|
Cập nhật lúc 13:46
-Singapore hiện
là nước có nhiều ca nhiễm Covid-19 nhất Đông Nam Á. Là người đang sinh sống
và làm việc tại đây, theo ông quan sát, tâm lý, niềm tin của người dân, doanh
nghiệp đang như thế nào?
Đến ngày 27/4, số ca nhiễm Covid-19 tại Singapore
là 13.624, cao hơn rất nhiều so với Indonesia – quốc gia có số lượng người
nhiễm đứng thứ hai ở khu vực là 8.882. Tình hình số ca nhiễm ở Singapore dự
kiến còn tăng ở mức 500 -1.000/người/ngày trong ít ngày nữa khi Singapore xét
nghiệm tổng thể tất cả các khu có nguy cơ lây nhiễm. Sau đó, tình hình sẽ tốt
lên căn bản và nhanh chóng.
Tuy các con số cho thấy mức độ nghiêm trọng của
dịch bệnh nhưng tâm lý và niềm tin của người dân và doanh nghiệp đều khá ổn. Việc
đi lại và thể dục ngoài trời của người dân, hoạt động của hệ thống giao thông
công cộng, mua sắm ở các chợ thực phẩm cơ bản vẫn bình thường. Điểm khác là
Chính phủ ban hành và giám sát ngặt nghèo về giãn cách xã hội và đeo khẩu
trang.
-Theo ông, đâu là những bài học đáng chú ý mà
Singapore có thể rút ra từ thực tế này?
Mỗi quốc gia đều có thể thu được ít nhất một trong
ba lợi ích quan trọng từ đại dịch Covid-19.
Thứ nhất, dịch bệnh giúp mỗi quốc gia tìm được
những tử huyệt mà lúc thường ít ai nghĩ tới.
Thứ hai, quốc gia đó có thể khẳng định hoặc bộc lộ
điểm mạnh đặc sắc của mình. Lợi ích này đặc biết lớn với những đất nước mà
trước nay thế mạnh này ít được thế giới biết đến.
Thứ ba, đại dịch cũng thôi thúc các quốc gia thực
hiện những quyết sách và giải pháp tưởng như không thể làm được trong thời kỳ
trước đó.
Với Singapore, lợi ích thứ nhất và thứ ba là rất
lớn. Về lợi ích thứ nhất, họ nhận ra điểm tử huyệt trong cuộc chống đại dịch
Covid-19 là mắc vào cạm bẫy năng lực.
Họ dựa vào cách làm đã thành công trong quá khứ để
giải quyết bài toán mới. Cạm bẫy này thường bắt ta phải trả giá đắt trong
trường hơp gặp phải biến cố "thiên nga đen" – là loại biến cố
thường làm người phạm sai lầm rất lớn nếu suy đoán dựa trên các mô hình đã
biết.
Sai lầm của Singapore là chủ yếu dựa vào các giải
pháp đã giúp thành công trong chống dịch SARS năm 2003, do vậy không chú ý
thích đáng tới cộng đồng 300.000 công nhân lao động nhập khẩu từ Nam Á sống
trong hơn 40 ký túc xá tập trung. Các công nhân này khỏe nên nhiều người
nhiễm mà không có triệu chứng lâm sàng nên vẫn đi làm, tụ tập trước khi được
phát hiện.
Với lợi ích thứ ba, Singapore tuân thủ một nguyên
tắc "thép" là luôn nhìn thẳng vào sự thật, dù phũ phàng đến đâu.
Thất bại là liều thuốc rất quý để Singapore hiểu rõ mình đang ở đâu và cần
phải làm gì trước những thách thức mới. Vì vậy, họ chắc sẽ có những bước tiến
vượt bậc trong cải cách và phát triển trong thời gian tới.
-Vậy nhìn về Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về
công tác chống dịch của Chính phủ cho đến thời điểm hiện tại?
Việt Nam đã nổi lên xuất sắc trong nỗ lực chống đại
dịch Covid-19. Thế mạnh tiềm tàng của khả năng phối hợp trong chỉ đạo của
Chính phủ, sự gắn kết xã hội và ý thức bảo vệ sức khỏe của người dân đã làm
nên kỳ tích vừa qua.
Vì vậy, lợi ích thứ hai mà tôi nói ở trên là rất
lớn với Việt Nam. Nó là một minh chứng có sức thuyết phục rằng đất nước có
khả năng tiềm ẩn làm thế giới phải ngạc nhiên, vị nể, đặc biệt khi đứng trước
những thách thức toàn cầu.
