Hành trình 6 năm vật lộn tìm chỗ đặt bát hương khi chết
Cập nhật lúc 13:11
![]()
Những chiếc thuyền từng là nơi sinh hoạt của cả một gia đình.
Khó để tìm
đường vào xóm chài Máy Chai, quận Ngô Quyền, TP.Hải Phòng. Nhìn gần 2 chục
ngôi nhà được dựng lên san sát, ít ai biết, cách đây 3 năm, nơi này chỉ là
một bãi đất sình lầy ven sông, cỏ lau rậm rạp cao hơn người. Ước mong có chỗ
để bát hương khi chết của người già hay trẻ em được đến trường nay đã thành
hiện thực. Để có được kết quả ấy là những ngày tháng vất vả khi vận động,
đồng hành cùng bà con của những cảnh sát giao thông thủy Hải Phòng.
“Mong có chỗ để bát hương”
11h trưa, những chiếc thuyền nhỏ đơn sơ đã được cột vào sau nhà.
Không còn nhiều người dân ở xóm chài theo cái nghề đánh bắt cá, mò sắt vụn
dưới sông kể từ khi lên bờ dựng nhà dựng cửa. Những người dân ở đây đến từ
khắp các vùng khu vực đồng bằng Bắc Bộ như Thái Bình, Nam Định, Hải Dương.
Trước khi có nhà trên bờ như bây giờ, “5-6 người một nhà sinh hoạt trên
thuyền. Ngày nước lên, họ quăng lưới đánh cá, ngày nước xuống, già trẻ lớn bé
mò sắt vụn dưới sông. Họ chỉ lên bờ bán ít tôm cá bắt được hoặc khi có việc
cần thiết, còn không thì cứ trôi theo dòng nước sống qua ngày”, đồng chí Đỗ
Minh Tuệ - Đội trưởng Phân đội 2 Phòng CSGT Đường thủy - kể lại. Những số
phận nổi lênh đênh theo con nước ở đây đa số là thất học, nguồn gốc không rõ
ràng, thiếu thốn về mọi mặt. Nghe ước nguyện của ông Lý (SN 1957) trước khi
chết thật xót xa: “Cả đời trôi nổi trên sông nước, lúc chết chỉ mong có chỗ
để bát hương”.
Năm 2009, nhận thấy những nguy hiểm từ việc di chuyển tự do của
các phương tiện tạm trú trên khu vực ngã ba sông Ruột Lợn và sông Cấm, thiếu
tá Tuệ cùng các đồng chí trong Phân đội 2 - Phòng CSGT đường thủy trực tiếp
vận động bà con neo đậu vào khu vực đảm bảo ATGT đường thủy, tránh di chuyển
rải rác trên sông. 22 chiếc thuyền là 22 gia đình khác nhau.
“Con trẻ không được đi học, lớn lên con thuyền nhà này gả con cho
thuyền nhà kia” đã thành cái nết. Theo như những người dân ở đây, họ biết
cuộc sống trên thuyền chỉ là “tạm bợ” nhưng không như vậy họ cũng không biết
phải đậu ở đâu. Có quê nhưng không thể về, cả đời lam lũ vất vả trong khoang
thuyền hẹp, bữa cơm giấc ngủ vội vàng, chật chội giữa dòng nước lênh đênh.
Trẻ con không có “cái chữ”, người già tuổi gần đất xa trời thì lo không có
chỗ thờ cúng đàng hoàng. “Nhận thấy bất cập đó, với sự giúp đỡ của các nhà
hảo tâm, sự kiên trì tuyên truyền vận động, chúng tôi đã tập kết được các hộ
dân, rồi xây dựng lên một khu dân cư tự quản trên bãi đất sình lầy như ngày
hôm nay”, thiếu tá Tuệ chia sẻ.
Nhận thức trong khoang thuyền hẹp
Anh Vũ Văn Tuấn (SN 1967, nguyên quán Hải Dương) có 5 người con
trai, mỗi ngày mưu sinh trên sông, gia đình anh khá lắm chỉ kiếm được 50.000
đồng, thế nhưng anh vẫn bỏ ra một nửa số tiền kiếm được để thuê xe ôm cho các
con lên nhà thờ học giáo lý. Cũng có gia đình không kịp nhớ tên con, bởi đứa
đầu chưa kịp lớn, những đứa sau đã ra đời. Trẻ con lớn lên không được đi học
hoặc giả dụ có muốn thì cũng “không biết học ở đâu và tiền đâu để đóng học”.
Người lớn có thể chấp nhận số phận nhưng những đứa trẻ sinh ra, tương lai của
chúng ở đâu?
“Khó khăn nhất khi vận động những hộ dân này lên bờ chính là nhận
thức, vì họ sống trên sông nước quen rồi, bị hạn chế giao tiếp, họ chỉ quan
tâm hôm nay có bắt được cá không để còn mang lên bờ bán, mua ít hàng hóa rồi
lại xuống thuyền. Họ không được tiếp xúc với tivi, báo đài, cũng không biết
điện, nước sinh hoạt là như thế nào. Nhận thức của những người dân chài lưới
này thực sự chỉ ở trong khoang thuyền hẹp”, một cảnh sát giao thông thủy nói.
Khoảng thời gian đầu tập kết tại khu vực được chỉ định, bà con cảm thấy rất
gò bó, đời sống làng xóm chưa hình thành, một vài trường hợp còn bỏ trốn.
