Tài xế trả tiền lẻ, dân địa phương
vây trạm BOT quốc lộ 5
Cập nhật lúc 16:43
Bức xúc vì đường xấu, phí cao, nhiều tài xế đã
dùng tiền lẻ mệnh giá 200-500 đồng để đi qua trạm thu phí Văn Lâm trên quốc
lộ 5. Người dân địa phương cũng kéo ra phản đối vì họ không được trợ phí khi
qua trạm BOT này.
Trạm thu phí ùn tắc kéo dài
Ngày 5-9, trao đổi với phóng viên Báo Người
Lao Động, lãnh đạo Đội CSGT số 1 Phòng CSGT Công an tỉnh Hưng Yên, cho
biết đến sáng 5-9, đã không còn tình trạng ùn tắc kéo dài tại khu vực trạm BOT thu
phí Quốc lộ 5 (đoạn qua huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) cả 2 chiều.
Trước đó, từ chiều đến tối 4-9, do bức xúc
trước việc bị áp giá quá cao và không có sự hỗ trợ với những người dân sống
quanh vùng phải thường xuyên đi qua trạm, các chủ phương tiện đã sử dụng tiền
lẻ loại 200 đồng, 500 đồng, để trả phí khi qua trạm BOT này.
Theo ghi nhận của phóng viên, vào khoảng 16
giờ ngày 4-9, khi qua trạm thu phí này, gần 30 tài xế xe tải đã dùng tiền lẻ
mệnh giá 200 đồng, 500 đồng để trả tiền phí, gây ùn tắc cục bộ chiều từ Hải
Dương đi Hà Nội. Đến khoảng 17 giờ, các tài xế vòng lại qua trạm lần 2. Trong
lần qua trạm đầu tiên, việc các lái xe dùng tiền lẻ mua vé diễn ra bình
thường, nhưng trong lần quay trở lại, người dân ven trạm thu phí này biết
chuyện đã kéo ra xem rất đông chặn xe đầu kéo, gây ùn tắc, náo loạn cả khu
vực.
Người dân địa phương cũng kéo ra phản đối trạm BOT
Những người dân địa phương cho rằng phí qua
trạm BOT này quá cao (40 ngàn đồng/lượt) nên xe tải đã tìm cách trốn trạm đi
vào các đường liên xã, huyện, tỉnh. Tình trạng kéo dài đã làm hỏng đường xá,
tăng tai nạn giao thông. Những người dân 2 huyện này đề nghị trạm giảm phí
cho xe tải lưu thông theo quốc lộ như trước đây.
Anh Nguyễn Văn M. (tài xế container, một
hãng vận tải ở TP Hải Phòng) bức xúc đường xá thì xấu, không được đầu tư vậy
mà gần đây mức phí qua trạm nâng lên 40 ngàn đồng. Việc trạm thu phí này được
thu phí hỗ trợ hoàn vốn của quốc lộ 5 mới là điều này là không thể chấp nhận
được".
Còn ông Trần Văn C. (chủ doanh nghiệp ở
tỉnh Hải Dương) phản ánh, việc tăng phí là hết sức vô lý vì theo ông, nhà
chức trách đã thu phí bảo trì đường bộ sử dụng cho tuyến đường này. Theo ông
C., không thể lấy lý do thu phí ở 2 trạm đặt trên quốc lộ 5A để bù cho phí
quốc lộ 5B là cao tốc Hà Nội-Hải Phòng được.
Nhân viên trạm BOT được tăng cường để đếm tiền lẻ
Ngay sau đó, Đội CSGT số 1 và Cảnh sát cơ
động cùng Công an huyện Văn Lâm đã có mặt để vận động lái xe, người dân và
phân làn giải quyết ùn tắc. Trạm thu phí cũng đã phải tăng cường nhân viên để
đếm tiền lẻ. Thay vì thu tiền trực tiếp tại cửa trạm, các lái xe được yêu cầu
tấp vào lề đường để nhân viên ra tận xe thu phí.
Để đảm bảo an ninh trật tự, tránh tình
trạng ùn tắc kéo dài, công an địa phương đã yêu cầu Trạm thu phí xả trạm.
Ngay sau đó, trạm đã mở cửa cho các phương tiện lưu thông trong khoảng thời
gian khoảng hơn 20 phút.
Tính đến đêm 4-9, Đội CSGT số 1 vẫn huy
động 100% quân số để túc trực tại trạm. Cảnh sát cơ động và công an địa
phương cũng được yêu cầu có mặt để giải quyết nếu tình trạng lặp lại.
Theo ông Nguyễn Văn Huyện, Tổng Cục trưởng
Tổng cục đường bộ, việc lái xe tập trung là để phản đối đòi giảm phí. Một số
tài xế đưa tiền lẻ đã được yêu cầu đánh xe vào làn đường bên trong để thu
tiền và cho xe qua trạm. Tuy nhiên có một số lái xe tải, xe bồn gây kích
động. Do đó, chính quyền địa phương đã huy động cảnh sát cơ động đến để đảm
bảo an ninh trật tự.
Liên quan đến dự án này, ông Huyện nói rõ
đây là dự án thu hỗ trợ quốc lộ 5 mới chứ không phải dự án BOT. Tổng công ty
Phát triển hạ tầng và Đầu tư tài chính Việt Nam (VIDIFI) vay tiền của ngân
hàng làm đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng và được Nhà nước cho phép thu phí
quốc lộ 5 để hỗ trợ dự án.
Được biết, quốc lộ 5 có chiều dài 116 km,
nối Hà Nội với Hải Phòng, được xây dựng bằng tiền ngân sách Nhà nước và đã đi
vào hoạt động hàng chục năm nay. Năm 2015, sau khi tuyến cao tốc Hà Nội-Hải
Phòng được xây dựng xong, tuyến đường này được Bộ Giao thông Vận tải chấp
thuận cho chủ đầu tư là VIDIFI được phép sử dụng 2 trạm thu phí BOT để hoàn
vốn dự án, một đặt tại Hưng Yên và một đặt tại Hải Phòng. Sau khi VIDIFI tiếp
quản, phí qua trạm quốc lộ 5 tăng từ từ 30.000 đồng lên 45.000 đồng đối với
xe ô tô dưới 12 chỗ ngồi hoặc xe tải dưới 2 tấn; từ 40.000 đồng lên 60.000
đồng với xe từ 12 đến dưới 30 chỗ ngồi, xe tải từ 2 đến dưới 4 tấn...). Hiện
nay mỗi ngày có khoảng 15.000-16.000 lượt phương tiện qua lại.
Vào tháng 8-2016, nhiều người dân thuộc địa
bàn hai xã Đại Bản và Lê (huyện An Dương, TP Hải Phòng), nơi giáp với đại
điểm đặt trạm thu phí số 2 trên quốc lộ 5 để phản đối, đề nghị phải có cơ chế
miễn, giảm phí cho những người dân trong xã.
Ngay sau đó, chia sẻ với người dân địa
phương, UBND huyện An Dương cũng đã có kiến nghị đến các cơ quan chức năng
cũng như chủ đầu tư VIDIFI. Tuy nhiên, đến nay, người dân địa phương vẫn phải
chịu cảnh đi qua trạm thu phí (chỉ cách nhà 1 km) là lại phải mất tiền.
(Theo NLĐ) Trọng Đức
|
Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017
|
TS
Lê Đăng Doanh nói về câu chuyện BOT: Đừng biến người dân thành con nợ của nền kinh tế
Cập nhật lúc 14:26
“Tôi đồng tình cách mà người dân ở Cai Lậy đã phản ứng trong vụ việc
này: ôn hòa, hợp pháp nhưng vẫn thể hiện được sự phản kháng và bất bình. Sự
phản ứng ở Cai Lậy là câu chuyện địa phương, nhưng sẽ là lời cảnh báo với các
lãnh đạo Đảng và Nhà nước!”.
Nhà báo Hương Thảo Nguyên: Thưa
TS Lê Đăng Doanh, sau câu chuyện người dân và các chủ doanh nghiệp bắt tay
nhau để phản đối BOT Cai Lậy, tôi nghĩ về sự thay đổi trong cách phản ứng của
người dân với các vấn đề chính sách trong những năm qua: từ chuyện Đoàn Văn
Vươn ở Tiên Lãng năm nào, đến vụ đất đai ở Đồng Tâm và vụ thu phí ở Cai Lậy,
dù câu chuyện khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, cách phản ứng khác nhau, kết
quả khác nhau, nhưng ông có đồng ý rằng trong những năm trở lại đây, người
dân đã thể hiện sự bất bình công khai hơn và trực diện hơn với những chính
sách chưa phù hợp - những chính sách mà ở đó lợi ích của người dân - chính
quyền - doanh nghiệp mâu thuẫn trầm trọng với nhau?
TS. Lê Đăng Doanh: Tôi đồng ý với
bạn về điều đó. Rõ ràng là ngày càng có nhiều bất mãn hơn từ người dân, ngày
càng có nhiều mâu thuẫn hơn trong lòng xã hội mình, khi mà những chính sách
chúng ta đưa ra đi ngược lại với lợi ích của dân.
Lý giải cho việc này, tôi nghĩ cái cần đề cập đến nhất là
câu chuyện “nhóm lợi ích”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Nghị quyết 15 đã
nói về khái niệm “lợi ích nhóm”, hay sòng phẳng và thẳng thắn thì chính là
những “nhóm lợi ích” đang tồn tại ở đất nước ta, là sự bắt tay giữa các doanh
nghiệp và một số quan chức chính quyền.
Những nhóm lợi ích này mang tính chất phi pháp và kiếm lợi
bất chính, lợi dụng chính sách để kiếm lợi. Và nhóm lợi ích này thường có lợi
ích đi ngược lại với lợi ích của dân. Vì thế dân là người chịu thiệt, nên dễ
hiểu vì sao mà họ bức xúc!
Như trong trường hợp BOT Cai Lậy và nhiều BOT tai tiếng
khác đã được báo chí phản ánh thời gian qua, tôi nhìn thấy bóng dáng của
những nhóm lợi ích. Những nhóm lợi ích này đã lợi dụng việc Nhà nước ta không
đủ tiềm lực kinh tế để xây dựng kết cấu hạ tầng nên đã nắm lấy cơ hội đó để
thu nhiều món lợi bất chính. Tôi gọi đó là hành vi “móc túi” dân.
Thật ra bản chất của BOT không xấu. Khi mà nguồn lực quốc
gia không đủ mạnh, chúng ta huy động nguồn lực xã hội để phát triển hạ tầng,
vì hạ tầng tốt thì kinh tế mới có cơ hội đi lên. Nhưng cái bất ổn trong những
dự án BOT của ta là những doanh nghiệp BOT phần lớn đều huy động vốn từ ngân
hàng chứ không phải vốn xã hội.
Nhưng BOT ở Việt Nam đang bị biến tướng, trở thành miếng
mồi ngon của các nhóm lợi ích. Những nhóm này lợi dụng việc Nhà nước chưa xây
dựng khung pháp luật về BOT, sự giám sát dành cho các dự án BOT còn rất nhiều
lỗ hổng và thu về lợi nhuận khổng lồ.
Ai giám sát giá? Giá được xác định thế nào? Dựa trên tần
suất lưu thông là bao nhiêu? Tỷ suất lợi nhuận là bao nhiêu? Có đấu thầu công
khai không?... Tất cả nhưng điều đó chúng ta đều không có. BOT ở nước ta đang
được chỉ định thầu gần như 100%, nên không thể đảm bảo sự khách quan, minh
bạch. Vì thế, tôi không ngạc nhiên khi những dự án này bị dân phản ứng đến
mức bung bét, thì phía sau nó đã thấy lộ ra thấp thoáng chân dung của những ông
to bà lớn.
Nên phản ứng của người dân ở trạm thu phí Cai Lây, hay
trong nhiều trường hợp khác diễn ra thời gian qua, tôi cho là kết quả tất yếu
của những việc mà tôi nói trên.
+ Ông vừa gọi câu chuyện BOT ở Cai Lậy là một ví dụ của việc móc
túi người dân... Việc này được lí giải thế nào?
TS Lê Đăng Doanh: Vì người dân đó
họ không đi hết đoạn đường ấy, tôi chỉ đi một đoạn đường ngắn vậy tại sao bắt
tôi nộp? Thế không gọi là móc túi thì là gì?