-Chiều 22/4, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc quyết định
cơ bản dừng giãn cách trên toàn quốc và nhấn mạnh đến tinh thần chung sống an
toàn với dịch. Ông đánh giá như thế nào về phương án này?
Đây là quyết định sáng suốt và dũng cảm. Chúng ta
cần chuẩn bị cho cả việc duy trì hoạt động bình thường khi tình huống lây
nhiễm tiếp tục xảy ra.
Chúng ta sẽ có những đội phản ứng nhanh, xử lý
quyết đoán, để ca nhiễm cá biệt không ảnh hưởng đến hoạt động chung.
Thế hệ hôm nay cần có những bản lĩnh và ý thức
trách nhiệm mà cha anh đã có trong thời kỳ chiến tranh khốc liệt – không chỉ
có thể sống chung và với bom đạn mà còn làm nên những kỳ tích trong tình thế
đầy thách thức này.
-Ông từng đề cập đến việc phải phát huy sức mạnh
cộng hưởng của chính quyền, người dân, doanh nghiệp mới có thể thúc đẩy được
sự phát triển kinh tế. Nhìn riêng với những kết quả đạt được tính đến nay ở
Việt Nam, sức mạnh này được phát huy như thế nào?
Sức mạnh một dân tộc trong công cuộc phát triển
được quyết định bởi 3 động lực chủ đạo: xúc cảm, khai sáng, và năng lực phối
thuộc-cộng hưởng.
Người Việt đã được tôi luyện trong lịch sử hàng
ngàn năm đau thương và hùng tráng, sức mạnh của động lực xúc cảm rất lớn, nếu
không nói là vô song.
Công cuộc cải cách trong hơn 3 thập kỷ qua đã nâng
tầm khai sáng và khả năng phối thuộc - cộng hưởng của Việt Nam lên rất nhiều.
Vì vậy, Việt Nam đang đứng trước những triển vọng rất lớn để tạo nên những
biến chuyển ngoạn mục, làm thế giới kinh ngạc trong những năm tới.
-Vậy cơ hội từ những sự kinh ngạc đó sẽ là gì?
Là đẩy nhanh công cuộc phát triển với một chiến lược đặc sắc, tạo nên sức mạnh trỗi dậy của dân tộc với sự cộng hưởng của ba thế mạnh: vị thế, tâm thế, và địa thế.
Phải nhấn mạnh lại là kể từ khi cải cách bắt đầu,
chưa bao giờ Việt Nam được chú ý với thái độ vị nể như hiện nay. Do đó, mỗi
cải cách tiếp theo nếu được thiết kế kỹ càng, hiệu ứng cộng hưởng này sẽ rất
lớn.
-Và để tận dụng, chúng ta cần phải làm như thế nào?
Trong nỗ lực cải cách tôi cho rằng cần chú ý xây
dựng hệ sinh thái phát triển sống động. Trong hệ sinh thái này có 3 mối quan
hệ cần được đặc biệt chú ý. Đó là "tương sinh", "cộng
sinh" và "ký sinh".
Tương sinh là mối quan hệ tương tác làm các thành
viên đều được hưởng lợi từ sự mạnh lên của mỗi thành viên.
Cộng sinh là sự chung sống thuận hòa, các thành
viên cần có nhau để cùng tồn tại cho dù lợi ích cộng hưởng không đáng kể.
Ký sinh là mối quan hệ mà một số thành viên hưởng
lợi từ việc làm hại cộng đồng giống như loại ruồi muỗi.
Cải cách chiến lược cần đặc biệt chú trọng tạo môi
trường và thúc đẩy để các quan hệ tương sinh bừng nở và phát triển. Đồng thời
khuyến khích cộng sinh, và quyết liệt triệt giảm các quan hệ ký sinh.
Về thúc đẩy tương sinh, Việt Nam cần tạo những điều
kiện đặc biệt để TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh lớn mạnh vượt bậc trong các năm
tới. Quan hệ tương sinh của hai thành phố này với các tỉnh và nền tảng phát
triển của Việt Nam là rất lớn. Hai thành phố mạnh lên 1, Việt Nam mạnh lên
5-10 lần.
Với ký sinh, chúng ta cần hiểu dạng thức này tồn
tại rất tinh vi và dai dẳng. Khó khăn trong cải cách của Việt Nam trong một
số lĩnh vực mà ai cũng thấy cấp thiết không phải là do thiếu kiến thức hay
năng lực mà là do có một bộ phận hưởng lợi từ nó.
