãi, nhà xưởng là yếu tố không thể thiếu đối với hoạt động của một cảng vận
tải. Không có bãi đậu, tàu bè không thể ra vào cảng. Không có kho xưởng, sẽ
không có nơi bốc xếp hàng hóa. Như vậy, nếu không có tàu thuyền ra vào, không
có hàng hóa thì cảng cũng không thể hoạt động được.
Vì vậy, khi thực hiện cổ phần hóa, giá
trị cho thuê lại các diện tích đất đai, bến bãi, kho xưởng phải được định giá
theo giá trị hoạt động của cảng. Không thể tách riêng phần giá trị hiện hữu
là máy móc để định giá tài sản rồi mặc nhiên nhà đầu tư được sử dụng, khai
thác hàng nghìn ha đất của doanh nghiệp với giá rẻ như cho.
Vì thế, yêu cầu xem xét kỹ lưỡng quá
trình cổ phần hóa là rất cần thiết.
PV: Nếu vậy, theo ông, sau
"án lệ" này thì có thể đặt ra khả năng phải lật lại, xem xét lại
toàn diện những thương vụ cổ phần hóa có nguy cơ gây thất thoát để tìm ra
giải pháp xử lý phù hợp, tránh thất thoát tài sản cho nhà nước? Nếu làm được
như vậy, nhà nước sẽ thu hồi được tài sản thế nào, giảm áp lực vay để đầu tư
công ra sao, thưa ông?
PGS.TS Lê Cao Đoàn: Việc này
không cần phải cân nhắc, bất cứ hoạt động nào có lợi cho đất nước mà vẫn bảo
đảm được công bằng cho doanh nghiệp thì đều phải xem xét lại.
Quan trọng nhất là, sau khi xem xét lại
toàn diện những thương vụ cổ phần hóa có dấu hiệu sai phạm, gây thất thoát,
chúng ta sẽ lập lại được trật tự nên có trong nền tài chính quốc gia.
Chúng ta đã mất quá nhiều, thất thoát
quá nhiều nguồn lực từ cổ phần hóa DNNN, trong khi hàng năm chúng ta vẫn phải
đi vay hàng tỷ USD từ nước ngoài để phục vụ mục tiêu đầu tư phát triển. Điều
này rất lãng phí.
PV: Xin cảm ơn ông!
(Theo Đất Việt) Vũ Lan thực hiện
|
Bộ Chính trị trình Trung ương nhân sự
Chủ tịch nước
Cập nhật lúc 15:13
Tại Hội nghị Trung ương lần này, Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành
Trung ương xem xét, quyết định một số vấn đề quan trọng: Ban hành Quy định về
trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính
trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng; quyết định
thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng; giới thiệu nhân sự để
Quốc hội bầu Chủ tịch nước…
Thực hiện
Chương trình làm việc toàn khóa, sáng 2/10, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng chủ trì Hội nghị.
Tổng
Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc hội nghị.
Trước khi tiến hành phiên họp, Trung
ương đã dành một phút mặc niệm, tưởng niệm Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ
tịch nước Trần Đại Quang vừa từ trần.
Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung
ương thảo luận, cho ý kiến về: Tình hình kinh tế - xã hội, tài chính - ngân
sách nhà nước năm 2018, dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài
chính - ngân sách nhà nước năm 2019; tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết
Trung ương 4 khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Quy định về
trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính
trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; thành lập các tiểu
ban chuẩn bị Đại hội lần thứ XIII của Đảng; xem xét một số vấn đề về công tác
cán bộ và một số vấn đề quan trọng khác.
Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, phát
biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Hội nghị diễn
ra đúng vào thời điểm giữa nhiệm kỳ khoá XII. Năm 2018 là năm bản lề, có ý
nghĩa quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của
Đảng và là năm khởi đầu cho việc chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng. Nội dung của
Hội nghị lần này bao gồm nhiều vấn đề quan trọng, liên quan trực tiếp đến
việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh do Đại hội XII đã đề ra và
chuẩn bị cho việc tổ chức thành công Đại hội XIII của Đảng.
Tổng Bí thư lưu ý, gợi mở thêm một số
khía cạnh liên quan đến các nội dung và nhiệm vụ của Hội nghị; đề nghị Trung
ương phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận,
cho ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án, dự thảo các nghị quyết, kết luận
của Trung ương và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.
*Phấn đấu hoàn thành thắng lợi các mục
tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội
Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân
Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đọc Tờ trình của Ban cán sự
đảng Chính phủ về Báo cáo tình hình kinh tế- xã hội và ngân sách Nhà nước năm
2018, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm
2019.
Báo cáo của Ban cán sự đảng Chính phủ
tập trung đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách nhà nước
9 tháng đầu năm, dự báo đến hết năm 2018 và đánh giá giữa nhiệm kỳ việc thực
hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch tài chính - ngân sách nhà
nước và Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 – 2020; chỉ ra những hạn chế, yếu
kém cần khắc phục và các giải pháp đột phá, khả thi trong thời gian tới, nhằm
thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XII của
Đảng đã đề ra. Trong đó, Báo cáo chỉ rõ những tồn tại, hạn chế như: Việc thực
hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình
tăng trưởng còn gặp nhiều khó khăn. Việc đầu tư xây dựng các công trình trọng
điểm quốc gia và giải ngân vốn đầu tư công còn chậm. Tăng trưởng xuất khẩu
vẫn dựa chủ yếu vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; tính độc lập, tự chủ
của nền kinh tế chưa cao, kinh tế vĩ mô vẫn chưa thực sự vững chắc. Nguồn lực
để thực hiện chính sách văn hóa - xã hội còn hạn chế; một số chính sách chậm
được ban hành hoặc chưa được tổ chức thực hiện tốt; chênh lệch giàu - nghèo
giữa các vùng, miền và các tầng lớp nhân dân còn lớn và có xu hướng gia tăng;
còn tồn tại nhiều vấn đề xã hội bức xúc, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã
hội, nhất là trong lĩnh vực y tế, giáo dục, xây dựng con người, quản lý, bảo
vệ tài nguyên, môi trường …
Tổng Bí thư đề nghị các đồng chí Trung
ương căn cứ vào thực tế tình hình đất nước và nơi công tác, đánh giá khách
quan, toàn diện tình hình kinh tế - xã hội; chỉ rõ những kết quả, thành tích
đã đạt được, những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tìm ra nguyên nhân và biện
pháp khắc phục; đồng thời phân tích, dự báo các khả năng có thể xảy ra trong
thời gian tới, xác định mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu, nhiệm vụ chủ yếu và
các chính sách, biện pháp có tính đột phá, khả thi cao, bảo đảm hoàn thành
thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2019 và các năm tiếp theo, cũng như cả
nhiệm kỳ khóa XII.
* Định hướng chiến lược phát triển kinh
tế biển trong giai đoạn mới
Tiếp đó, Trung ương nghe Tờ trình của
Bộ Chính trị về Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4
(khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.
Biển, đảo không chỉ là bộ phận cấu
thành chủ quyền, quyền chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc mà còn là không
gian sinh tồn và phát triển của các thế hệ người Việt Nam. Các vùng biển Việt
Nam có vị trí địa chính trị, địa quân sự, địa kinh tế quan trọng trong khu
vực và trên thế giới. Tại hội nghị lần này, trên cơ sở tổng kết 10 năm thực
hiện Chiến lược biển Việt Nam, phân tích, dự báo bối cảnh tình hình mới ở
trong nước, khu vực và thế giới, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đề xuất Trung ương
xem xét, ban hành Nghị quyết mới về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030,
tầm nhìn đến năm 2045. Đây là vấn đề hết sức hệ trọng, liên quan đến phát
triển kinh tế biển gắn với phát triển xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường,
ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bảo đảm quốc phòng, an ninh,
đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển. Việc ban hành Nghị quyết sẽ định hướng
cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, pháp luật và
các chương trình, đề án, dự án tổ chức thực hiện của Chính phủ, các địa
phương và các cơ quan liên quan, đặc biệt là việc huy động nguồn lực trong Kế
hoạch đầu tư trung hạn cho phát triển kinh tế biển và ven biển, phù hợp với
Chiến lược, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2021 -
2030.
Gợi mở những vấn đề cần tập trung thảo
luận, Tổng Bí thư đề nghị làm rõ nguyên nhân dẫn đến một số chỉ tiêu phát
triển kinh tế biển và ven biển khó đạt được vào năm 2020; một số ngành, lĩnh
vực kinh tế biển được xác định ưu tiên đầu tư nhưng phát triển chậm, chưa
tương xứng với tiềm năng, lợi thế; đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
ven biển, nhất là hệ thống cảng biển và mạng lưới giao thông kết nối còn dàn
trải, kém hiệu quả, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn; quy hoạch các khu
vực ven biển và một số ngành, lĩnh vực còn nhiều bất cập; nguy cơ ô nhiễm môi
trường biển, đảo vẫn lớn; biến đổi khí hậu, nước biển dâng diễn biến phức tạp
và có tác động tiêu cực ngày càng rõ nét; quản lý nhà nước về biển, đảo còn
lúng túng, hiệu lực, hiệu quả chưa cao…
* Kiến nghị 9 nội dung phải gương mẫu
thực hiện, 9 nội dung cần kiên quyết chống
Về công tác xây dựng Đảng, tại Hội nghị
lần này, Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định một
số vấn đề quan trọng: Ban hành Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ,
đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban
Chấp hành Trung ương Đảng; quyết định thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội
XIII của Đảng; giới thiệu nhân sự để Quốc hội bầu Chủ tịch nước; bầu bổ sung
Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khoá XII; thi hành kỷ luật cán bộ theo quy
định của Đảng.
Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Bí thư nêu
rõ: Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có nhiều chủ
trương, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, gần đây nhất
là Quy định số 47 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về những điều đảng
viên không được làm; Quy định số 101 của Ban Bí thư khóa XI về trách nhiệm
nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp;
Quy định số 55 của Bộ Chính trị khóa XII về một số việc cần làm ngay để tăng
cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên và nội dung này cũng đã được đề
cập ở nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định khác của Đảng.
Việc thực hiện các chủ trương, quy định
của Đảng đã góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng; nâng cao năng lực
lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; góp phần ngăn chặn,
đẩy lùi suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng
viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, kết quả thu được còn hạn
chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức
quán triệt, triển khai thực hiện vẫn còn bất cập, hiệu quả chưa cao, chưa tạo
được sức lan tỏa lớn. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo
chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong
rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu
hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi,
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đặc biệt có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương
chức và nghỉ hưu, đã vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Tổng Bí thư nhấn mạnh: Để khắc phục
tình trạng nêu trên, Bộ Chính trị đã thống nhất rất cao kiến nghị Ban Chấp
hành Trung ương xem xét, ban hành một Quy định mới về trách nhiệm nêu gương
của cán bộ, đảng viên. Dự thảo Quy định nêu 9 nội dung yêu cầu từng đồng chí
Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương
phải gương mẫu đi đầu thực hiện và 9 nội dung phải nghiêm khắc với bản thân
và kiên quyết chống.
Tại Hội nghị này, Bộ Chính trị trình
Trung ương dự kiến thành lập 5 Tiểu ban: Tiểu ban Văn kiện; Tiểu ban Kinh tế
- Xã hội; Tiểu ban Điều lệ Đảng; Tiểu ban Nhân sự và Tiểu ban Tổ chức phục vụ
Đại hội. Các tiểu ban có nhiệm vụ chuẩn bị Báo cáo 10 năm thực hiện Cương
lĩnh bổ sung (năm 2011) và Báo cáo chính trị; Báo cáo tổng kết thực hiện
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm và Báo cáo kinh tế - xã hội 5
năm; Báo cáo về công tác xây dựng Đảng 5 năm và Báo cáo tổng kết việc thực
hiện Điều lệ Đảng và bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng (nếu có) và Báo cáo công
tác nhân sự.
Theo TTXVN
|
25.000 tỷ đồng 'cứu' sân bay Tân Sơn Nhất
Cập nhật lúc 10:21
Bộ GTVT đã quyết định giữ nguyên hai đường cất hạ cánh
hiện hữu, xây thêm nhà ga T3 ở phía Nam, nhà ga hàng hóa, khu hậu cần, trạm
xăng dầu, đường lăn, sân đỗ tàu bay ở phía Bắc trên khu đất sân golf và đất
quân đội bàn giao để nâng công suất sân bay Tân Sơn Nhất lên 50 triệu lượt
khách/năm.
Sân bay Tân Sơn Nhất sẽ
được đầu tư hơn 25.000 tỷ đồng để nâng công suất thiết kế lên 50 triệu lượt
khách/năm
Chiều 1/10, Bộ GTVT và UBND TPHCM tổ chức
công bố quyết định điều chỉnh quy hoạch chi tiết Cảng hàng không Quốc tế Tân
Sơn Nhất (TSN) giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.
Lăn ra, lăn vào và
lòng vòng trên trời
Đại diện Công ty Tư vấn và thiết kế xây dựng công trình hàng
không cho biết việc điều chỉnh quy hoạch sân bay TSN là rất cần thiết và cấp
bách. Sân bay được xây dựng từ 1965 với hai đường cất hạ cánh khai thác lệ
thuộc và 55 vị trí đỗ tàu bay, công suất thiết kế 25 triệu lượt khách/năm.
Trước tình trạng tăng trưởng “nóng”, ngành hàng không đã cải tạo
nhà ga T1 (quốc nội), T2 (quốc tế) nâng tổng công suất lên 28 triệu khách.
