Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2020

Cập nhật lúc 13:46  

-Singapore hiện là nước có nhiều ca nhiễm Covid-19 nhất Đông Nam Á. Là người đang sinh sống và làm việc tại đây, theo ông quan sát, tâm lý, niềm tin của người dân, doanh nghiệp đang như thế nào?

Đến ngày 27/4, số ca nhiễm Covid-19 tại Singapore là 13.624, cao hơn rất nhiều so với Indonesia – quốc gia có số lượng người nhiễm đứng thứ hai ở khu vực là 8.882. Tình hình số ca nhiễm ở Singapore dự kiến còn tăng ở mức 500 -1.000/người/ngày trong ít ngày nữa khi Singapore xét nghiệm tổng thể tất cả các khu có nguy cơ lây nhiễm. Sau đó, tình hình sẽ tốt lên căn bản và nhanh chóng.
Tuy các con số cho thấy mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh nhưng tâm lý và niềm tin của người dân và doanh nghiệp đều khá ổn. Việc đi lại và thể dục ngoài trời của người dân, hoạt động của hệ thống giao thông công cộng, mua sắm ở các chợ thực phẩm cơ bản vẫn bình thường. Điểm khác là Chính phủ ban hành và giám sát ngặt nghèo về giãn cách xã hội và đeo khẩu trang.


-Theo ông, đâu là những bài học đáng chú ý mà Singapore có thể rút ra từ thực tế này?

Mỗi quốc gia đều có thể thu được ít nhất một trong ba lợi ích quan trọng từ đại dịch Covid-19.
Thứ nhất, dịch bệnh giúp mỗi quốc gia tìm được những tử huyệt mà lúc thường ít ai nghĩ tới.
Thứ hai, quốc gia đó có thể khẳng định hoặc bộc lộ điểm mạnh đặc sắc của mình. Lợi ích này đặc biết lớn với những đất nước mà trước nay thế mạnh này ít được thế giới biết đến.
Thứ ba, đại dịch cũng thôi thúc các quốc gia thực hiện những quyết sách và giải pháp tưởng như không thể làm được trong thời kỳ trước đó.
Với Singapore, lợi ích thứ nhất và thứ ba là rất lớn. Về lợi ích thứ nhất, họ nhận ra điểm tử huyệt trong cuộc chống đại dịch Covid-19 là mắc vào cạm bẫy năng lực.
Họ dựa vào cách làm đã thành công trong quá khứ để giải quyết bài toán mới. Cạm bẫy này thường bắt ta phải trả giá đắt trong trường hơp gặp phải biến cố "thiên nga đen" – là loại biến cố thường làm người phạm sai lầm rất lớn nếu suy đoán dựa trên các mô hình đã biết.
Sai lầm của Singapore là chủ yếu dựa vào các giải pháp đã giúp thành công trong chống dịch SARS năm 2003, do vậy không chú ý thích đáng tới cộng đồng 300.000 công nhân lao động nhập khẩu từ Nam Á sống trong hơn 40 ký túc xá tập trung. Các công nhân này khỏe nên nhiều người nhiễm mà không có triệu chứng lâm sàng nên vẫn đi làm, tụ tập trước khi được phát hiện.
Với lợi ích thứ ba, Singapore tuân thủ một nguyên tắc "thép" là luôn nhìn thẳng vào sự thật, dù phũ phàng đến đâu. Thất bại là liều thuốc rất quý để Singapore hiểu rõ mình đang ở đâu và cần phải làm gì trước những thách thức mới. Vì vậy, họ chắc sẽ có những bước tiến vượt bậc trong cải cách và phát triển trong thời gian tới.



-Vậy nhìn về Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về công tác chống dịch của Chính phủ cho đến thời điểm hiện tại?

Việt Nam đã nổi lên xuất sắc trong nỗ lực chống đại dịch Covid-19. Thế mạnh tiềm tàng của khả năng phối hợp trong chỉ đạo của Chính phủ, sự gắn kết xã hội và ý thức bảo vệ sức khỏe của người dân đã làm nên kỳ tích vừa qua.
Vì vậy, lợi ích thứ hai mà tôi nói ở trên là rất lớn với Việt Nam. Nó là một minh chứng có sức thuyết phục rằng đất nước có khả năng tiềm ẩn làm thế giới phải ngạc nhiên, vị nể, đặc biệt khi đứng trước những thách thức toàn cầu.

-Chiều 22/4, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc quyết định cơ bản dừng giãn cách trên toàn quốc và nhấn mạnh đến tinh thần chung sống an toàn với dịch. Ông đánh giá như thế nào về phương án này?

Đây là quyết định sáng suốt và dũng cảm. Chúng ta cần chuẩn bị cho cả việc duy trì hoạt động bình thường khi tình huống lây nhiễm tiếp tục xảy ra.
Chúng ta sẽ có những đội phản ứng nhanh, xử lý quyết đoán, để ca nhiễm cá biệt không ảnh hưởng đến hoạt động chung.
Thế hệ hôm nay cần có những bản lĩnh và ý thức trách nhiệm mà cha anh đã có trong thời kỳ chiến tranh khốc liệt – không chỉ có thể sống chung và với bom đạn mà còn làm nên những kỳ tích trong tình thế đầy thách thức này. 


-Ông từng đề cập đến việc phải phát huy sức mạnh cộng hưởng của chính quyền, người dân, doanh nghiệp mới có thể thúc đẩy được sự phát triển kinh tế. Nhìn riêng với những kết quả đạt được tính đến nay ở Việt Nam, sức mạnh này được phát huy như thế nào?

Sức mạnh một dân tộc trong công cuộc phát triển được quyết định bởi 3 động lực chủ đạo: xúc cảm, khai sáng, và năng lực phối thuộc-cộng hưởng.
Người Việt đã được tôi luyện trong lịch sử hàng ngàn năm đau thương và hùng tráng, sức mạnh của động lực xúc cảm rất lớn, nếu không nói là vô song.
Công cuộc cải cách trong hơn 3 thập kỷ qua đã nâng tầm khai sáng và khả năng phối thuộc - cộng hưởng của Việt Nam lên rất nhiều. Vì vậy, Việt Nam đang đứng trước những triển vọng rất lớn để tạo nên những biến chuyển ngoạn mục, làm thế giới kinh ngạc trong những năm tới.