Vì vậy, để triệt tiêu loại hình quan hệ tai hại
này, chúng ta rất cần ánh sáng mặt trời của sự minh bạch và sự giám sát từ
người dân, dù là trong xuất khẩu gạo hay mua thiết bị y tế.
-Trong quý I/2020, GDP Việt Nam tăng trưởng 3,82%.
Ông nhìn nhận như thế nào về con số này?
Đây là một kết quả khá tốt so với các nước trong khu vực khi tăng trưởng Trung Quốc giảm 6,8%; Singapore giảm 2,2%.
Tuy nhiên, theo tôi, tăng trưởng GDP của Việt Nam
trong quý II 2020 sẽ thấp hơn nhiều và có thể ở vào khoảng 1-3%.
Lý do chính của việc sụt giảm này là các ngành dịch
vụ chiếm trên 20% GDP bị giảm rất mạnh, trong khi các ngày khác cũng bị chậm
lại nhiều. Nếu giả sử 80% nền kinh tế vẫn duy trì được mức tăng trưởng cao là
5% và khu vực dịch vụ chiếm 20% tỷ trọng nền kinh tế này bị giảm 15% thì tăng
trưởng quý II sẽ chỉ ở mức 80% x 5%- 20% x 15% = 1%.
Nghĩa là chúng ta phải chuẩn bị cho một mức tăng
trưởng thấp chưa từng thấy trong quý II trước khi kinh tế phục hồi.
-Việt Nam có thể tham khảo thêm những điều gì từ
chính sách của Chính phủ Singapore hỗ trợ doanh nghiệp và người dân?
Tôi thấy có 3
cách tiếp cận khá hiệu quả. Thứ nhất, mức giảm thuế bằng 25% mức thuế vừa
đóng và không quá 15.000 USD/doanh nghiệp. Nghĩa là hỗ trợ dựa trên đóng góp.
Thứ hai, quỹ cho vay của Chính phủ hoàn toàn thông
qua ngân hàng. Chính phủ bảo lãnh tới 80% mức vay. Như vậy nếu doanh nghiệp
không trả được nợ thì ngân hàng chịu 20%. Thêm nữa, các doanh nghiệp không
phải trả gốc mà chỉ phải trả lãi (theo mức thị trường với ưu đãi không lớn)
cho tới 31/12/2020.
Thứ ba, các doanh nghiệp vay phục vụ để chuyển đổi
số được ưu đãi đặc biệt hơn. Với các doanh nghiệp dịch vụ ăn uống muốn đầu tư
bán hàng qua mạng thì có thể được hỗ trợ đến 90%.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng được một tỷ lệ bao cấp
đến 70% nếu sử dụng dịch vụ tư vấn, đào tạo để nâng cao năng lực quản lý và
trình độ công nhân.
-Đã có ý kiến cho rằng mở cửa thị trường nội địa sẽ
là gói cứu trợ lớn nhất cho Việt Nam. Quan điểm của ông?
Tôi đồng ý đây là một gói cứu trợ hiệu quả hơn
nhiều so với các gói cứu trợ tài chính. Còn nói đến gói cứu trợ lớn nhất mà
Chính phủ có thể làm được, theo tôi, là những quyết sách cải cách khiến thế
giới kinh ngạc, lòng dân rung động, và làm dấy lên cao độ ý chí và ý thức
trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp.
-Nhưng nếu mở cửa thị trường nội địa trong bối cảnh thế giới dịch bệnh vẫn phức tạp thì Việt Nam sẽ phải cân nhắc những gì? Doanh nghiệp mạnh lên nhờ nhạy bén nắm bắt cơ hội, củng cố tốt nền móng, và có chiến lược phát triển thông thái.
Trong bối cảnh thế giới còn trong khủng hoảng, cơ
hội bên ngoài còn hạn chế, các doanh nghiệp cần nhân dịch này nắm bắt triệt
để cơ hội trong nước, gia cường nền móng phát triển. Đặc biệt là trong chuyển
đổi số, bảo vệ môi trường, nâng cao trình độ người lao động, nâng cấp chiến
lược kinh doanh. Họ cũng cần phương án ứng phó, duy trì hoạt động nếu đại
dịch trở lại hoặc một đại dịch mới xuất hiện.
-Liệu có ví dụ tốt nào mà Việt Nam có thể tham khảo?
Hiện chưa có kinh nghiệm nào đủ rõ ràng để tham
khảo. Chính vậy, nếu mạnh dạn tiên phong, khám phá phương cách phát triển bền
vững trong đại dịch thì uy tín Việt Nam từ thắng lợi trong chống dịch vừa qua
sẽ được nhân lên hàng trăm lần, tạo hiệu ứng thuận lợi rất lớn cho công cuộc
phát triển sắp tới.
-Nhiều người kỳ vọng rằng đại dịch Covid-19 sẽ thúc
đẩy việc dịch chuyển các nhà máy sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam. Quan
điểm của ông là gì?
Tôi thấy đấy là cơ hội rất lớn mà chúng ta cần
chiến lược đặc biệt để nắm bắt triệt để. Có 3 vấn đề lớn khi thiết lập chiến
lược này.
Thứ nhất, Việt Nam cần được định vị có lợi thế đặc
biệt về "sự tin cậy chiến lược". Điều này lớn hơn nhiều lợi thế về
chi phí lao động, đặc biệt trong dài hạn.
Trong điểm nhấn này, cần đưa ra các thể chế ưu tú
mà các doanh nghiệp FDI lớn, có uy tín đã được hưởng. Chúng ta cần để nhà đầu
tư thấy được sự thật tâm, trân trọng, và ý thức chiến lược trong xây dựng nền
móng cho hợp tác lâu dài.
Thứ hai, chúng ta cần tính rất kỹ đến thách thức
trong cơ hội. Đơn cử như các KCN hậu dịch Covid-19 cần được xây dựng để hoạt
động thuận lợi ngay cả khi có dịch bệnh. Trong thời gian tới, tăng hiệu lực
bền vững sẽ quan trọng không kém tăng hiệu quả vận hành.
Thứ ba là phải có kế hoạch hành động đặc sắc, khiến
nhà đầu tư thán phục. Đấy không phải những ưu đãi về thuế, hay giảm chi phí,
mà là thể chế quản lý.
Khi đánh giá về ứng xử của các cơ quan công quyền,
các nhà đầu tư ở một nước đang phát triển thường ở một trong hai trạng thái:
nhẫn chịu (sacrifice) vì mình đang kiếm lợi ở đây hoặc ngạc nhiên hứng thú
(surprise) vì thấy Chính phủ đưa ra quyết sách quá hay, thế giới nên đến học
tập.
Bước đường đi lên của Việt Nam trong thu hút FDI
trong thời gian tới không nằm nhiều ở ưu đãi đặc biệt mà ở số lượng ngạc
nhiên mà Chính phủ và các địa phương tạo ra cho các nhà đầu tư.
-Ông có đề xuất cụ thể gì cho Việt Nam?
Tôi xin đưa ra 3 đề xuất.
Thứ nhất, trong họp báo Bộ Ngoại giao, Người phát
ngôn nên có một mục nhỏ, giới thiệu cải cách mới nhất của Việt Nam. Biển Đông
càng phức tạp, Việt Nam càng cần có nhiều cải cách dũng cảm và hội nhập thế
giới với ý thức trách nhiệm cao nhất.
Chúng ta phải ứng xử làm sao để thấy Việt Nam càng
mạnh lên khi tình thế càng khắc nghiệt. Đó là một đặc tính đặc sắc nhất của
nhà nước kiến tạo phát triển.
Từ ngỡ ngàng ban đầu, báo chí quốc tế sẽ dần tin
tưởng rằng chúng ta đang phất lên ngọn cờ cải cách. Sức mạnh của một quốc gia
nằm ở khả năng tấn công vào điểm yếu của chính mình, trở thành ngọn hải đăng
để thế giới hướng đến.
Thứ hai, một số tập đoàn lớn như Vingroup nên mở
rộng sang lĩnh vực khát triển KCN không chỉ cho Việt Nam mà cả Đông Nam Á.
Xây dựng nền tảng phát triển có hiệu quả và hiệu lực lớn hơn nhiều so với làm
sản phẩm đơn lẻ như ô tô, máy thở.
Cuối cùng, Trung ương và Quốc hội có thể lập ra một
hội đồng tiếp nhận sáng kiến cải cách xây dựng Việt Nam 2045 để nhận ý kiến
từ người dân, doanh nghiệp, địa phương.
Người tham gia hội đồng này không cần có vị trí
trong hệ thống chính trị để đảm bảo khách quan, họ chỉ cần có uy tín về phẩm
chất, trình độ là được.
Hội đồng này sẽ đánh giá các sáng kiến gửi đến,
phân tích và trao đổi với Trung ương Đảng, Quốc hội, và Chính phủ các sáng
kiến khả thi nhất. Hội đồng sẽ có báo cáo định kỳ hàng năm hoặc sáu tháng cho
toàn dân. Nếu chúng ta thành công, lịch sử sẽ ghi lại nỗ lực này như một Hội
Nghị Diên Hồng.