Phần lớn người dân nơi đây “không hiểu, sợ bị bắt, bị đuổi đi, không cho kiếm
sống nữa. Họ không nhận thức được việc di chuyển tự do trên sông, neo đậu
không đúng nơi quy định sẽ gặp nguy hiểm khi các tàu lớn vào cảng bốc xếp
hàng”, anh nói tiếp.
Chị Mai - một trong những người lên bờ đầu tiên ở xóm chài Máy
Chai - kể lại: “Sợ nhất những ngày mưa bão, gió to, nước lên, cả nhà chui
trong thuyền mà bất cứ lúc nào cũng có thể bị lật”. Vì thế, khi được vận động
“lên bờ”, gia đình chị lên ngay.
Mất 3 năm vận động bà con, từ việc di chuyển rải rác trên sông,
hành nghề tự do, đến nay, 24 hộ dân xóm chài đã “an cư” để “lập nghiệp”. Bãi
sình lầy ven sông được đổ đất, chia khu cho các hộ dân để dựng nhà. Nhà ở xóm
chài Máy Chai này có một điểm chung là được dựng lên từ những tấm tôn cũ. Chị
Mai dẫn phóng viên đi thăm khu nhà, vui mừng kể: “Toàn tôn cũ người ta bỏ đi
mình xin về làm nhà, vẫn ọp ẹp nhưng những ngày bão gió được yên tâm hơn là ở
trên thuyền”.
Chị cũng khoe với chúng tôi là vừa ngăn được một phòng cho con
trai lấy vợ. Ánh mắt của người phụ nữ có nước da ngăm ngăm trải qua biết bao
sóng gió mưu sinh nay bừng lên niềm hạnh phúc tuổi xế chiều. Hệ thống nước
sinh hoạt đã được cấp cho từng nhà, hệ thống điện thì vẫn phải mua lại từ các
nhà máy, hộ dân xung quanh, điều kiện sống cải thiện hơn rất nhiều so với
cuộc sống trên thuyền trước kia. Một số hộ gia đình vẫn duy trì nghề chài
lưới, mò sắt vụn bằng chiếc thuyền từng là nhà trước kia. Số khác lên bờ bốc
vác thuê cho chợ cá, các nhà máy gần đó. Có người mở sạp bán đồ tạp hóa nhỏ
lẻ... Đời sống của những người cả đời chỉ quanh quẩn trong khoang thuyền nay
được mở rộng hơn.
Thế nhưng, hành trình đem con chữ đến cho trẻ em xóm chài lại là
một câu chuyện khác. Những đứa trẻ 9, 10 tuổi nhỏ bé như lên 5, lên 6 không
biết đọc, biết viết. Phân đội 2 Phòng CSGT Đường thủy tổ chức cho các em đi
học ở những lớp tình thương hoặc các lớp “đặc biệt” của trường. “Thầy cô giáo
cũng rất khó để giáo dục các em như những đứa trẻ bình thường khác, bởi chúng
không biết tại sao phải đi học, hay học để làm gì. Nhiều cháu chỉ ngồi được
một lúc là chúng chạy nhảy, phá phách. Bố mẹ chúng cũng không quan tâm con
cái mình có đi học hay không, có trường hợp con đi học được 1 năm mà bố mẹ
vẫn không hay biết”. “Hầu hết các cháu đi học hoàn cảnh đều khó khăn, vì giấy
tờ xác minh không có nên chúng tôi phải đích thân bảo lãnh để các cháu được
miễn giảm học phí”, thiếu tá Tuệ chia sẻ. Thế nên, không lạ khi mọi người ở
khu vực phường Máy Chai đều gọi đùa những đứa trẻ này là “con ông Tuệ”.
Hy vọng vào ngày mai
Lên bờ dựng nhà được một thời gian thì ông Lý mất, khi chúng tôi
đến, nhà khóa ngoài. Không gặp được người nhà ông nhưng tâm nguyện của ông đã
thành sự thật. Đứa con lớn của chị Mai mà tôi kể ở trên năm nay 25 tuổi và
vẫn không biết chữ. Số phận buộc chị phải lận đận sông nước suốt mấy chục năm
trời để rồi con chị không được bằng bạn bằng bè, không biết đọc biết viết,
nhưng chị vẫn lạc quan, vui vẻ và khoe với chúng tôi về thằng cháu nội của
chị năm nay đã lên 4: “Nhà đã có điều kiện để cháu nó đi học rồi”.
Những ngôi nhà xóm chài hôm nay, tuy chỉ được dựng lên từ những
mảnh tôn cũ kỹ, nhưng nhà nào nhà nấy đã có tivi, bàn ghế, giường ngủ đàng
hoàng, họ không còn phải bấp bênh theo dòng nước như năm xưa nữa. Sáu năm là
một hành trình không dài nhưng cũng đủ để thay đổi cuộc đời của gần 100 người
ở xóm chài này. Những đứa trẻ trong màu áo đồng phục mới tinh tan học trở về
nhìn thấy chúng tôi đều chào hỏi, chúng cười nói vui vẻ, khoe chuyện đi học ở
trường, rồi ngồi vào mâm cơm vừa được dọn ra - một cảnh tượng mà mới chỉ 3
năm trước thôi, những cư dân trên làng chài không dám nghĩ đến!
(Theo
Lao động) Việt Chinh
|
Trang
▼



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét