Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Chuyện của ông Nguyễn Bá Thanh

Cập nhật lúc 08:33     
             
 (PetroTimes) - Căn bệnh xa dân, vô cảm với dân đúng là đang càng ngày càng phát triển trong không ít cán bộ lãnh đạo và dẫn đến giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng cầm quyền. Đây mới thực sự là nguy cơ tiềm ẩn về lâu dài.

Chức vụ có thể làm hỏng con người?
Ông Nguyễn Bá Thanh nổi tiếng là người có những cải cách táo bạo và đã góp phần quan trọng vào việc đưa thành phố Đà Nẵng dẫn đầu cả nước về phát triển kinh tế, đầu tư nước ngoài và an sinh xã hội… Ông cũng nổi tiếng là người gần dân, chịu khó lắng nghe ý kiến của người dân. Ông có thể đối thoại với người dân từ chiều đến quá nửa đêm…
Tôi hỏi ông: “Anh có thấy cán bộ các cấp chính quyền ngày càng quan cách, càng xa dân, vô cảm với nỗi khổ của dân hay không?”.
Ông cười buồn và bảo: “Hóa ra chức vụ có thể làm hỏng con người anh ạ. Tôi kể cho anh nghe chuyện của tôi”.
- “Ngày ấy tôi còn trẻ lắm, nhưng được dân tín nhiệm bầu làm Phó chủ nhiệm hợp tác xã. Tôi cũng chưa có vợ, cho nên thường ra trụ sở Ủy ban nhân dân ngủ. Cũng chẳng có giường chiếu gì đâu, mà nằm trên bàn. Nhiều hôm, hơn 5 giờ, bà con đã qua đập cửa hoặc khều chân tôi qua cửa sổ… Anh biết đấy, thanh niên, đang tuổi ăn, tuổi ngủ mà bị đánh thức kiểu ấy thì khó chịu lắm. Nhưng không, tôi vùng dậy, làm vài động tác tập thể dục cho giãn gân cốt rồi lại còn hát vui vẻ và ra chia phân đạm, thuốc trừ sâu cho bà con. Rồi lại đi lội ruộng thăm lúa hoặc cùng bà con nhổ cỏ, cày bừa… Rồi tôi làm Chủ tịch xã, Phó chủ tịch huyện và làm Chủ tịch huyện.