Đối với những người dân địa phương họ không sử dụng con
đường đó, không được hưởng lợi gì ở việc kinh doanh vận tải của con đường đó
mà lại bắt họ nộp tiền, đó không gọi là móc túi thì gọi là gì?
Việc đặt trạm thu phí sai vị trí để kiếm lợi nhiều hơn,
cưỡng ép người lái xe phải trả tiền, đó không gọi là móc túi thì gọi là gì?
Không có cách giải thích nào phù hợp hơn ngoài việc kết
luận đây là biểu hiện của một nhóm lợi ích. Nên cuối cùng, không thể khác, vị
trí đặt trạm BOT ấy cần đưa ra thảo luận và có lời giám định của các chuyên
gia độc lập, các hội độc lập, Hội Bảo vệ người tiêu dùng. Kể cả chính quyền
nhận sai thì cũng phải làm, vì những cái sai này có thể dẫn đến những cái sai
khác nặng nề hơn.
+ Vậy ở vị trí của mình, ông chọn đứng về phía nhân dân hay
chính quyền?
TS Lê Đăng Doanh: Tôi chọn đứng
về phía nhân dân.
Tôi đồng tình cách mà người dân ở Cai Lậy đã phản ứng
trong vụ việc này: ôn hòa, hợp pháp nhưng vẫn thể hiện được sự bất bình. Tôi
nghĩ rằng Nhà nước cần suy nghĩ rất nghiêm túc, rất sâu sắc về sự phản ứng
của người dân trong câu chuyện BOT Cai Lậy như một bài học và một lời cảnh
báo cho các vụ việc khác.
Vì sao dân phản ứng: vì những sai sót về chính sách là có
thật; vì những thiệt thòi của người dân là có thật; vì gánh nặng thuế phí
đang ngày một lớn, và đang dần vượt quá sức chịu đựng của người dân...
Nên khi người dân bày tỏ sự bất bình của mình với một
chính sách nào đó như trong câu chuyện Cai Lây, những người lãnh đạo cần phải
biết lắng nghe và thấu hiểu!
Đã qua cái thời mà những cán bộ có chức quyền có thể “cả
vú lấp miệng em” những người dân thấp cổ bé họng. Đã qua cái thời mà các cơ
quan nhà nước có thể ban hành những chính sách một cách tùy tiện.
Đã qua cái thời mà một “dân đen” bất bình thì không có cơ
hội lên tiếng. Người dân bây giờ đủ hiểu biết, đủ thông tin và đủ cách thức
để thể hiện chính kiến của mình. Nên lối tư duy độc đoán, không công bằng, vô
căn cứ, lên án, “đe dọa” người dân như trường hợp một vị đại biểu Quốc hội
đòi dùng sức mạnh pháp luật với việc dân dùng tiền lẻ ở Cai Lậy là hết sức
nực cười.
Giờ là thời gì rồi? Giờ là thời của mạng xã hội.
Khi bị cán bộ phường Văn Miếu gây khó dễ, người ta đưa lên
Facebook và một cán bộ phường mất việc.
Bà Phó Chủ tịch quận Thanh Xuân bị dân quay clip tung lên
mạng vì đỗ xe sai quy định và có hành vi cửa quyền, vô lối.
Một ông quan xã ở Thanh Hóa bị dân tố cáo vì viết bừa bãi
vào sơ yếu lý lịch.
UBND TP Hà Nội đã phải tạm dừng việc chặt bỏ 6.000 cây
xanh trước sức ép của người dân.
+ Tất cả những việc này nghĩa là gì?
TS Lê Đăng Doanh: Nghĩa là mỗi người dân “thấp cổ bé họng”
đã học được cách để gây sức ép lên chính quyền, hay để tố cáo những sai trái
của người làm quan chức. Và mọi phát ngôn, hành động thiếu sót của các cán bộ
nhà nước sẽ bị đưa ra mổ xẻ trên mạng xã hội; mọi chính sách bất cập sẽ bị
người dân cùng nhau phản đối trên mạng xã hội.
+ Quan chức thời đại mạng xã hội bùng nổ sẽ phải thay đổi cách
tiếp cận như thế nào với dân khi mà dân ngày càng khôn và ngày càng ghê?
TS Lê Đăng Doanh: Bây giờ là thời dân nói thì cần bình
tĩnh lắng nghe, phân tích thấu đáo. Nếu sai thì phải sửa...
Việc có quan chức như trong vụ BOT Cai Lậy cứ khư khư giữ
lấy quyết định này là đúng đắn, thậm chí còn đòi kết tội những người đã dùng
biện pháp đó... Tôi thấy những lời đó không những không cầu thị và thậm chí,
tôi hồ nghi những người đó đại diện cho một nhóm lợi ích, họ sợ rằng họ nhân
nhượng cho lợi ích của người dân thì nhóm lợi ích khác sẽ bị tác động.
Nhưng vấn đề là bây giờ, sẽ không còn việc người dân trên
thưa gì mình biết đấy.
Cho nên người làm quan chức mà thông minh ra thì chắc cần
xem xét lại phản ứng của mình. Từ những bài học này, tôi nghĩ rằng từ rất
sớm, pháp luật cần nhanh chóng bổ sung luật về BOT, quy định lại thật rõ
ràng, ngắn gọn những điều cần thiết và sửa lại luật đấu thầu để thực hiện
những điều này một cách công khai minh bạch. Cũng rất nhiều việc khác ở đất
nước ta cũng đã đến lúc phải có những thay đổi tương tự.
+ Nhưng chính sách đã ban, đường đã làm, hợp đồng đã ký, trạm
thu phí đã xây, chúng ta sửa những bất cập đã được “an bài” như vậy như thế
nào bây giờ mới được?
TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi, mỗi dự án như vậy nên lập một
nhóm phản biện độc lập, thảo luận với người dân về mức thu hợp lý. Người dân
nào sống ở đó, đi qua đó hằng ngày thì miễn phí cho họ... Cần phải có sự cầu
thị, sự tôn trọng lợi ích của các bên, lợi ích của người dân, của nhà đầu tư,
của Nhà nước và lợi ích của toàn bộ nền kinh tế.
Vì vậy, những chỗ nào BOT có vấn đề thì hãy chủ động thảo
luận với người dân, và mời các tổ chức dân sự xã hội, các chuyên gia tới tham
gia thảo luận. Ở các nước khác, khi một điều luật được đưa ra, đều phải hỏi ý
kiến các bên, và trước khi Quốc hội thông qua, mời tất cả các bên đến phát
biểu công khai trước Quốc hội. Chúng ta cần làm một cách cầu thị, tôn trọng
người dân, làm một cách kỹ lưỡng, có căn cứ khoa học thì chúng ta sẽ tiến bộ.
Chúng ta phải thẳng thắn nhận rằng, dọc đất nước mình, BOT
đang mọc lên như nấm. Nó không chỉ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người
dân trong vùng mà còn đẩy chi phí về vận tải của chúng ta lên rất cao, làm
giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp... Có ai đảm bảo rằng sẽ không có
những Cai Lậy nữa trong tương lai? Cho nên, thấy cái sai thì hãy sửa đi, kể
cả là chấp nhận thiệt hại.
Như chuyện cải cách ruộng đất, Bác Hồ còn phải đứng ra xin
lỗi dân cơ mà, Tổng Bí thư Trường Chinh phải từ chức cơ mà, đâu phải chuyện
đơn giản! Vì thế, sai đến đâu sửa đấy và sửa một cách cầu thị thì người dân
sẽ tin vào người lãnh đạo.
+ Thưa TS Lê Đăng Doanh, câu chuyện BOT Cai Lậy chỉ là một câu
chuyện nhỏ trong chuỗi những sự bức xúc của người dân trước những gánh nặng
về thuế phí hiện nay: thuế bảo trì đường bộ, thuế môi trường, thuế xe, thuế
đất tăng đột biến hay dự thảo tăng thuế giá trị gia tăng sắp tới... gánh nặng
về thuế trong bối cảnh thu nhập người dân không cao, dường như người Việt Nam
đang phải oằn mình chịu một mức thuế và các loại chi phí quá lớn do với sức
mình?
TS Đăng Doanh: Cái
đó là không phải bàn cãi! Với mức thu nhập trung bình thấp của Việt Nam (hơn
2.160 đôla/người) thì Ngân hàng Thế giới khuyên chúng ta chỉ nên huy động 18%
GDP thôi. Hiện nay, ta huy động 31-35% GDP, thực sự là cao quá mức, đẩy gánh
nặng thuế khóa lên người dân.
So sánh với Trung Quốc, họ thu nhập 8.100 đô/người mà họ
huy động 17% GDP thôi, tức là phần họ để lại cho người dân rất cao. Cho nên
tôi phải cảnh báo việc chúng ta hiện nay đang có nguy có trở thành một nước
có mức thuế cao.
Những loại thuế phí tăng liên tục gần đây chính là để giải
quyết vấn đề thâm hụt ngân sách.
+ Và chuyện thâm hụt ngân sách đó là do dân đóng thuế chưa đủ
hay gì khác?
TS Lê Đăng Doanh: Chúng ta thâm
hụt ngân sách vì chúng ta đầu tư tràn lan, để thất thoát quá nhiều và chúng
ta chi tiêu một cách quá tùy tiện. Có một đại biểu Quốc hội từng phát biểu
rằng nếu cứ chi tiêu như thế này thì không ngân sách nào chịu được.
Tôi nhớ mãi một câu chuyện này, có lần Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đi thăm Thụy Điển để vận động họ viện trợ cho mình sau khi Mỹ ném bom
vào tháng 12 năm 1972. Sau khi về, ông Phạm Văn Đồng đã lập tức triệu tập
cuộc họp Chính phủ. Ông kể về việc nhà vua Thụy Điển đã đãi ông 1 bữa tiệc
với chỉ 3 món ăn: món khai vị là rau, món chính là vịt trời mà ông ấy vừa đi
săn được, món tráng miệng là hoa quả.
Sau bữa ăn thì ông ấy nói rằng,chúng ta ăn thế là đủ rồi,
chúng ta không cần ăn quá no, quá thừa thãi, chúng ta phải tiết kiệm để chúng
tôi có tiền giúp đỡ những đất nước như Việt Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói
rằng ông đã cảm thấy rất xấu hổ, ta đang đi ăn xin người ta, mà mâm cơm chiêu
đãi của chúng ta thì đầy ê hề thừa thãi. Bấy giờ trở đi, Thủ tướng ra lệnh
tiệc chiêu đãi chỉ vừa đủ no thôi, không được thừa.
Hay một nước giàu như Thụy Sĩ mà nguyên Phó Thủ tướng Vũ
Khoan từng kể, ông đã được Thủ tướng Thụy Sĩ tiếp trong một căn phòng ở một
cái bưu điện cũ. Chính khách của Thụy Sĩ đi công tác đều ở trong những cái
bốt bưu điện đó, vì đó là của công, chứ không có tiêu chuẩn ở khách sạn đâu.
Một ví dụ nữa, một lần tôi được mời nói chuyện với các
quan chức của Mỹ, Thụy Điển, Đức. Khi họ được mời đi ăn cơm sau khi tham dự
bài giảng của tôi, ông giáo sư tổ chức hội thảo đó chỉ trả tiền cho tôi, còn
tất cả những người khác phải tự trả tiền.
Đặc biệt, tôi đã thấy có cố vấn của những Thượng nghị sĩ
Mỹ họ tự tính biên lai và tự trả tiền. Tôi có hỏi vì sao phải làm thế thì vị
cố vấn ấy nói rằng, nghề cố vấn cho Thượng nghị sỹ là nghề rất chặt chẽ, nếu
sau này cơ quan kiểm toán phát hiện ra tôi đã ăn cơm với ông, ông trả tiền
cho tôi, thì lúc bấy giờ sự tin cậy dành cho tôi không còn nữa và họ sẽ đưa
tôi ra tòa.
Ông Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Thụy Điển, là bạn cũ của tôi,
có lần dự một cuộc họp ở Paris, cuộc họp rất căng thẳng cãi nhau 14 tiếng.
Ông Thứ trưởng thấy rằng mình thất bại, lập trường của mình không được thông
qua thì chán nản, đi ăn ở một tiệm hết khoảng 480 USD và đưa cho cô tài vụ Bộ
Ngoại giao để thanh toán.
Đến khi cơ quan kiểm toán của Thụy Điển truy ra cái hóa
đơn bữa ăn đó, chỉ 15 phút sau, ông Thứ trưởng này viết đơn xin từ chức và
chủ động thông báo cho truyền thông.