Ảnh: Vũ Minh Quân, Tuấn Hưng
-Nhiều lần nhắc đến tiềm năng của Việt Nam và khẳng
định đất nước "không giàu mới lạ", nhưng với một sự cố thiên nga
đen như Covid-19, liệu cơ hội của chúng ta có bị chậm lại?
Theo nguyên lý phát triển, một sự cố khắc nghiệt
thường dẫn đến những tiến hóa lớn và những biểu tượng đại diện cho kỷ nguyên
phát triển mới.
Việt Nam đang có những lợi thế đặc biệt để trở
thành biểu tượng phát triển cho ba thập kỷ tới.
Đây vừa là vận hội dân tộc, vừa là cấp bách có tính
sống còn vì chỉ sau 30 năm nữa chúng ta trở thành một dân tộc già như Nhật
Bản và sức sống động sẽ giảm đi rất nhiều.
Cảm ơn ông!
Theo Cafef.vn
|
Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2020
Trung Quốc lại ngang ngược cấm đánh bắt cá ở Biển Đông, điều
hải cảnh giám sát
Cập nhật lúc 11:09
Tân Hoa xã tối 1.5 ngang nhiên đưa tin lệnh cấm đánh bắt cá
thường niên của Trung Quốc ở Biển Đông
bắt đầu từ trưa cùng ngày, với sự giám sát của lực lượng hải cảnh và kiểm ngư
nước này.
Tàu hải cảnh Trung
Quốc hoạt động phi pháp trong vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam. MAI
THANH HẢI
Lệnh cấm đánh bắt cá phi
pháp nói trên bắt đầu được áp dụng từ 12 giờ ngày 1.5 đến 12
giờ ngày 16.8. Phạm vi cấm đánh bắt trải dài từ vùng biển phía bắc Biển Đông
đến 12 độ vĩ bắc, bao gồm cả một phần vịnh Bắc bộ và quần đảo
Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Theo Tân Hoa xã
dẫn thông báo từ lực lượng hải cảnh Trung Quốc, 50.000 tàu cá sẽ dừng hoạt
động đánh bắt trong thời gian 3 tháng rưỡi và lực lượng này sẽ thực thi lệnh
cấm một cách nghiêm ngặt theo cái gọi là quy định và luật pháp liên quan.
Hồi tháng
5.2019, trả lời câu hỏi của phóng viên
về việc Trung Quốc áp dụng cấm đánh bắt cá thường niên từ ngày 1.5-16.8 ở khu
vực Biển Đông, trong đó bao gồm một số vùng biển của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng
định: Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ
quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như các quyền hợp
pháp đối với các vùng biển của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước
của LHQ về luật Biển năm 1982.
Việt Nam cho
rằng các biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật cần được tiến hành phù
hợp với các quy định của Công ước của LHQ về luật Biển năm 1982 và không làm
phương hại đến quyền chủ quyền và các quyền tài phán trên biển của các nước
có liên quan.
Việt Nam phản
đối và kiên quyết bác bỏ quyết định đơn phương này của phía Trung Quốc. Quy
chế này xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, vi phạm
các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam trên các vùng biển của mình, vi
phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của LHQ về luật Biển năm 1982,
đi ngược lại tinh thần và lời văn của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung
Quốc (DOC), trái với Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết
vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc.
(Theo Thanh
Niên) Văn Khoa
|
Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020
Nhóm ASEAN tại QH Mỹ ủng hộ
đẩy mạnh quan hệ đối tác với Việt Nam
Cập
nhật lúc 09:15
Ngay trong thời điểm khó khăn do dịch
bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, Việt Nam và Mỹ đã hợp tác chặt chẽ, ủng hộ
và hỗ trợ lẫn nhau ở cả bình diện song phương cũng như trong cơ chế hợp tác
ASEAN–Mỹ.
Hạ nghị sỹ Joaquin Castro. (Ảnh: Đặng
Huyền/TTXVN)
Chiều
29/4 (theo giờ Washington DC), Đại sứ Việt Nam tại Mỹ Hà Kim Ngọc đã có buổi
trao đổi trực tuyến với Hạ nghị sỹ Joaquin Castro, đại diện đảng Dân chủ
thuộc bang Texas, Phó Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện, đồng Chủ tịch Nhóm
nghị sỹ Quốc hội Mỹ về quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam-Mỹ và quan hệ Đối tác Chiến
lược ASEAN-Mỹ (ASEAN Caucus).
Theo
phóng viên TTXVN tại Mỹ, tại cuộc trao đổi, Đại sứ Hà Kim Ngọc và Hạ nghị sỹ
Joaquin Castro bày tỏ vui mừng trước những bước phát triển mạnh mẽ của quan
hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam-Mỹ trên nhiều lĩnh vực.
Ngay
trong thời điểm khó khăn khi dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, hai nước
đã hợp tác chặt chẽ, ủng hộ và hỗ trợ lẫn nhau ở cả bình diện song phương
cũng như trong cơ chế hợp tác ASEAN–Mỹ để phòng chống dịch bệnh và chuẩn bị
các biện pháp phục hồi kinh tế, tiếp tục thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương
mại, đầu tư.
Hai
bên cũng trao đổi về vvấn đề hợp tác ứng phó với dịch bệnh COVID-19,
tình hình Biển Đông và thúc đẩy hợp tác Mekong-Mỹ.
Đại
sứ Hà Kim Ngọc đã chia sẻ các nỗ lực của Chính phủ và nhân dân Việt Nam cùng
lúc thực hiện nhiệm vụ kép, vừa chống dịch bệnh vừa khôi phục, phát triển
kinh tế.
Đại
sứ khẳng định trong giai đoạn khó khăn hiện nay, ASEAN luôn đoàn kết, nhất
trí và hợp tác hiệu quả với các đối tác trong xử lý dịch bệnh.
Đại
sứ cũng cảm ơn sự hỗ trợ kịp thời của Mỹ dành cho các nước ASEAN, trong đó có
Việt Nam, trong khi Chính quyền, Quốc hội và người dân Mỹ cũng đang phải tập
trung ứng phó với COVID-19.
Về
phần mình, Hạ nghị sỹ Castro chúc mừng Việt
Ông
Castro khẳng định ASEAN Caucus luôn ủng hộ ASEAN vững mạnh, ủng hộ quan hệ
Đối tác Chiến lược Mỹ-ASEAN và ủng hộ năm Chủ tịch ASEAN của Việt Nam, trong
đó có các hội nghị được tổ chức tới đây tại Việt Nam.
Liên
quan đến vấn đề Biển Đông, Hạ nghị sỹ Castro khẳng định ASEAN Caucus và cá
nhân ông luôn phản đối những hành động xâm phạm chủ quyền, đi ngược lại luật
pháp quốc tế, trật tự dựa trên luật lệ, làm thay đổi nguyên trạng và gây bất
ổn khu vưc.
Ông
cũng bày tỏ sự ủng hộ đối với việc các nước hạ nguồn sông Mekong và Mỹ sẽ
nâng cấp cơ chế hợp tác từ Sáng kiến Hạ nguồn sông Mekong
(LMI) thành Đối tác Mekong-Mỹ vì một khu vực Mekong phát triển bền vững. Ông
nhắc lại ấn tượng tốt đẹp về đất nước, con người Việt Nam trong chuyến thăm
của cựu Tổng thống Barack Obama năm 2016 và mong sẽ có dịp quay trở lại Việt
Nam.
Đây là một trong nhiều cuộc gặp, trao đổi, tọa đàm trực tuyến gần
đây của Đại sứ Hà Kim Ngọc và Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ với
Chính quyền, Quốc hội, học giả, doanh nghiệp Mỹ trong giai đoạn Mỹ thực hiện
chặt chẽ giãn cách xã hội do dịch bệnh COVID-19 nhằm tiếp tục giữ đà phát
triển quan hệ Việt-Mỹ trong năm hai nước kỷ niệm 25 năm ngày thiết lập quan
hệ ngoại giao (1995-2020)./.
Đặng Huyền (TTXVN/Vietnam+)
|
Chuyên gia quốc tế chỉ rõ yếu tố “then chốt” giúp Việt
|
Dòng chảy ngầm, hàng tỷ USD âm thầm đổ vào Việt Nam
Cập nhật lúc 08:42
Dòng
vốn ngoại chuyển biến nhanh theo hướng tích cực. Sự trở lại của dòng tiền
lớn, nhất là dòng tiền đến từ Hàn Quốc, Thái Lan... chính là chỉ báo Việt Nam
luôn là 1 địa chỉ hấp dẫn.