Ông Nguyễn Bá Thanh.
Buổi sáng, tôi có thói quen là ra một tiệm bún ăn một tô và uống một ly cà phê đen, hút một điếu thuốc rồi trở về làm việc, đúng 7 giờ (ngày ấy còn làm việc từ 7 giờ).
Một sáng, tôi vừa ra cổng Ủy ban đi ăn sáng thì có ông già đến. Với vẻ rụt rè, ông chìa cho tôi một lá đơn và nói: “Nhà tui sắp sập rồi, xin ông chủ tịch duyệt cho tôi mua mấy khối gỗ”.
Tôi nhìn ông già và tự nhiên thấy khó chịu:
- “Ông cứ chờ tôi nhé. Tôi đi ăn sáng đã”.
Ông già lại năn nỉ:
- “Xin ông chủ tịch duyệt cho tôi để tôi còn kịp ra đi xe về nhà. Nhà tui cách đây xa lắm”.
Nghe ông nói thế, bỗng dưng tôi nổi nóng, tôi nói như quát:
- “Thì ông làm gì cũng phải chờ đến giờ đã chứ. Ông coi đây - Tôi chìa đồng hồ vào mặt ông già - mới hơn sáu rưỡi. Ai làm việc giờ này? Mà ai cho phép ông vào đây?”.
Ông già sợ rúm lại, mặt tái mét, không dám nói thêm câu nào nữa. Tôi nói thêm:
- “Ông cứ chờ đấy. Lát nữa tôi coi”.
Nói xong, tôi đi ra quán và gọi tô bún. Nhưng chẳng hiểu sao, trong tôi dấy lên một cảm giác là lạ khiến cổ tôi như bị nút lại, ăn không được. Tôi bỏ dở tô bún, gọi cà phê, nhưng mới nhấp được một ngụm, tôi thấy đắng quá chừng. Rồi tự nhiên hình ảnh ông già tay cầm lá đơn hiện ra, choán hết tâm trí tôi. Và tôi như người ngủ mê sực tỉnh. Tôi tự thầm nói với mình: “Mày mới là Chủ tịch huyện mà mày đã thế này, ít nữa, nếu mày được lên chức cao nữa, thì mày sẽ cư xử thế nào với dân… Ngày trước, bà con khều chân mày, đập cửa rầm rầm gọi mày dậy, mày vẫn vui vẻ lắm kia mà. Hóa ra cái chức tước này làm hỏng mày?”. Vậy là tôi vội vã đi về. Ông già vẫn đứng ngoài cổng, tôi bảo ông:
- “Bác vào đây cháu xem đơn từ thế nào”.
Tôi đưa ông vào phòng làm việc và xem đơn. Hóa ra ông là cha liệt sĩ, nhà hư hỏng nặng quá, có xác nhận của Ủy ban xã. Tôi ân hận đến cực độ. Rồi tôi ký ngay cho ông được mua 4m3 gỗ xoan đào nhóm 4. Tôi đưa ông xuống văn thư, bảo cô nhân viên đóng dấu ngay cho ông. Thật đúng là không thể tả nổi niềm hạnh phúc của ông già khi được duyệt đơn mua gỗ, lại được đích thân Chủ tịch huyện đưa xuống đóng dấu. Khi ông về, tôi đứng trên gác nhìn xuống và thấy dáng ông đi xiêu xiêu trong niềm vui bất ngờ.
Từ đó trở đi, trong đầu tôi luôn có một suy nghĩ: “Không cẩn thận, hóa ra chức tước làm hỏng con người. Và cũng từ đó, tôi coi việc đến với dân, lắng nghe lời dân là bổn phận của mình”.
***
Nghe câu chuyện ông kể, tôi cứ suy nghĩ mãi. Đúng thế thật, tôi đã gặp rất nhiều cán bộ, bình thường rất vui vẻ, hòa đồng với mọi người. Nhưng khi có tý chức, tý quyền là mặt bắt đầu cứ vác lên tận… giời và nếu có được ít thành công trong công việc, là bắt đầu coi thiên hạ bằng một nửa con mắt, thậm chí “mục hạ vô nhân”. Tôi cũng đã được chứng kiến cảnh có những vị lãnh đạo chính quyền phải tránh mặt, không dám tiếp xúc với dân…
Căn bệnh xa dân, vô cảm với dân đúng là đang càng ngày càng phát triển trong không ít cán bộ lãnh đạo và dẫn đến giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng cầm quyền. Đây mới thực sự là nguy cơ tiềm ẩn về lâu dài.
Cụ Nguyễn Trãi, có câu thơ nổi tiếng:
"Phúc chu thủy tín dân do thủy
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật…".
Tạm dịch nghĩa là:
“Làm lật thuyền mới biết sức dân là nước. Cậy đất hiểm không bằng có mệnh trời. Cái họa, cái phúc không phải một ngày tự dưng đến mà có căn nguyên, gốc rễ từ trước đó…”.
Để dân không còn tin vào người lãnh đạo, thì căn nguyên đầu tiên là từ chính người lãnh đạo đó!
* * *