+ Ông đang lấy chuyện nước khác để so sánh
với quan chức nước mình?
TS Lê Đăng Doanh: Đúng vậy! Quay
trở lại câu chuyện ở Việt Nam, việc quản lý ngân sách đang quá lỏng lẻo, và
để cho bộ phận quan chức tha hóa, lợi dụng để thu lợi cá nhân. Ví dụ, quan
chức của ta đi từ Hà Nội vào TP HCM cũng phải đi hạng thương gia. Sao lại
phải đi hạng thương gia cho một chuyến bay dài 2 tiếng? Người ta sinh ra hạng
thương gia để dành cho những doanh nhân chứ đâu dành cho quan chức?
Ở Thụy Điển, làm quan chức không sướng thế đâu. Quan chức
của họ chỉ có bộ trưởng được đi hạng thương gia trong trường hợp phải tham dự
những cuộc họp đặc biệt căng thẳng và có chuyến bay quá dài. Từ cấp thứ
trưởng trở xuống đều đi hạng phổ thông.
Ngay cả nhà vua Thụy Điển khi sang thăm Việt Nam cũng
không sử dụng chuyên cơ. Ông bay máy bay dân dụng qua Bangkok, được Vua Thái
Lan mời một bữa cơm rồi tiếp tục bay sang Hà Nội, bay vào TP HCM, bay lại qua
Bangkok rồi về Thụy Điển.
Còn nước mình thì sao? Tôi từng tận mắt chứng kiến, có
những hội nghị hội thảo do quốc tế tài trợ, các quan khách Việt Nam là nước
nhận tiền thì ngồi hạng thương gia, còn Đại sứ, Giám đốc Ngân hàng Thế giới,
Giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế, đại sứ các nước... đều ngồi hạng phổ thông. Tôi
ngồi hạng phổ thông với các đại sứ, Giám đốc Ngân hàng Thế giới..., họ im
lặng, ý nhị không nói gì, nhưng tôi tự thấy ngượng ngùng lắm.
Bạn có biết các nước nghiêm khắc với chính khách của mình
thế nào không? Tổng thống Mỹ đi thăm Việt Nam về toàn bộ quà đều phải nộp cho
ngân khố, trong đó ngân khố quốc gia đánh giá giá trị của các món quà, Tổng
thống có quyền được mua lại nếu muốn. Nếu không muốn thì món quà nào có giá
trị lịch sử, văn hóa sẽ được sung công đưa vào bảo tàng, hoặc có những món sẽ
đưa ra đấu giá và đưa vào ngân khố, chứ không phải ông được tự ý đem quà mang
về nhà.
Chúng ta hãy học theo các quy tắc đó. Hãy giảm bớt cái
“đẳng cấp” đi, các chi tiêu không cần thiết. Có doanh nghiệp nói, rất nhiều
cuộc nhậu có mặt các quan chức, khi gần tàn bữa nhậu thì gọi điện cho doanh
nghiệp đến trả tiền. Đấy là chuyện vừa vô lễ, vừa phạm pháp, vừa không thể
chấp nhận được. Doanh nghiệp họ nói rằng ngoài việc đóng thuế, thì chi tiêu
ngoài pháp luật là rất lớn, ngày một tăng chứ không hề giảm xuống, từ 64% nay
đã lên đến 67%.
Theo một điều tra của Ngân hàng Thế giới, muốn kiếm 1 đồng
lãi thì phải đút lót 0,72-1,02 đồng. Nên kinh doanh ở Việt Nam là rất khó
nhọc, mệt mỏi. Vừa phải chịu mức thuế vượt quá nhiều mức khuyến nghị của Ngân
hàng Thế giới, vừa chịu nhiều gánh nặng về chi phí ngoài pháp luật, nó tạo
cho người dân quá nhiều gánh nặng cả về tài chính và kinh doanh.
Như hôm rồi báo chí nói đến chuyện 3 tỷ USD đã được người
Việt Nam mua nhà ở Mỹ. Tôi tin còn nhiều tỷ USD khác nữa tương tự ở các nước
khác.
Có một thực tế là hiện nay có một số người dân Việt Nam
thành đạt, họ bán lại doanh nghiệp cho người nước ngoài để sang kinh doanh ở
một đất nước khác. Đó là điều rất mất mát cho đất nước, cả về kinh tế và trí
tuệ. Họ có thể ra đi vì muốn tìm kiếm môi trường sống tốt hơn, nhưng tôi
không loại trừ lý do trong số đó có những người đã cảm thấy quá sức chịu đựng
với môi trường kinh doanh ở Việt Nam.
+ Vậy đâu sẽ là lời giải cho bài toán ngân sách?
TS Lê Đăng Doanh: Nghị quyết
07/2016 của Bộ Chính trị có cho biết rõ, phê phán hàng loạt các điều: chi
tiêu ngân sách, đầu tư công kém hiệu quả... Bây giờ phải thực hiện theo cái
đó, phải nhìn vào hiện thực chứ không phải tăng thuế. Ví dụ như chúng ta phải
quyết tâm giảm biên chế, giảm diện Nhà nước trả lương. 30% công chức là không
có tác dụng, vậy thì hãy giảm đi.
Không phải không có cách nếu chúng ta ngừng xây tượng đài,
ngừng việc mua vé hạng thương gia cho quan chức cỡ vừa vừa, cân nhắc kĩ trước
mỗi quyết định chi ngân sách như một người nghèo đang thắt lưng buộc bụng! Đó
mới là cách giải quyết khó khăn hiện nay chứ không phải đẩy gánh nặng thuế
lên người dân, biến người dân thành con nợ của nền kinh tế.
+ Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!
(Theo CAND) Hương Thảo Nguyên thực hiện
|
Chính phủ Mỹ đang nợ Việt Nam tối thiểu 12 tỉ USDCập nhật lúc 14:20Việt Nam cho Mỹ vay bao nhiêu thể hiện sức mạnh của Việt Nam nhiều hơn là gánh nặng nợ của Mỹ.Theo thống kê Bộ Tài chính Mỹ, Việt Nam đang nắm giữ tối thiểu 12 tỉ USD trái phiếu chính phủ Mỹ. Số nợ Mỹ do “ta cho vay” tăng 3,5 lần trong giai đoạn từ đầu năm 2012 đến cuối năm 2014. Việt Nam hiện nằm trong top 50 nước chủ nợ lớn nhất của Mỹ.“Ta cho vay”Thực tế, Việt Nam cho Mỹ vay bao nhiêu thể hiện sức mạnh của Việt Nam nhiều hơn là gánh nặng nợ của Mỹ. Nhờ vị thế đồng tiền thanh toán chính cùng hệ thống kinh tế chính trị ổn định, USD Mỹ từ lâu đã là đồng tiền dự trữ chính trên thế giới.Giai đoạn 2012-2014 cũng là thời kỳ tình hình tài chính tiền tệ Việt Nam bắt đầu thoát ra khỏi giai đoạn khó khăn. Lạm phát giảm từ 18,1% xuống chỉ còn 1,9%. Đồng Việt Nam ngừng rơi, dù vẫn giảm khoảng 2%/năm so với USD Mỹ nhưng lại tăng rất mạnh so với các ngoại tệ mạnh khác như euro hay yên Nhật (trên một khía cạnh nào đó đã gây không ít khó khăn cho các nhà xuất khẩu). Trong khi đó, chỉ số VN-Index đại diện cho thị trường chứng khoán Việt Nam tăng bình quân khoảng 9,8%/năm.Ngược lại, 2015 là một năm sóng gió khi dòng vốn quốc tế rút khỏi thị trường mới nổi với hai lý do: (i) Mỹ tăng lãi suất; và (ii) các trụ cột trong khối thị trường mới nổi mà dẫn đầu là Trung Quốc lâm vào khó khăn. Trong nước, cán cân thương mại chuyển sang thâm hụt 3,5 tỉ USD, Ngân hàng Nhà nước phải hạ giá VND 5% so với USD.Sao chỉ có 12 tỉ USD?… trong khi dự trữ ngoại hối của Việt Nam hiện nay được cho là vào khoảng 30 tỉ USD.Thực tế, con số 12 tỉ USD không phản ánh toàn bộ dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Nó chỉ phản ánh số trái phiếu chính phủ Mỹ hiện đang lưu ký tại các ngân hàng đặt tại Mỹ. Phần dự trữ ngoại hối còn lại có thể dưới ba dạng sau:Thứ nhất, trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn dưới 10 năm. Bộ Tài chính Mỹ không có con số thống kê này cho Việt NamThứ hai, dự trữ ngoại hối không phải bằng đồng USD Mỹ, như vàng, euro, yên Nhật.Thứ ba, trái phiếu chính phủ Mỹ thuộc các kỳ hạn dài nhưng Việt Nam lưu ký ở … chỗ khác. Thực tế, phần lớn khối lượng trái phiếu chính phủ Mỹ do Bỉ nắm giữ thực tế là của Trung Quốc, do nước này có mở một tài khoản lưu ký tại Bỉ.Tất nhiên, nói đi thì cũng phải nói lại, 12 tỉ USD có thể không chỉ gồm dự trữ ngoại hối của chính phủ, mà cả sở hữu cá nhân.Bằng bạn bằng bèNhìn ra khu vực, khối lượng trái phiếu chính phủ Mỹ do Việt Nam nắm giữ không phải nhiều, cũng không đến nỗi ít. Tính trên phần trăm GDP, Việt Nam chưa bằng Thái Lan hay Philippines nhưng lại hơn Malaysia và Indonesia.Tất nhiên là khó so với Trung Quốc. Nền kinh tế lớn nhất thế giới này hiện nắm 1,2 ngàn tỉ USD trái phiếu chính phủ Mỹ trong tổng dự trữ ngoại hối 3 ngàn tỉ USD .Tổng nợ của Mỹ hiện vào khoảng 19,2 ngàn tỉ USD; trong đó 6,1 ngàn tỉ USD là nợ nước ngoài, 5,2 ngàn tỉ USD nợ các quỹ bảo hiểm xã hội, y tế, hưu trí cho quân nhân và viên chức, và 2,5 ngàn tỉ USD nợ ngân hàng trung ương (tức Cục dự trữ liên bang)
Theo Cafebiz/Tri thức trẻ
|
Bộ
sách mới về lịch sử Việt Nam:
Tướng Lê Mã Lương:
"Nhìn thẳng vào lịch sử để hòa giải với quá khứ"
Cập nhật lúc 09:36
Chiến
tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, điều mà chúng ta muốn, và cũng là nguyện vọng
của Đảng, Nhà nước là có sự hòa hợp hòa giải, đại đoàn kết dân tộc.
Bộ sách
Lịch sử Việt Nam gồm 15 tập vừa được phát hành mới đây được đánh giá là bộ
thông sử Việt Nam lớn nhất từ trước đến nay, có giá trị lớn về học thuật,
thực tiễn, xã hội, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập.
Bìa của các cuốn sách trong bộ Lịch sử Việt
Nam.
Không chỉ là
bộ sử đồ sộ mà đây còn là công trình thay đổi những quan niệm cũ trong nghiên
cứu từ trước tới nay, trong đó từ bỏ cách gọi chính quyền Việt Nam cộng hòa
là ngụy quân, ngụy quyền và chỉ đích danh quân Trung Quốc xâm lược Việt Nam
trong chiến tranh biên giới phía Bắc...
Nhìn
thẳng vào sự thật lịch sử
Chia sẻ
với báo chí, PGS.TS Trần Đức Cường – Tổng chủ biên Bộ sách Lịch sử Việt Nam
cho biết, thời gian trước, nhắc đến chính quyền Việt Nam cộng hoà, nhiều
người vẫn quen gọi là nguỵ quân, nguỵ quyền. Nhưng trong bộ sách này gọi là
"quân đội Sài Gòn, chính quyền Sài Gòn".
Tổng
chủ biên bộ sách cho biết, chính quyền Việt Nam cộng hoà là một thực thể ở
miền Nam Việt Nam. Nó tồn tại trong gần 21 năm. Năm 1954 còn có một thể chế
nữa gọi là Quốc gia Việt Nam. Sau đó đến năm 1955 thì Ngô Đình Diệm mới phế
Bảo Đại để làm quốc trưởng, sau đó trưng cầu dân ý, bầu Tổng thống. Theo ông,
lịch sử cần phải khách quan, viết thế nào để cho mọi người chấp nhận.