Tuy nhiên, năm 2017, sân bay TSN đã đón hơn 36 triệu lượt khách/năm.
Nhà ga T1 đang bị khai thác vượt 1,5 lần công suất thiết kế và
hai đường cất hạ cánh chỉ đáp ứng 44 chuyến/giờ nên thực tế có nhiều chuyến
máy bay đã lăn ra đường lăn chờ lệnh cất cánh lại phải lăn vào vị trí đỗ.
Trong khi đó, nhiều chuyến bay không thể đáp xuống, phải bay chờ lòng vòng
trên trời.
Xây nhà ga mới
16 ha
Đại diện Công ty Tư vấn và thiết kế xây dựng công trình hàng
không cho hay, tổng kinh phí đầu tư xây dựng khi thực hiện quy hoạch điều
chỉnh lên tới 25.000 tỷ đồng (chưa kể chi phí giải phóng mặt bằng). Vị này
đồng tình với quy hoạch điều chỉnh, đó là xây nhà ga hàng hóa, khu hậu cần,
trạm xăng dầu… ở phía Bắc và nhà ga hành khách T3 công suất khoảng 20 triệu
khách/năm ở phía Nam. Hai nhà ga T1, T2 hiện hữu có thể cải tạo, nâng tổng
công suất phục vụ lên 30 triệu khách/năm. Sau khi hoàn thành, sân bay TSN có
thể phục vụ 15.000 lượt khách/giờ cao điểm. Nhà ga hàng hóa xây phía Bắc sẽ
đạt 1 triệu tấn/năm.
“16,05 ha đất xây dựng nhà ga T3 có thể lấy đất của các đơn vị,
đất quốc phòng và một phần đất của trại Davis cũ. Từ diện tích đất quân đội bàn
giao, có thể xây dựng khu logistic, trạm xăng, hồ điều hòa, trạm bơm cưỡng
bức (1,6 ha) đưa nước mưa ra kênh Hy Vọng để chống ngập. Vấn đề quan trọng
không kém là phải xây dựng đường giao thông kết nối ba nhà ga T1, T2, T3, nhà
ga T3 với hệ thống đường giao thông của thành phố”, ông này cho hay.
Theo Cục trưởng Cục Hàng không Đinh Việt Thắng, sân bay TSN sau
khi điều chỉnh quy hoạch sẽ có tổng diện tích 791 ha. Sân bay sẽ mở rộng ra
phía Bắc (khu vực đất sân golf và các đơn vị quân đội) 171 ha. Bộ Quốc phòng
đã bàn giao cho Bộ GTVT gần 20 ha để xây dựng đường lăn, sân đỗ máy bay.
Tại lễ công bố, Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ khẳng định, sân
bay TSN sẽ tồn tại song song cùng với sân bay Long Thành nên quy hoạch cần
bền vững và hướng đến mục tiêu lâu dài, tránh tình trạng điều chỉnh nhiều
lần. Quy hoạch điều chỉnh không chỉ nhằm nâng cấp, giải quyết quá tải sân bay
mà còn khắc phục được tình trạng ùn tắc giao thông tại khu vực cửa ngõ sân
bay.
(Theo Tiền Phong) HUY THỊNH
|
Vụ
8B Lê Trực: Cắt ngọn thêm 2 tầng, chuyển công an điều tra
Cập nhật lúc 10:00
UBND thành phố Hà Nội vừa có báo cáo gửi Thủ
tướng Chính phủ về tình hình phá dỡ phần sai phạm tại dự án nhà ở 8B Lê Trực (Ba Đình) sau gần 3 năm triển
khai.
Theo UBND TP. Hà Nội, việc phá dỡ giai
đoạn 1 dự án này gồm tầng 19 và tum thang dược tiến hành từ tháng 11/2015 đã
hoàn thành, đảm bảo an toàn. Trong quá trình phá dỡ, chủ đầu tư là công ty CP
may Lê Trực đã có đơn khởi kiện hành chính quyết định cưỡng chế của UBND quận
Ba Đình.
Tháng 3/2018
tòa án thành phố Hà Nội đã đình chỉ giải quyết vụ án hình chính sơ thẩm vụ
việc trên.
Quận Ba Đình đã
yêu cầu chủ đầu tư thanh toán tạm ứng kinh phí phá dỡ phần công trình vi
phạm. Sau nhiều lần đôn đốc, tháng 6/2016 Công ty CP May Lê Trực đã chuyển
hơn 201 triệu cho nhà thầu thi công phá dỡ. Tuy nhiên, công ty chưa ký kết
hợp đồng làm căn cứ xử lý các bước tiếp theo.