-Vậy cơ hội từ những sự kinh ngạc đó sẽ là gì?

Là đẩy nhanh công cuộc phát triển với một chiến lược đặc sắc, tạo nên sức mạnh trỗi dậy của dân tộc với sự cộng hưởng của ba thế mạnh: vị thế, tâm thế, và địa thế.
Phải nhấn mạnh lại là kể từ khi cải cách bắt đầu, chưa bao giờ Việt Nam được chú ý với thái độ vị nể như hiện nay. Do đó, mỗi cải cách tiếp theo nếu được thiết kế kỹ càng, hiệu ứng cộng hưởng này sẽ rất lớn.


-Và để tận dụng, chúng ta cần phải làm như thế nào?

Trong nỗ lực cải cách tôi cho rằng cần chú ý xây dựng hệ sinh thái phát triển sống động. Trong hệ sinh thái này có 3 mối quan hệ cần được đặc biệt chú ý. Đó là "tương sinh", "cộng sinh" và "ký sinh".
Tương sinh là mối quan hệ tương tác làm các thành viên đều được hưởng lợi từ sự mạnh lên của mỗi thành viên.
Cộng sinh là sự chung sống thuận hòa, các thành viên cần có nhau để cùng tồn tại cho dù lợi ích cộng hưởng không đáng kể.
Ký sinh là mối quan hệ mà một số thành viên hưởng lợi từ việc làm hại cộng đồng giống như loại ruồi muỗi.
Cải cách chiến lược cần đặc biệt chú trọng tạo môi trường và thúc đẩy để các quan hệ tương sinh bừng nở và phát triển. Đồng thời khuyến khích cộng sinh, và quyết liệt triệt giảm các quan hệ ký sinh.
Về thúc đẩy tương sinh, Việt Nam cần tạo những điều kiện đặc biệt để TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh lớn mạnh vượt bậc trong các năm tới. Quan hệ tương sinh của hai thành phố này với các tỉnh và nền tảng phát triển của Việt Nam là rất lớn. Hai thành phố mạnh lên 1, Việt Nam mạnh lên 5-10 lần.
Với ký sinh, chúng ta cần hiểu dạng thức này tồn tại rất tinh vi và dai dẳng. Khó khăn trong cải cách của Việt Nam trong một số lĩnh vực mà ai cũng thấy cấp thiết không phải là do thiếu kiến thức hay năng lực mà là do có một bộ phận hưởng lợi từ nó.
Vì vậy, để triệt tiêu loại hình quan hệ tai hại này, chúng ta rất cần ánh sáng mặt trời của sự minh bạch và sự giám sát từ người dân, dù là trong xuất khẩu gạo hay mua thiết bị y tế. 


-Trong quý I/2020, GDP Việt Nam tăng trưởng 3,82%. Ông nhìn nhận như thế nào về con số này?

Đây là một kết quả khá tốt so với các nước trong khu vực khi tăng trưởng Trung Quốc giảm 6,8%; Singapore giảm 2,2%.
Tuy nhiên, theo tôi, tăng trưởng GDP của Việt Nam trong quý II 2020 sẽ thấp hơn nhiều và có thể ở vào khoảng 1-3%.
Lý do chính của việc sụt giảm này là các ngành dịch vụ chiếm trên 20% GDP bị giảm rất mạnh, trong khi các ngày khác cũng bị chậm lại nhiều. Nếu giả sử 80% nền kinh tế vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao là 5% và khu vực dịch vụ chiếm 20% tỷ trọng nền kinh tế này bị giảm 15% thì tăng trưởng quý II sẽ chỉ ở mức 80% x 5%- 20% x 15% = 1%.
Nghĩa là chúng ta phải chuẩn bị cho một mức tăng trưởng thấp chưa từng thấy trong quý II trước khi kinh tế phục hồi. 



-Việt Nam có thể tham khảo thêm những điều gì từ chính sách của Chính phủ Singapore hỗ trợ doanh nghiệp và người dân?

Tôi thấy có 3 cách tiếp cận khá hiệu quả. Thứ nhất, mức giảm thuế bằng 25% mức thuế vừa đóng và không quá 15.000 USD/doanh nghiệp. Nghĩa là hỗ trợ dựa trên đóng góp.
Thứ hai, quỹ cho vay của Chính phủ hoàn toàn thông qua ngân hàng. Chính phủ bảo lãnh tới 80% mức vay. Như vậy nếu doanh nghiệp không trả được nợ thì ngân hàng chịu 20%. Thêm nữa, các doanh nghiệp không phải trả gốc mà chỉ phải trả lãi (theo mức thị trường với ưu đãi không lớn) cho tới 31/12/2020.
Thứ ba, các doanh nghiệp vay phục vụ để chuyển đổi số được ưu đãi đặc biệt hơn. Với các doanh nghiệp dịch vụ ăn uống muốn đầu tư bán hàng qua mạng thì có thể được hỗ trợ đến 90%.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng được một tỷ lệ bao cấp đến 70% nếu sử dụng dịch vụ tư vấn, đào tạo để nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nhân.

-Đã có ý kiến cho rằng mở cửa thị trường nội địa sẽ là gói cứu trợ lớn nhất cho Việt Nam. Quan điểm của ông?

Tôi đồng ý đây là một gói cứu trợ hiệu quả hơn nhiều so với các gói cứu trợ tài chính. Còn nói đến gói cứu trợ lớn nhất mà Chính phủ có thể làm được, theo tôi, là những quyết sách cải cách khiến thế giới kinh ngạc, lòng dân rung động, và làm dấy lên cao độ ý chí và ý thức trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp.

-Nhưng nếu mở cửa thị trường nội địa trong bối cảnh thế giới dịch bệnh vẫn phức tạp thì Việt Nam sẽ phải cân nhắc những gì?

Doanh nghiệp mạnh lên nhờ nhạy bén nắm bắt cơ hội, củng cố tốt nền móng, và có chiến lược phát triển thông thái.
Trong bối cảnh thế giới còn trong khủng hoảng, cơ hội bên ngoài còn hạn chế, các doanh nghiệp cần nhân dịch này nắm bắt triệt để cơ hội trong nước, gia cường nền móng phát triển. Đặc biệt là trong chuyển đổi số, bảo vệ môi trường, nâng cao trình độ người lao động, nâng cấp chiến lược kinh doanh. Họ cũng cần phương án ứng phó, duy trì hoạt động nếu đại dịch trở lại hoặc một đại dịch mới xuất hiện. 



-Liệu có ví dụ tốt nào mà Việt Nam có thể tham khảo?

Hiện chưa có kinh nghiệm nào đủ rõ ràng để tham khảo. Chính vậy, nếu mạnh dạn tiên phong, khám phá phương cách phát triển bền vững trong đại dịch thì uy tín Việt Nam từ thắng lợi trong chống dịch vừa qua sẽ được nhân lên hàng trăm lần, tạo hiệu ứng thuận lợi rất lớn cho công cuộc phát triển sắp tới.

-Nhiều người kỳ vọng rằng đại dịch Covid-19 sẽ thúc đẩy việc dịch chuyển các nhà máy sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam. Quan điểm của ông là gì?

Tôi thấy đấy là cơ hội rất lớn mà chúng ta cần chiến lược đặc biệt để nắm bắt triệt để. Có 3 vấn đề lớn khi thiết lập chiến lược này.
Thứ nhất, Việt Nam cần được định vị có lợi thế đặc biệt về "sự tin cậy chiến lược". Điều này lớn hơn nhiều lợi thế về chi phí lao động, đặc biệt trong dài hạn.
Trong điểm nhấn này, cần đưa ra các thể chế ưu tú mà các doanh nghiệp FDI lớn, có uy tín đã được hưởng. Chúng ta cần để nhà đầu tư thấy được sự thật tâm, trân trọng, và ý thức chiến lược trong xây dựng nền móng cho hợp tác lâu dài.
Thứ hai, chúng ta cần tính rất kỹ đến thách thức trong cơ hội. Đơn cử như các KCN hậu dịch Covid-19 cần được xây dựng để hoạt động thuận lợi ngay cả khi có dịch bệnh. Trong thời gian tới, tăng hiệu lực bền vững sẽ quan trọng không kém tăng hiệu quả vận hành.
Thứ ba là phải có kế hoạch hành động đặc sắc, khiến nhà đầu tư thán phục. Đấy không phải những ưu đãi về thuế, hay giảm chi phí, mà là thể chế quản lý.
Khi đánh giá về ứng xử của các cơ quan công quyền, các nhà đầu tư ở một nước đang phát triển thường ở một trong hai trạng thái: nhẫn chịu (sacrifice) vì mình đang kiếm lợi ở đây hoặc ngạc nhiên hứng thú (surprise) vì thấy Chính phủ đưa ra quyết sách quá hay, thế giới nên đến học tập.
Bước đường đi lên của Việt Nam trong thu hút FDI trong thời gian tới không nằm nhiều ở ưu đãi đặc biệt mà ở số lượng ngạc nhiên mà Chính phủ và các địa phương tạo ra cho các nhà đầu tư. 



-Ông có đề xuất cụ thể gì cho Việt Nam?

Tôi xin đưa ra 3 đề xuất.
Thứ nhất, trong họp báo Bộ Ngoại giao, Người phát ngôn nên có một mục nhỏ, giới thiệu cải cách mới nhất của Việt Nam. Biển Đông càng phức tạp, Việt Nam càng cần có nhiều cải cách dũng cảm và hội nhập thế giới với ý thức trách nhiệm cao nhất.
Chúng ta phải ứng xử làm sao để thấy Việt Nam càng mạnh lên khi tình thế càng khắc nghiệt. Đó là một đặc tính đặc sắc nhất của nhà nước kiến tạo phát triển.
Từ ngỡ ngàng ban đầu, báo chí quốc tế sẽ dần tin tưởng rằng chúng ta đang phất lên ngọn cờ cải cách. Sức mạnh của một quốc gia nằm ở khả năng tấn công vào điểm yếu của chính mình, trở thành ngọn hải đăng để thế giới hướng đến.
Thứ hai, một số tập đoàn lớn như Vingroup nên mở rộng sang lĩnh vực khát triển KCN không chỉ cho Việt Nam mà cả Đông Nam Á. Xây dựng nền tảng phát triển có hiệu quả và hiệu lực lớn hơn nhiều so với làm sản phẩm đơn lẻ như ô tô, máy thở.
Cuối cùng, Trung ương và Quốc hội có thể lập ra một hội đồng tiếp nhận sáng kiến cải cách xây dựng Việt Nam 2045 để nhận ý kiến từ người dân, doanh nghiệp, địa phương.
Người tham gia hội đồng này không cần có vị trí trong hệ thống chính trị để đảm bảo khách quan, họ chỉ cần có uy tín về phẩm chất, trình độ là được.
Hội đồng này sẽ đánh giá các sáng kiến gửi đến, phân tích và trao đổi với Trung ương Đảng, Quốc hội, và Chính phủ các sáng kiến khả thi nhất. Hội đồng sẽ có báo cáo định kỳ hàng năm hoặc sáu tháng cho toàn dân. Nếu chúng ta thành công, lịch sử sẽ ghi lại nỗ lực này như một Hội Nghị Diên Hồng.



Ảnh: Vũ Minh Quân, Tuấn Hưng

-Nhiều lần nhắc đến tiềm năng của Việt Nam và khẳng định đất nước "không giàu mới lạ", nhưng với một sự cố thiên nga đen như Covid-19, liệu cơ hội của chúng ta có bị chậm lại?