Đồng
tình với quan điểm này, Thiếu tướng Lê Mã Lương – nguyên Giám đốc Bảo tàng
lịch sử quân sự Việt Nam cho rằng, cách gọi mới phù hợp với xu thế phát triển
của Việt Nam cũng như thế giới.
Trước
đây, đã có nhiều tranh luận xung quanh việc nên hay không nên dùng từ “ngụy
quân, ngụy quyền”. Tuy nhiên, giới nghiên cứu và ngay bản thân ông khi viết
sách đã dùng cụm từ quân đội Sài Gòn, chính quyền Sài Gòn thay cho cụm từ
“ngụy quyền” vì nó mang hơi hướng miệt thị. Đặc biệt, trong bối cảnh hòa hợp
hòa giải dân tộc thì những cách gọi cũ cần phải thay đổi.
Thiếu tướng Lê Mã Lương.
“Chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, điều
mà chúng ta muốn, và cũng là nguyện vọng của Đảng, Nhà nước là có sự hòa hợp
hòa giải, đại đoàn kết dân tộc. Và ngay cả bản thân những người trong cuộc di
tản ở nhiều nước trên thế giới năm 1975 cũng không mong có sự thù hằn dân
tộc. Hầu hết họ thừa nhận rằng, Việt Nam không thể chia cắt mà phải thống
nhất. Những người cộng sản, những người yêu nước mạnh mẽ đã đứng lên thống
nhất đất nước. Tôi cho rằng, nhìn thẳng vào sự thật lịch sử là cách tốt nhất
để hòa giải với quá khứ” – Thiếu tướng Lê Mã Lương chia sẻ.
Đánh
giá cao những thông tin mà các nhà khoa học đã thể hiện trong bộ thông sử lớn
nhất từ trước đến nay, nguyên Giám đốc Bảo tàng lịch sử Việt Nam cho rằng,
việc này còn thể hiện tinh thần dũng cảm, có trách nhiệm với dân tộc, với Tổ
quốc.
Theo
ông, lịch sử Việt Nam hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kháng chiến chống
giặc ngoại xâm từ thời khởi thủy cho tới thời đại Hồ Chí Minh, nhiều vấn đề
của lịch sử cho đến nay vẫn chưa khai mở. Có những vấn đề nhiều dư luận cho
là nhạy cảm, tế nhị chưa được làm rõ, nhưng cũng có những vấn đề còn “khoảng
trống” lớn, rất khó lấp đầy bởi rất ít tư liệu.
Không
để cuộc chiến tranh biên giới 1979 bị chìm lấp
Là
người từng chiến đấu trong cuộc chiến biên giới phía Bắc năm 1979, hơn ai
hết, ông hiểu rõ bản chất sự thật lịch sử khách quan. Vì vậy, ông rất đồng
tình khi bộ sách chỉ đích danh cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc là “cuộc
chiến tranh xâm lược” của Trung Quốc đối với Việt Nam, bởi đó là một thực tế
lịch sử không ai có thể bác bỏ.
“Lịch
sử là lịch sử, chúng ta không có quyền quên lãng nó, không có quyền bóp méo
nó và cần phải làm rõ để thế hệ sau tự hào về lịch sử cha ông mình. Khi chiến
tranh giải phóng đất nước kết thúc, chúng ta đã bước vào cuộc chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc rất đĩnh đạc. Mặc dù phải chịu tổn thất lớn,
nhưng chúng ta đã anh dũng chiến đấu để giữ trọn vẹn vùng đất, vùng trời,
biên cương, hải đảo của Tổ quốc. Khi nói đến sự kiện 1979, chúng ta phải rạch
ròi, không thể lẫn lộn, không thể để cuộc chiến tranh ở biên cương Tổ quốc vĩ
đại như thế bị chìm lấp” – Thiếu tướng Lê Mã Lương xúc động nói.
Với sứ
mạng cao cả của sử học là làm thế nào viết nên những trang sử tôn trọng sự
thật khách quan, dựa trên những cứ liệu khoa học, hơn chục năm qua, những nhà
khoa học của Viện Sử học luôn trăn trở, tìm tòi, nhìn nhận và đánh giá khách
quan, trung thực lịch sử dân tộc để không những người Việt Nam mà còn bạn bè
thế giới hiểu đúng, đánh giá đúng bản chất lịch sử, ngăn chặn những luận điệu
xuyên tạc.
Khi bộ
sách Lịch sử Việt Nam (15 tập) được giới thiệu trước công chúng đã tạo ra cơn
“sốc” trong dư luận, thậm chí ở góc độ khác đó còn là một sự đột phá, không
chỉ giới khoa học, các tướng lĩnh mà đông đảo quần chúng nhân dân đều quan
tâm.
Qua bộ
sách, nhiều người mới biết rõ về sự kiện 1979, về chiến tranh biên giới Tây
Nam là khi quân Khmer đỏ đánh chiếm dọc biên giới, chiếm một số đảo ở Phú
Quốc và một số đảo khác, quân đội Việt Nam đã chiến đấu để bảo vệ dân, giữ
vững mảnh đất biên cương của Tổ quốc. Và khi nước bạn phát động cuộc chiến
tranh, đồng thời kêu gọi sự giúp đỡ của Việt Nam, vì tình bạn quốc tế cao cả,
quân đội Việt Nam đã tình nguyện sang giúp không chỉ trong 1,2 ngày mà ở giúp
bạn đến 10 năm mới trở về.
Theo vị
tướng quân đội, khi những công trình nghiên cứu được đánh giá là thành tựu
của sử học thì những sự kiện trong đó phải được thể hiện trong sách giáo
khoa. Đây là một việc tất yếu. Bởi chỉ có đưa vào chương trình giảng dạy từ
phổ thông đến đại học thì công trình nghiên cứu mới có sức lan tỏa trong đại
chúng, đồng thời trang bị cho học sinh thông tin đầy đủ, nhận thức đúng đắn
và bồi dưỡng lòng yêu nước cho các em.
“Nhìn
nhận lại lịch sử để thế hệ trẻ hiểu thấu đáo nó, tự hào về nó và làm sao
tránh được chiến tranh xảy ra, đồng thời các em cũng ý thức được trách nhiệm,
nghĩa vụ của mình đối với sự hy sinh cao cả của cha ông vì khát vọng độc lập,
tự do và thống nhất Tổ quốc” – Thiếu tướng Lê Mã Lương chia sẻ./.