Cho nên, UBND
quận Ba Đình đã giao UBND phường Điện Biên ký hợp đồng thi công phá dỡ tầng
19 với nhà thầu là Công ty CP Hạ tầng Phương Bắc với giá trị gói thầu là 14
tỷ đồng và đã tạm ứng ngân sách với số tiền 7,1 tỷ đồng cho phường Điện Biên
để tạm ứng cho nhà thầu.
Sau khi hoàn
thành phá dỡ tầng 19, UBND thành phố đã có nhiều văn bản yêu cầu chủ đầu tư
hoàn trả thanh toán tạm ứng cho quận Ba Đình nhưng hiện vẫn chưa nhận được số
tiền mà chủ đầu tư cam kết hoàn trả. Mặt khác, chủ đầu tư có đơn khởi kiện Chủ
tịch UBND quận Ba Đình đề nghị dừng cưỡng chế phá dỡ công trình, làm ảnh
hưởng đến quá trình xử lý vi phạm.
Về việc phá dỡ
giai đoạn 2 gồm tầng 17 và 18, UBND TP. Hà Nội cho hay đã gặp rất nhiều khó
khăn. UBND thành phố nhiều lần nhận được đề nghị của nhà thầu phá dỡ là công
ty Phương Bắc đề nghị dừng thi công phá dỡ do ảnh hưởng đến an toàn chịu lực
và kết cấu tòa nhà.
Do đó, Hà Nội
đã phải xin ý kiến Bộ Xây dựng, các viện nghiên cứu để có phương án phá dỡ.
Tháng 7/2018
công ty may Lê Trực có văn bản gửi Hà Nội kiến nghị được tự phá dỡ tầng 17,
18 và đề nghị thành phố “không chuyển cơ quan công an điều tra, xử lý vi phạm
trong hoạt động đầu tư, xây dựng”.
Tháng 8/2018,
Sở Xây dựng báo cáo UBND TP. Hà Nội, đánh giá chủ đầu tư chưa tự nguyện tổ
chức phá dỡ. Cho nên đề nghị chỉ định đơn vị tư vấn thiết kế, đơn vị thi công
phá dỡ giai đoạn 2.
Báo cáo Thủ tướng, UBND thành phố Hà
Nội khẳng định vi phạm trật tự xây dựng tại số 8B Lê Trực là vụ việc phức
tạp, vi phạm pháp luật về xây dựngnghiêm
trọng.
Để giữ nghiêm
kỷ cương pháp luật và hiệu lực hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước, UBND
TP. Hà Nội cho hay thời gian tới sẽ tiếp tục chỉ đạo UBND quận Ba Đình, các
sở ngành liên quan xử lý dứt điểm phá dỡ tầng 17, 18 của dự án 8B Lê Trực.
Đáng chú ý, Hà
Nội cho biết sẽ yêu cầu các đơn vị phối hợp cung cấp hồ sơ chuyển cơ quan
cảnh sát điều tra để xem xét, tiến hành điều tra các sai phạm của các tổ
chức, cá nhân liên quan tại dự án 8B Lê trực và “các sai phạm khác của chủ
đầu tư” trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Cuối năm 2015,
sau khi báo chí phản ánh dấu hiệu sai phạm tại dự án 8B Lê Trực, UBND TP. Hà
Nội đã có báo cáo cho rằng, dự án 8B Lê Trực “không nằm trong quy hoạch
khu trung tâm chính trị Ba Đình”, song công trình này đã có một số sai phạm
trong quá trình thi công.
Cụ thể từ tầng
8 (phía đường Trần Phú kéo dài) phải có khoảng lùi khối cao tầng 3,36 m so
với khối đế, song chủ đầu tư đã xây thẳng đến mái. Phần giật cấp đầu hồi phía
Đông, theo thiết kế từ độ cao 44 m công trình giật cấp vào 15 m và tại độ cao
50 m giật cấp tiếp thêm 5,3 m về phía Tây, nhưng chủ đầu tư không xây dựng
giật cấp làm tăng diện tích sàn xây dựng.
Theo giấy phép
xây dựng, công trình cao đến đỉnh tum thang là 53m. Thực tế chủ đầu tư đã tự
ý tăng chiều cao các tầng, xây thêm tầng 19, tổng chiều cao hiện tại khoảng
69m (vượt 16m, tương đương 5 tầng).
Diện tích sàn
theo giấy phép xây dựng là gần 30.000 m2, tuy nhiên chủ đầu tư đã xây dựng
khoảng 36.000 m2, tăng trên 6.000 m2 so với giấy phép.
(Theo VietNamNet) Hà Duy
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