Theo nguyên lý phát triển, một sự cố khắc nghiệt thường dẫn đến những tiến hóa lớn và những biểu tượng đại diện cho kỷ nguyên phát triển mới.
Việt Nam đang có những lợi thế đặc biệt để trở thành biểu tượng phát triển cho ba thập kỷ tới.
Đây vừa là vận hội dân tộc, vừa là cấp bách có tính sống còn vì chỉ sau 30 năm nữa chúng ta trở thành một dân tộc già như Nhật Bản và sức sống động sẽ giảm đi rất nhiều.
Cảm ơn ông!
Theo Cafef.vn

Trung Quốc lại ngang ngược cấm đánh bắt cá ở Biển Đông, điều hải cảnh giám sát

Cập nhật lúc 11:09  

Tân Hoa xã tối 1.5 ngang nhiên đưa tin lệnh cấm đánh bắt cá thường niên của Trung Quốc ở Biển Đông bắt đầu từ trưa cùng ngày, với sự giám sát của lực lượng hải cảnh và kiểm ngư nước này.


Tàu hải cảnh Trung Quốc hoạt động phi pháp trong vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. MAI THANH HẢI

Lệnh cấm đánh bắt cá phi pháp nói trên bắt đầu được áp dụng từ 12 giờ ngày 1.5 đến 12 giờ ngày 16.8. Phạm vi cấm đánh bắt trải dài từ vùng biển phía bắc Biển Đông đến 12 độ vĩ bắc, bao gồm cả một phần vịnh Bắc bộ và quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Theo Tân Hoa xã dẫn thông báo từ lực lượng hải cảnh Trung Quốc, 50.000 tàu cá sẽ dừng hoạt động đánh bắt trong thời gian 3 tháng rưỡi và lực lượng này sẽ thực thi lệnh cấm một cách nghiêm ngặt theo cái gọi là quy định và luật pháp liên quan. 


Ngư dân Việt Nam  đánh bắt ở ngư trường Hoàng Sa (Việt Nam). ĐỘC LẬP

Hồi tháng 5.2019, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc Trung Quốc áp dụng cấm đánh bắt cá thường niên từ ngày 1.5-16.8 ở khu vực Biển Đông, trong đó bao gồm một số vùng biển của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định: Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như các quyền hợp pháp đối với các vùng biển của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của LHQ về luật Biển năm 1982.
Việt Nam cho rằng các biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật cần được tiến hành phù hợp với các quy định của Công ước của LHQ về luật Biển năm 1982 và không làm phương hại đến quyền chủ quyền và các quyền tài phán trên biển của các nước có liên quan.
Việt Nam phản đối và kiên quyết bác bỏ quyết định đơn phương này của phía Trung Quốc. Quy chế này xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, vi phạm các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam trên các vùng biển của mình, vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của LHQ về luật Biển năm 1982, đi ngược lại tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc (DOC), trái với Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc.

(Theo Thanh Niên) Văn Khoa 

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

Nhóm ASEAN tại QH Mỹ ủng hộ đẩy mạnh quan hệ đối tác với Việt Nam

Cập nhật lúc 09:15                 

Ngay trong thời điểm khó khăn do dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, Việt Nam và Mỹ đã hợp tác chặt chẽ, ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau ở cả bình diện song phương cũng như trong cơ chế hợp tác ASEAN–Mỹ.


Hạ nghị sỹ Joaquin Castro. (Ảnh: Đặng Huyền/TTXVN)

Chiều 29/4 (theo giờ Washington DC), Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Hà Kim Ngọc đã có buổi trao đổi trực tuyến với Hạ nghị sỹ Joaquin Castro, đại diện đảng Dân chủ thuộc bang Texas, Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, đồng Chủ tịch Nhóm nghị sỹ Quốc hội Mỹ về quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam-Mỹ và quan hệ Đối tác Chiến lược ASEAN-Mỹ (ASEAN Caucus).
Theo phóng viên TTXVN tại Mỹ, tại cuộc trao đổi, Đại sứ Hà Kim Ngọc và Hạ nghị sỹ Joaquin Castro bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển mạnh mẽ của quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam-Mỹ trên nhiều lĩnh vực.
Ngay trong thời điểm khó khăn khi dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, hai nước đã hợp tác chặt chẽ, ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau ở cả bình diện song phương cũng như trong cơ chế hợp tác ASEAN–Mỹ để phòng chống dịch bệnh và chuẩn bị các biện pháp phục hồi kinh tế, tiếp tục thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư.
Hai bên cũng trao đổi về vvấn đề  hợp tác ứng phó với dịch bệnh COVID-19, tình hình Biển Đông và thúc đẩy hợp tác Mekong-Mỹ.
Đại sứ Hà Kim Ngọc đã chia sẻ các nỗ lực của Chính phủ và nhân dân Việt Nam cùng lúc thực hiện nhiệm vụ kép, vừa chống dịch bệnh vừa khôi phục, phát triển kinh tế.
Đại sứ khẳng định trong giai đoạn khó khăn hiện nay, ASEAN luôn đoàn kết, nhất trí và hợp tác hiệu quả với các đối tác trong xử lý dịch bệnh. 
Đại sứ cũng cảm ơn sự hỗ trợ kịp thời của Mỹ dành cho các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam, trong khi Chính quyền, Quốc hội và người dân Mỹ cũng đang phải tập trung ứng phó với COVID-19.
Về phần mình, Hạ nghị sỹ Castro chúc mừng Việt Nam đã bước đầu khống chế dịch COVID-19 và đánh giá cao thiện chí Việt Nam trong việc hỗ trợ Mỹ.
Ông Castro khẳng định ASEAN Caucus luôn ủng hộ ASEAN vững mạnh, ủng hộ quan hệ Đối tác Chiến lược Mỹ-ASEAN và ủng hộ năm Chủ tịch ASEAN của Việt Nam, trong đó có các hội nghị được tổ chức tới đây tại Việt Nam. 
Liên quan đến vấn đề Biển Đông, Hạ nghị sỹ Castro khẳng định ASEAN Caucus và cá nhân ông luôn phản đối những hành động xâm phạm chủ quyền, đi ngược lại luật pháp quốc tế, trật tự dựa trên luật lệ, làm thay đổi nguyên trạng và gây bất ổn khu vưc.
Ông cũng bày tỏ sự ủng hộ đối với việc các nước hạ nguồn sông Mekong và Mỹ sẽ nâng cấp cơ chế hợp tác từ Sáng kiến Hạ nguồn sông Mekong (LMI) thành Đối tác Mekong-Mỹ vì một khu vực Mekong phát triển bền vững. Ông nhắc lại ấn tượng tốt đẹp về đất nước, con người Việt Nam trong chuyến thăm của cựu Tổng thống Barack Obama năm 2016 và mong sẽ có dịp quay trở lại Việt Nam.
Đây là một trong nhiều cuộc gặp, trao đổi, tọa đàm trực tuyến gần đây của Đại sứ Hà Kim Ngọc và Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ với Chính quyền, Quốc hội, học giả, doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn Mỹ thực hiện chặt chẽ giãn cách xã hội do dịch bệnh COVID-19 nhằm tiếp tục giữ đà phát triển quan hệ Việt-Mỹ trong năm hai nước kỷ niệm 25 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (1995-2020)./.
Đặng Huyền (TTXVN/Vietnam+)

Chuyên gia quốc tế chỉ rõ yếu tố “then chốt” giúp Việt Nam đánh bại dịch Covid-19

Cập nhật lúc 09:00               


Theo các chuyên gia, có nhiều yếu tố giúp Việt Nam thành công trong cuộc chiến chống Covid-19, trong đó phải kể đến việc tăng cường xét nghiệm.

Trong lúc doanh nhân Phan Quốc Việt đang thăm một ngôi chùa tại tỉnh Tây Ninh, miền Nam Việt Nam thì ông nhận được cuộc gọi của một quan chức chính phủ. Đó là thời điểm cuối tháng 1 sau kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán. Việt Nam đã phát hiện 2 trường hợp đầu tiên mắc Covid-19 một vài ngày trước đó và chính phủ đang liên hệ với các công ty có kinh nghiệm trong lĩnh vực xét nghiệm y tế để yêu cầu giúp đỡ.


Một trung tâm xét nghiệm nhanh Covid-19 tại Hà Nội. Ảnh: Reuters.

“Quan chức đó nói rằng Việt Nam cần phải hành động nhanh chóng”, ông Phan Quốc Việt, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần công nghệ Việt Á nói. Việt Á là đơn vị được cấp phép để sản xuất đại trà bộ kit xét nghiệm nhanh SARS-CoV-2 gây nên bệnh Covid-19, đóng vai trò trung tâm trong nỗ lực của Việt Nam đẩy mạnh chương trình xét nghiệm trên diện rộng nhằm đối phó với dịch bệnh.
Kết hợp nhiều biện pháp, hành động nhanh và quyết liệt
CNA cho rằng, Việt Nam – quốc gia có 96 triệu dân và có chung đường biên giới với Trung Quốc đã cho thấy sự thành công trong ứng phó với dịch bệnh Covid-19. Chính phủ Việt Nam chính thức thông báo ghi nhận 270 ca mắc và không có ca tử vong nào tính đến thời điểm hiện tại. Trong khi đó, nước láng giềng Philippines, với quy mô dân số nhỏ hơn, báo cáo số ca mắc cao gấp 30 lần và hơn 500 ca tử vong.
Tỷ lệ lây nhiễm thấp như vậy giúp Việt Nam có lợi thế để khôi phục nền kinh tế sớm hơn nhiều so với những quốc gia khác, Reuters dẫn lời một số chuyên gia về y tế công cộng đánh giá.  Các chuyên gia này nhấn mạnh, sở dĩ Việt Nam thành công là bởi nước này đã thực hiện những biện pháp sớm và quyết liệt như hạn chế người nước ngoài nhập cảnh, cách ly hàng chục nghìn người, nhanh chóng đẩy mạnh việc xét nghiệm, triển khai hệ thống theo dõi những người có nguy cơ phơi nhiễm virus SARS-CoV-2.
Ông Matthew Moore – một quan chức thuộc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC)  - người đã hợp tác với cơ quan chức năng của Việt Nam để đối phó dịch bệnh kể từ đầu tháng 1/2020 cho biết: “Các bước đi này rất dễ mô tả nhưng lại khó thực thi, song Việt Nam đã rất thành công khi thực hiện hết lần này đến lần khác”. Ông Matthew Moore cho biết, CDC có “niềm tin rất lớn” vào phản ứng của chính phủ Việt Nam trước cuộc khủng hoảng Covid-19.
Việt Nam đã gia tăng số lượng phòng xét nghiệm Covid-19 từ 3 phòng vào thời điểm dịch bệnh bắt đầu bùng phát hồi tháng 1 lên đến 112 phòng vào tháng 4/2020.
CNA dẫn thông tin từ Bộ Y tế Việt Nam cho biết, tính đến ngày 29/4, đã có tổng số 213.743 xét nghiệm được tiến hành tại Việt Nam, trong đó có 270 xét nghiệm cho kết quả dương tính. Theo Reuters, tỷ lệ 791 xét nghiệm/1 ca mắc bệnh đến nay là cao nhất trên thế giới. Đứng thứ 2 là Đài Loan (Trung Quốc) với 140 xét nghiệm/ 1 ca mắc.
Theo các chuyên gia, Việt Nam thành công nhờ sự kết hợp của nhiều yếu tố, bao gồm vai trò lãnh đạo của chính phủ, nền kinh tế thị trường mở và sự sẵn sàng hợp tác của người dân vốn có kinh nghiệm trong ứng phó với nhiều dịch bệnh trước đó.
Giáo sư Guy Thwaites, Giám đốc đơn vị nghiên cứu lâm sàng thuộc Đại học Oxford ở thành phố Hồ Chí Minh cho biết: “Việt Nam ứng phó một cách có tổ chức. Các quyết định về chính sách trên toàn quốc được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả, không gây nhiều tranh cãi”. Phòng thí nghiệm của giáo sư Thwaites đã tham gia hỗ trợ để xử lý các xét nghiệm, với năng lực tăng cường năng lực từ việc thực hiện 100 xét nghiệm/1 ngày lên đến gần 1.000 xét nghiệm/ngày.
Theo ông, số xét nghiệm có kết quả dương tính mà phòng thí nghiệm của ông xử lý phù hợp với các dữ liệu của chính phủ.
Todd Pollack, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm tại Đại học Y Harvard cho biết, số bệnh nhân trên 60 tuổi mắc Covid-19 tại Việt Nam chiếm chưa đến 10%. Đây là nhóm tuổi có nguy cơ tử vong cao nhất do dịch bệnh này.
Ông Pollack nói thêm, tất cả các bệnh nhân mắc Covid-19 ở Việt Nam đều được theo dõi chặt chẽ tại các cơ sở y tế và được chăm sóc tốt. Chuyên gia này cũng so sánh cách ứng phó của Việt Nam với Hàn Quốc –một quốc gia khác cũng triển khai chương trình xét nghiệm quy mô lớn và có tỷ lệ tử vong tương đối thấp.