Dấu hiệu tích cực
Sau nhiều tuần bán ròng mạnh liên tiếp do diễn biến phức
tạp của dịch Covid-19, đầu quý 2/2020, áp lực bán đến từ khối ngoại đã có dấu
hiệu suy giảm. Dòng vốn ngoại có xu hướng trở lại thị trường với một số lĩnh
vực như bất động sản, xây dựng, tài chính...
Một số mã đã được khối ngoại mua vào. Trong phiên giao
dịch 27/4, cổ phiếu Vingroup (VIC) và Vinhomes (VHM) của tỷ phú Phạm Nhật
Vượng được khối ngoại mua vào cho dù giá trị còn thấp. Một số mã khác cũng
được mua ròng như như Sabeco (SAB), Coteccons (CTD), Hòa Phát (HPG),Chứng khoán TP.HCM (HCM), POW,
NT2,...
Trên sàn Upcom, khối ngoại mua ròng với 2 mã chủ yếu là
VEAM (VEA) và LienVietPostBank (LPB).
Trên thị trường OTC, dòng vốn ngoại vẫn tiếp tục đổ vào
Việt Nam bất chấp dịch bệnh ảnh hưởng trên phạm vi toàn thế giới. Hồi cuối
tháng 3/2020, một ông chủ người Thái đã bỏ 5 ngàn tỷ đồng để mua công ty Cáp
điện Thịnh Phát (ThiPha Cable) và CTCP Kim loại màu và nhựa Đồng Việt
(Dovina).
Trong tháng 2/2020, theo Nikkei,
Tập đoàn Central Retail của Thái Lan đã công bố thông tin về việc tăng tỷ lệ
sở hữu tại chuỗi điện máy Nguyễn Kim lên trên 81% sau khi đã thâu tóm các
siêu thị BigC và Lan Chi.
Cũng theo Nikkei, trong khi dịch Covid-19 vẫn diễn biến
phức tạp, ông lớn Thái Lan Siam Cement (SCG) tuyên bố sẽ mua lại CTCP Bao bì
Biên Hòa (SVI). SCG liên doanh với nhà sản xuất bìa cứng hàng đầu Nhật Bản -
Rengo để mua vào khoảng 15% tổng tài sản Bao bì Biên Hoà, tương đương con số
chi ra gần 635 tỷ baht (khoảng 500 tỷ đồng).
Tại Việt Nam, "ông lớn" SCG không xa lạ
với nhiều thương vụ M&A lớn nhỏ trong thập kỷ qua, như mua lại công ty
gạch Prime Group, Bao bì Tín Thành, Nhựa Bình Minh hay Tổ hợp hóa dầu Long
Sơn...
Gần đây, Super Energy cũng công bố về thương vụ mua lại
cụm nhà máy điện mặt trời tại Bình Thuận.
Nhóm quỹ thuộc VinaCapital thì mua lượng lớn cổ phiếu PHR
của Công ty CP Cao su Phước Hòa, nâng tỉ lệ sở hữu lên gần 5%. JPMorgan
Vietnam Opportunities Fund thông báo đã chuyển nhượng 2 triệu cổ phiếu Ngân
hàng Quân đội (MBB) cho Vietnam Growth Stock Income Mother Fund, trị giá
khoảng 34 tỷ đồng.
Asian Smaller Companies Fund, Vietnam và Vietnam Growth
Stock Income Mother Fund và Arisaig Asia Consumer Fund cũng vừa nhận chuyển
nhượng 1,7 cổ phiếu MWG của Công ty CP Đầu tư Thế Giới Di Động,...
Chứng khoán hấp dẫn vốn ngoại
sau đại dịch
Không chỉ bất động sản, bán lẻ, thực phẩm,... vài năm gần
đây, mảng ngân hàng tài chính cũng có sức hút đặc biệt đối với các NĐT nước
ngoài, nhất là Hàn Quốc, Nhật Bản. Ngay đầu 2020, NHNN đã chấp thuận cho OCB
tăng vốn điều lệ và cổ đông thông qua chào bán 11% cho Ngân hàng Aozora của
Nhật Bản.
Một loạt ngân hàng như SHB, MBBank (MBB), VPBank,
NamABank,... cũng có kế hoạch bán vốn cho nước ngoài.
Đầu tháng 3/2020, MBBank đã nâng room ngoại lên gần 23%
sau khi tiết lộ với Reuters về kế hoạch bán 7,5% vốn cho nhà đầu
tư nước ngoài.
Trong một bản báo cáo vừa công bố, Hiệp hội Tư vấn tài
chính Việt Nam (VFCA) cho rằng, trong dài hạn, dòng vốn ngoại sẽ trở thành
động lực quan trọng góp phần giúp TTCK Việt Nam hồi phục mạnh mẽ, nhất là khi
nền kinh tế trở lại với chu kỳ tăng
trưởng.