Kim Anh/VOV.VN
Nếu chấp nhận chính quyền SG là thực thể, tức là 1 quốc gia riêng thì
cuộc kháng chiến chống Mỹ chỉ là nội chiến. Cách mạng tháng 8 sẽ không được
thừa nhận cùng tuyên bố độc lập 2/9 cũng không chính danh, thưa các vị. Câu
chữ khái niêm nhưng nó là bản chất của sự việc. Nhà nước do Pháp, Mỹ lập ra,
bảo hộ sau 2/9 là ngụy tạo. Từ chính quyền ngụy là chuẩn xác về bản chất,
không thể đánh tráo. Hôm nay là để "dễ chấp nhận", sẽ có lúc người
ta xem xét lại thể chế CHXHCN Việt Nam hiện nay.
Thương Giang
|
Thứ Hai, 4 tháng 9, 2017
18.000 tàu cá Trung Quốc lại tràn xuống
Biển Đông
Cập nhật lúc 14:34
Khoảng 18.000 tàu cá từ tỉnh đảo Hải Nam của
Trung Quốc sẽ tràn xuống Biển Đông sau khi lệnh cấm đánh cá đơn phương của
nước này kết thúc hồi giữa tháng 8.
Tàu cá Trung Quốc kết bè chống đối
trong một lần bị lực lượng tuần duyên Hàn Quốc xua đuổi - Ảnh: AFP
Theo
báo South China Morning Post của Hong Kong, giới quan sát dự báo nguy cơ va
chạm giữa tàu cá Trung Quốc, thường hoạt động dưới sự bảo vệ của các tàu hải
giám, và tàu của các nước trong khu vực sẽ tăng cao tại một số khu vực đang
tranh chấp.
Một
ngư dân tên Bao cho biết tàu cá từ cảng Tanmen, tỉnh Hải Nam, đã lập tức ra
khơi sau khi lệnh cấm đánh bắt kết thúc ngày 16-8.
Một truyền thống "quấy
rối" lâu đời
"Chúng
tôi đã đánh bắt ở đó trong nhiều năm, không có lý do gì chúng tôi không nên
ra khơi. Không cần phải lo gì hết, chúng tôi có tàu của chính phủ bảo
vệ" - ông Bao giải thích với tờ báo của Hong Kong.
Tờ
Thời báo Hoàn cầu của chính quyền Trung Quốc dẫn nguồn các quan chức Hải Nam
ước tính khoảng 18.000 tàu cá sẽ tràn xuống Biển Đông sau 108 ngày thực hiện
lệnh cấm đơn phương của Trung Quốc.
Việc
Bắc Kinh xua tàu cá giành giật ngư trường với các nước trong khu vực không
phải mới. Đây là một phần của chiến lược "khẳng định chủ quyền",
tiến tới thâu tóm các đảo và bãi cạn của Trung Quốc trên Biển Đông.
Cùng
ngày lệnh cấm đánh cá của Trung Quốc kết thúc, một vụ "chạm mặt" đã
xảy ra gần đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, kết quả là một
tàu cá Philippines bị tàu Trung Quốc xua đuổi khỏi khu vực.
Dẫn
nguồn tin quân đội, nghị sĩ Philippines Gary Alejano cho biết đoàn tàu cá
Trung Quốc được tháp tùng bởi 1 tàu hải giám và 2 tàu hải quân đã hoạt động
tại vùng nước đảo Thị Tứ trong nhiều ngày. Ông Alejano nhận xét đây là một
điều "đáng báo động" và "mang tính đe dọa".
"Trung
Quốc có một lịch sử đi xâm chiếm đảo và quấy rối các ngư dân
Philippines" - ông Alejano bổ sung.
Hình
ảnh vệ tinh của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) ở Washington,
Mỹ cho thấy có tất cả 9 tàu cá Trung Quốc và 2 tàu bảo vệ của quân đội Trung
Quốc hiện diện gần đảo Thị Tứ vào ngày 13-8.
Nhật Bản cũng lo
Đội
tàu cá "đông như kiến" của Trung Quốc cũng gây ra lo ngại ở Nhật,
nước đang có tranh chấp với Bắc Kinh trên biển Hoa Đông xung quanh quần đảo
Senkaku/Điếu Ngư.
Hôm
1-8, hàng trăm tàu cá Trung Quốc từ một cảng thuộc tỉnh Chiết Giang đã tràn
ra biển Hoa Đông, cũng ngay sau khi lệnh cấm đánh cá kết thúc, theo truyền
thông Trung Quốc.
Ngay
lập tức, lực lượng tuần duyên Nhật đã tăng cường tuần tra, theo dõi sát di
chuyển của đội tàu cá và hải giám Trung Quốc gần quần đảo Senkaku.
Năm
ngoái, khoảng 200-300 tàu cá Trung Quốc, tháp tùng bởi tàu hải giám, đã đi
vào khu vực 12 hải lý xung quanh các đảo Nhật đang kiểm soát. Chính quyền
Tokyo đã cho triệu tập đại sứ Trung quốc để phản đối hành động này.
Ông
Lyle Morris, nhà phân tích chính sách thuộc tổ chức học giả RAND Corporation
của Mỹ, nhận định rằng mùa đánh bắt mới của Trung Quốc có thể làm gia tăng
căng thẳng ở cả Biển Đông và Hoa Đông.
"Chúng
ta đừng quên vụ chạm trán năm ngoái giữa Trung Quốc và Nhật, khi đó tàu cá
Trung Quốc tràn ngập khu vực 12 hải lý quanh quần đảo Senkaku, thách thức khả
năng phản ứng của Nhật" - ông Morris nhắc lại.
"Sự
hiện diện của Trung Quốc gần đảo Thị Tứ cũng cần phải theo dõi, Trung Quốc có
thể xua nhiều tàu cá hơn đến khu vực đó và đuổi người Philippines đi chỗ
khác. Việc dỡ lệnh cấm đánh cá và đưa tàu của ngư dân mình ra biển sẽ cho
thấy Bắc Kinh hành xử với các nước khác như thế nào ở các khu vực tranh chấp,
chẳng hạn như bãi cạn Scarborough" - vị chuyên gia cảnh báo.
(Theo Tuổi trẻ) MINH TRUNG
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