Chuyên gia Pollack cho biết: "Tỷ lệ tử vong do Covid-19 ở Hàn Quốc là khoảng 2%, một phần vì họ tiến hành xét nghiệm rất rộng rãi". "Nếu chúng tôi áp dụng tỷ lệ này cho số trường hợp được xác nhận mắc Covid-19 ở Việt Nam và xem xét  một số yếu tố khác, chúng tôi có thể hiểu làm thế nào Việt Nam tránh được các ca tử vong do dịch bệnh”.
Krutika Kuppalli, một chuyên gia về bệnh truyền nhiễm và an toàn sinh học tại Trung tâm An ninh Y tế Johns Hopkins, nói: "Việt Nam thực hiện rất tốt biện pháp ngăn chặn dịch bệnh, nhờ việc xét nghiệm, cách ly và kiểm dịch”.
Tăng cường quan hệ hợp tác công – tư
Theo CNA, vào cuối tháng 2/2020, trong khi Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn đang xem nhẹ mức độ nguy hiểm của virus SARS-CoV-2, Việt Nam và các đối tác đã bắt đầu tìm nguồn cung ứng cần thiết để sản xuất hàng loạt dụng cụ xét nghiệm Covid-19 từ Mỹ và Đức.
Học viện Quân Y của Việt Nam đã phối hợp với Công ty Công nghệ Việt Á chế tạo thành công bột kit xét nghiệm Covid-19 và được sự cấp phép của chính phủ để sản xuất hàng loạt. Doanh nhân Phan Quốc Việt cho biết, các bộ kit đã giúp cung ứng 250.000 xét nghiệm tại Việt Nam và còn được xuất khẩu ra nước ngoài.
Bộ kit xét nghiệm của Công ty Công nghệ Việt Á được đưa vào sử dụng vào ngày 4/3. Theo số liệu từ Bộ Y tế, đầu tháng 3, chỉ một phần nhỏ trong số hàng chục nghìn người tại các cơ sở cách ly được xét nghiệm virus SARS-CoV-2. Nhưng đến đầu tháng 4, số xét nghiệm đã vượt quá con số những người phải cách ly.
Ngày 23/1, Việt Nam đã hoãn các chuyến bay đến và đi từ thành phố Vũ Hán của Trung Quốc – nơi dịch bệnh khởi phát ngay sau khi phát hiện 2 trường hợp mắc Covid-19 đầu tiên. 1 tuần sau đó, Việt Nam đóng cửa đường biên giới dài 1.400km với Trung Quốc, song vẫn duy trì hoạt động trao đổi thương mại cần thiết.  
Đến giữa tháng 3/2020, Việt Nam ban hành quy định đeo khẩu trang tại những nơi công cộng trên toàn quốc. Một số nhà máy may mặc tại Việt Nam đã chuyển sang sản xuất khẩu trang để đáp ứng nhu cầu gia tăng. 
Việc xét nghiệm tại Việt Nam diễn ra song song với chương trình theo dõi liên lạc tiếp xúc của bệnh nhân và cách ly hàng chục nghìn người, trong số này có nhiều  người trở về từ nước ngoài để tránh dịch bệnh đang bùng phát mạnh mẽ ở châu Âu và Mỹ.  
Các nhân viên y tế đã làm xét nghiệm đi xét nghiệm lại đối với những trường hợp nghi nhiễm virus SARS-CoV-2 và chỉ cho phép họ ra khỏi khu cách ly khi có kết quả xét nghiệm âm tính nhiều lần. Ngoài ra cũng có nhiều xét nghiệm được thực hiện với những nhóm người không ở trong khu cách ly nhưng có nguy cơ cao phơi nhiễm virus, chẳng hạn như tại một số khu chợ ở Hà Nội./.
Hồng Anh/VOV.VN (Biên dịch)
Theo CNA, Reuters

Dòng chảy ngầm, hàng tỷ USD âm thầm đổ vào Việt Nam

Cập nhật lúc 08:42    

 

 Dòng vốn ngoại chuyển biến nhanh theo hướng tích cực. Sự trở lại của dòng tiền lớn, nhất là dòng tiền đến từ Hàn Quốc, Thái Lan... chính là chỉ báo Việt Nam luôn là 1 địa chỉ hấp dẫn.


Dấu hiệu tích cực
Sau nhiều tuần bán ròng mạnh liên tiếp do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, đầu quý 2/2020, áp lực bán đến từ khối ngoại đã có dấu hiệu suy giảm. Dòng vốn ngoại có xu hướng trở lại thị trường với một số lĩnh vực như bất động sản, xây dựng, tài chính...
Một số mã đã được khối ngoại mua vào. Trong phiên giao dịch 27/4, cổ phiếu Vingroup (VIC) và Vinhomes (VHM) của tỷ phú Phạm Nhật Vượng được khối ngoại mua vào cho dù giá trị còn thấp. Một số mã khác cũng được mua ròng như như Sabeco (SAB), Coteccons (CTD), Hòa Phát (HPG),Chứng khoán TP.HCM (HCM), POW, NT2,...
Trên sàn Upcom, khối ngoại mua ròng với 2 mã chủ yếu là VEAM (VEA) và LienVietPostBank (LPB).
Trên thị trường OTC, dòng vốn ngoại vẫn tiếp tục đổ vào Việt Nam bất chấp dịch bệnh ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới. Hồi cuối tháng 3/2020, một ông chủ người Thái đã bỏ 5 ngàn tỷ đồng để mua công ty Cáp điện Thịnh Phát (ThiPha Cable) và CTCP Kim loại màu và nhựa Đồng Việt (Dovina).
Trong tháng 2/2020, theo Nikkei, Tập đoàn Central Retail của Thái Lan đã công bố thông tin về việc tăng tỷ lệ sở hữu tại chuỗi điện máy Nguyễn Kim lên trên 81% sau khi đã thâu tóm các siêu thị BigC và Lan Chi.


Mức mua ròng của khối ngoại trong những năm qua.

Cũng theo Nikkei, trong khi dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp, ông lớn Thái Lan Siam Cement (SCG) tuyên bố sẽ mua lại CTCP Bao bì Biên Hòa (SVI). SCG liên doanh với nhà sản xuất bìa cứng hàng đầu Nhật Bản - Rengo để mua vào khoảng 15% tổng tài sản Bao bì Biên Hoà, tương đương con số chi ra gần 635 tỷ baht (khoảng 500 tỷ đồng).
Tại Việt Nam, "ông lớn"  SCG không xa lạ với nhiều thương vụ M&A lớn nhỏ trong thập kỷ qua, như mua lại công ty gạch Prime Group, Bao bì Tín Thành, Nhựa Bình Minh hay Tổ hợp hóa dầu Long Sơn...
Gần đây, Super Energy cũng công bố về thương vụ mua lại cụm nhà máy điện mặt trời tại Bình Thuận.
Nhóm quỹ thuộc VinaCapital thì mua lượng lớn cổ phiếu PHR của Công ty CP Cao su Phước Hòa, nâng tỉ lệ sở hữu lên gần 5%. JPMorgan Vietnam Opportunities Fund thông báo đã chuyển nhượng 2 triệu cổ phiếu Ngân hàng Quân đội (MBB) cho Vietnam Growth Stock Income Mother Fund, trị giá khoảng 34 tỷ đồng.
Asian Smaller Companies Fund, Vietnam và Vietnam Growth Stock Income Mother Fund và Arisaig Asia Consumer Fund cũng vừa nhận chuyển nhượng 1,7 cổ phiếu MWG của Công ty CP Đầu tư Thế Giới Di Động,...
Chứng khoán hấp dẫn vốn ngoại sau đại dịch
Không chỉ bất động sản, bán lẻ, thực phẩm,... vài năm gần đây, mảng ngân hàng tài chính cũng có sức hút đặc biệt đối với các NĐT nước ngoài, nhất là Hàn Quốc, Nhật Bản. Ngay đầu 2020, NHNN đã chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ và cổ đông thông qua chào bán 11% cho Ngân hàng Aozora của Nhật Bản.
Một loạt ngân hàng như SHB, MBBank (MBB), VPBank, NamABank,... cũng có kế hoạch bán vốn cho nước ngoài. 


Diễn biến dòng vốn ngoại đầu 2020 khi dịch Covid-19 bùng nổ.

Đầu tháng 3/2020, MBBank đã nâng room ngoại lên gần 23% sau khi tiết lộ với Reuters về kế hoạch bán 7,5% vốn cho nhà đầu tư nước ngoài.
Trong một bản báo cáo vừa công bố, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam (VFCA) cho rằng, trong dài hạn, dòng vốn ngoại sẽ trở thành động lực quan trọng góp phần giúp TTCK Việt Nam hồi phục mạnh mẽ, nhất là khi nền kinh tế trở lại với chu kỳ tăng trưởng.
Theo VFCA, trong suốt chặng đường phát triển của TTCK Việt Nam, dòng tiền của khối ngoại được coi là một chỉ dấu quan trọng cho xu hướng thị trường. Tùy từng thời điểm, dòng tiền này tạo ra lực cung - lực cầu rất lớn, là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tăng trưởng của giá cổ phiếu nói riêng, chỉ số chứng khoán cũng như mặt bằng định giá toàn thị trường nói chung.
Cú sốc Covid-19 đã đảo chiều xu hướng mua ròng mạnh, vốn đã diễn ra nhiều năm qua. Nó kích hoạt một đợt bán ròng liên tục hàng chục phiên của khối ngoại trong vài tuần qua. Tuy nhiên, đây là tình trạng chung trên thế giới và là điều thường thấy vào thời điểm khủng hoảng. Hơn thế, nguồn tiền rút ra đang có dấu hiệu trở lại và được xem là động lực quan trọng góp phần giúp VN-Index có những nhịp hồi phục mạnh mẽ khi nền kinh tế trở lại với chu kỳ tăng trưởng.
Vài năm gần đây, chỉ tính trên thị trường niêm yết, khối ngoại liên tục mua ròng mạnh cổ phiếu trên TTCK. Trong năm 2017, khối ngoại mua ròng hơn 29 ngàn tỷ đồng (gần 1,3 tỷ USD), giúp chỉ số VN-Index tăng tới 46,46%. Trong năm 2018, các NĐT nước ngoài mua ròng hơn 44 ngàn tỷ đồng (khoảng 1,9 tỷ USD), giúp VN-Index lên trên 1.200 điểm.


Nhiều dự báo cho rằng khối ngoại sẽ tiếp tục đổ tiền vào Việt Nam.