Theo VFCA, trong suốt chặng đường phát triển của TTCK Việt
Nam, dòng tiền của khối ngoại được coi là một chỉ dấu quan trọng cho xu hướng
thị trường. Tùy từng thời điểm, dòng tiền này tạo ra lực cung - lực cầu rất
lớn, là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tăng trưởng của giá cổ phiếu nói
riêng, chỉ số chứng khoán cũng như mặt bằng định giá toàn thị trường nói
chung.
Cú sốc Covid-19 đã đảo chiều xu hướng mua ròng mạnh, vốn
đã diễn ra nhiều năm qua. Nó kích hoạt một đợt bán ròng liên tục hàng chục
phiên của khối ngoại trong vài tuần qua. Tuy nhiên, đây là tình trạng chung
trên thế giới và là điều thường thấy vào thời điểm khủng hoảng. Hơn thế,
nguồn tiền rút ra đang có dấu hiệu trở lại và được xem là động lực quan trọng
góp phần giúp VN-Index có những nhịp hồi phục mạnh mẽ khi nền kinh tế trở lại
với chu kỳ tăng trưởng.
Vài năm gần đây, chỉ tính trên thị trường niêm yết, khối
ngoại liên tục mua ròng mạnh cổ phiếu trên TTCK. Trong năm 2017, khối ngoại
mua ròng hơn 29 ngàn tỷ đồng (gần 1,3 tỷ USD), giúp chỉ số VN-Index tăng tới
46,46%. Trong năm 2018, các NĐT nước ngoài mua ròng hơn 44 ngàn tỷ đồng
(khoảng 1,9 tỷ USD), giúp VN-Index lên trên 1.200 điểm.
Đầu năm 2020, khối ngoại mua ròng tích cực trên TTCK và
chỉ số VN-Index cũng đã tiến sát vùng 1.000 điểm trước khi quay đầu giảm mạnh
khi đại dịch Covid-19 bùng phát trên thế giới, gây ra tình trạng bán tháo
trên tất cả các TTCK.
Theo VFCA, áp lực từ khối ngoại là hiển hiện. Tuy vậy,
nhìn rộng ra trong dài hạn, khi nhóm NĐT ngoại trở lại với thị trường lúc
dịch bệnh và nền kinh tế ổn định trở lại thì đây lại là nguồn lực cực kỳ quan
trọng để đưa VN-Index hồi phục về vùng điểm cân bằng.
Việt Nam luôn được xem là nơi hấp dẫn bậc nhất trong nhóm
thị trường cận biên và mới nổi, là một trong số các “điểm đến” của dòng tiền
sau đại dịch, VFCA nhận định.
Thực tế cho thấy, các quỹ đầu tư tài chính luôn chịu áp
lực giải ngân thay vì giữ tiền mặt quá lâu. Do đó, sức bật sẽ mạnh khi nền
kinh tế trở lại với chu kỳ tăng trưởng.
Còn theo Câu lạc bộ Giám đốc Tài chính Việt Nam (VCFO),
Việt Nam coi như đã chiến thắng virus SARS-CoV-2 vì đã tận dụng được “thời
điểm vàng” để ngăn chặn đại dịch. Thắng lợi này giúp Việt Nam có lợi thế lớn
trong cuộc chiến tiếp theo để thu hút vốn FDI cũng như FII. Làn sóng rút khỏi
Trung Quốc có thể sẽ mang tới những lợi ích rất lớn cho doanh nghiệp cũng như
nền kinh tế Việt.
VCFO khuyến nghị, Việt Nam cần tạo ra các cơ chế, chính
sách thuận lợi để thu hút FDI. Với FII, nên nới room đầu tư nước ngoài từ hạn
mức 30% hiện nay lên 49%, còn hạn mức 49% thì bỏ không giới hạn nữa.
Trước đó, Báo cáo của Baker McKenzie cho rằng, Việt Nam
tiếp tục là điểm đến hấp dẫn các nhà đầu tư cho dù giá trị các thương vụ M&A
sẽ giảm trong 2020 nhưng tăng mạnh trong năm 2021 và 2022. Việt Nam đang hấp
dẫn về chỉ số độ mở cửa nền kinh tế.
(Theo VietNamNet) M. Hà
|
Lý
giải 14 ngày Việt
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




