Đầu năm 2020, khối ngoại mua ròng tích cực trên TTCK và chỉ số VN-Index cũng đã tiến sát vùng 1.000 điểm trước khi quay đầu giảm mạnh khi đại dịch Covid-19 bùng phát trên thế giới, gây ra tình trạng bán tháo trên tất cả các TTCK.
Theo VFCA, áp lực từ khối ngoại là hiển hiện. Tuy vậy, nhìn rộng ra trong dài hạn, khi nhóm NĐT ngoại trở lại với thị trường lúc dịch bệnh và nền kinh tế ổn định trở lại thì đây lại là nguồn lực cực kỳ quan trọng để đưa VN-Index hồi phục về vùng điểm cân bằng.
Việt Nam luôn được xem là nơi hấp dẫn bậc nhất trong nhóm thị trường cận biên và mới nổi, là một trong số các “điểm đến” của dòng tiền sau đại dịch, VFCA nhận định.
Thực tế cho thấy, các quỹ đầu tư tài chính luôn chịu áp lực giải ngân thay vì giữ tiền mặt quá lâu. Do đó, sức bật sẽ mạnh khi nền kinh tế trở lại với chu kỳ tăng trưởng.
Còn theo Câu lạc bộ Giám đốc Tài chính Việt Nam (VCFO), Việt Nam coi như đã chiến thắng virus SARS-CoV-2 vì đã tận dụng được “thời điểm vàng” để ngăn chặn đại dịch. Thắng lợi này giúp Việt Nam có lợi thế lớn trong cuộc chiến tiếp theo để thu hút vốn FDI cũng như FII. Làn sóng rút khỏi Trung Quốc có thể sẽ mang tới những lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế Việt.
VCFO khuyến nghị, Việt Nam cần tạo ra các cơ chế, chính sách thuận lợi để thu hút FDI. Với FII, nên nới room đầu tư nước ngoài từ hạn mức 30% hiện nay lên 49%, còn hạn mức 49% thì bỏ không giới hạn nữa.
Trước đó, Báo cáo của Baker McKenzie cho rằng, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư cho dù giá trị các thương vụ M&A sẽ giảm trong 2020 nhưng tăng mạnh trong năm 2021 và 2022. Việt Nam đang hấp dẫn về chỉ số độ mở cửa nền kinh tế.
(Theo VietNamNet) M. Hà

Lý giải 14 ngày Việt Nam không có ca nhiễm mới trong cộng đồng

Cập nhật lúc 08:35                 
 Sáng 1/5, Bộ Y tế cho biết đã sang ngày thứ 15 không có ca lây nhiễm trong cộng đồng. Việt Nam cũng vừa đại diện cho Văn phòng Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Tây Thái Bình Dương có bài trình bày kinh nghiệm phòng chống dịch bệnh COVID-19, lý giải nguyên nhân vì sao trong vòng 14 ngày qua Việt Nam không ghi nhận ca nhiễm mới.


Ảnh Thái Hà
Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cho biết, trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19 trên thế giới và Việt Nam, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng chống dịch bệnh COVID-19 và Bộ Y tế đã quyết liệt chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp công nghệ kịp thời để hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam.
Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở y tế đẩy mạnh việc tư vấn khám, chữa bệnh từ xa, khám chữa bệnh tại nhà; cơ sở y tế tuyến trên chịu trách nhiệm giúp cho cơ sở y tế tuyến dưới và hỗ trợ tư vấn cho người dân trên địa bàn
Cơ sở y tế tiếp tục sử dụng các phần mềm mà đơn vị đã sử dụng hoặc sử dụng trên các nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin đã được Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Y tế hướng dẫn.
“Việc triển khai phải đảm bảo đúng quy định pháp luật về khám bệnh chữa bệnh và các quy định khác có liên quan. Bảo đảm an toàn, bảo mật các thông tin người bệnh, người dân theo quy định pháp luật”,- Bộ Y tế nêu rõ trong công văn chỉ đạo mới nhất.
Bộ Y tế yêu cầu các cơ sở y tế nghiêm túc triển khai tư vấn khám chữa bệnh từ xa thông qua các nền tảng công nghệ thông tin. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị liên hệ với Bộ Y tế (Cục Công nghệ thông tin) để được hướng dẫn thực hiện.
Trong cuộc họp cấp Bộ trưởng WHO toàn cầu hàng tuần lần này, Việt Nam đại diện cho Văn phòng WHO Tây Thái Bình Dương có bài trình bày kinh nghiệm phòng chống dịch bệnh COVID-19, lý giải nguyên nhân vì sao trong vòng 14 ngày qua Việt Nam không ghi nhận ca nhiễm mới trong cộng đồng.
Được sự ủy quyền của GS. TS. Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế, TS. Đặng Quang Tấn, Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng đã đại diện cho Bộ Y tế Việt Nam có bài trình bày về kinh nghiệm của Việt Nam trong công tác phòng, chống dịch COVID-19.
Bài trình bày của Việt Nam đã thông báo cho các quốc gia trên thế giới tình hình dịch bệnh COVID-19 tại Việt Nam, các chiến lược Việt Nam đã thực hiện (kiểm soát chặt chẽ toàn bộ hành khách từ nước ngoài trở về, tăng cường giám sát trong cộng đồng, truyền thông nguy cơ tới cộng đồng, điều trị tích cực cho các bệnh nhân nhiễm COVID-19).
Việt Nam cũng đã chia sẻ các bài học trong ứng phó dịch COVID-19, lý giải nguyên nhân vi sao trong vòng 14 ngày qua Việt Nam không ghi nhận ca nhiễm COVID-19 nào mới. 3/4 số ca mắc đã khỏi bệnh (222 ca hồi phục/tổng số 270 ca mắc). Đó là do sự lãnh đạo mạnh mẽ của Chính phủ, hệ thống kiểm soát các bệnh truyền nhiễm hiệu quả giúp cảnh báo sớm và hành động kịp thời; truy tìm dấu vết người bệnh; truyền thông hiệu quả; giãn cách xã hội và phong tỏa các điểm nóng về COVID-19.
Trong thời gian tới, các ưu tiên của Việt Nam tập trung vào tăng cường giám sát COVID-19 thông qua việc tối ưu hóa các nền tảng giám sát đã có; kiểm tra- truy tìm người tiếp xúc gần - điều trị; tiếp tục chuẩn bị cho kịch bản lây nhiễm rộng hơn trong cộng đồng; tăng cường năng lực về truyền thông nguy cơ tại tất cả các cấp độ để phòng ngừa và ứng phó với COVID-19.