Đáng lo sợ khi cán bộ... quen nghe chửi?
Ngay sau khi ông được giao trách nhiệm làm Bí thư Thành ủy của Đà Nẵng, một trong những việc đầu tiên ông làm là đi... xe ôm đến trụ sở một số cơ quan công quyền và lẳng lặng đứng xem cán bộ làm việc - đặc biệt là ở khâu tiếp dân và lắng nghe xem dân nói gì.
Một lần, ông tới một cơ quan có trách nhiệm giải quyết những vấn đề liên quan đến đất cát, nhà cửa và cũng thấy vui vui vì nhà cửa khang trang, nơi tiếp dân được bố trí tử tế, có quạt máy, có nước uống. Ngồi bên ngoài được một lát thì ông thấy có một tốp phụ nữ đã luống tuổi đến. Họ đòi gặp người phụ trách việc tiếp dân, nhưng nhân viên ra bảo người phụ trách hôm nay đi họp. Dường như chỉ chờ có thế, những người đàn bà cao giọng chửi đổng.
Đầu tiên là họ chửi “nhẹ nhàng” rằng, cán bộ khinh dân, coi thường dân; rằng cán bộ ăn tiền của mấy tay chủ dự án bất động sản nên bắt ép dân phải nhận tiền đền bù rẻ mạt; rằng cán bộ câu kết với mấy ông quan xã ức hiếp dân...
Mặc cho họ tiếng bấc, tiếng chì, những cán bộ có mặt tại đó vẫn dửng dưng như không. Hình như họ nghĩ rằng “tai liền miệng, các bà chửi thì các bà nghe trước”.
Rồi như thấy chửi thế chưa “ép phê”, các bà tăng “sự đáo để”. Thế là các bà chửi có bài có bản, chửi đọc “thơ dân gian”. Các bà réo tam tứ đại đồng đường nhà Giám đốc Sở ra chửi. Các bà “văng” ra chốn công đường đủ loại phân, gio của người, của chó, lợn...
Rồi các bà lại “bắt” mấy vị lãnh đạo Sở “ăn” đủ các thứ bộ phận trên cơ thể người.
Đáp lại những lời chửi xoe xóe ấy là sự im lặng. Nhân viên của cơ quan vẫn bình thản làm việc.
Người dân đến có việc vẫn bình thản đưa giấy tờ để giải quyết.
Thi thoảng, mới thấy một cán bộ ở tầng trên đi như trốn chạy. Ông nghe bà con chửi mấy vị cán bộ nọ mà cảm thấy như họ đang chửi mình.
Nghe các bà chửi bới và kể lể, ông cảm thấy hình như các bà có lý. Nhưng ông vẫn kiên nhẫn lắng nghe và chủ yếu là để xem phản ứng của “chính quyền” thế nào?


Ông Nguyễn Bá Thanh và cử tri quận Hải Châu, Đà Nẵng (Ảnh: VietNamNet).
Chửi mỏi miệng, các bà quay mặt ra cửa, chổng mông vào trong và vỗ đùm đụp rồi bỏ về.
Lúc ấy ông mới nói danh tính của mình và yêu cầu gặp Giám đốc.
Chỉ thoáng chốc, các cán bộ chủ chốt đã ra “nồng nhiệt” chào đón ông và trách rằng, “sao anh không báo để chúng em đón”.
Lúc ấy, ông mới thủng thẳng: “Tôi đến từ lâu rồi và ở dưới nhà nghe mấy bà chửi các anh. Hình như các anh không nghe thấy thì phải?”.
Và ông thật bất ngờ khi nghe một cán bộ nói: “Ối giời, bọn em ở đây nghe chửi quen tai rồi anh ạ. Ngày nào mà chả có người đến chửi. Đầu tiên thì cũng khó chịu, nhưng nghe mãi cũng thấy... bình thường!”.
“Vậy tại sao họ chửi? Họ chửi chắc cũng có nguyên do chứ?” - ông hỏi.
“Cũng do chuyện đền bù giải tỏa thôi anh ạ. Nhưng anh lạ gì dân mình. Có một lại muốn có hai. Có ba, có bốn lại nài có năm. Mà nếu nài không được là chửi... Giải thích mãi họ có nghe cho đâu? Dân... gian mà anh” - Anh cán bộ nói dửng dưng như không.
Ông nóng mặt: “Dân thì các anh bảo là gian. Vậy dân bảo các anh là quan thì tham, anh nghĩ sao? Tôi nghe mấy bà chửi các anh, hình như ở cùng huyện với anh thì phải. Không biết chừng, trong mấy bà đó, có người từng đào hầm che giấu cho cha anh thời chống Mỹ và nhịn đói để mang cho cha anh mấy củ mì đấy”.
Nói đến vậy, ông bỗng nghẹn lời và bỏ về.
Đêm đó, ông không sao chợp mắt được và bỗng dưng ông thấy lo sợ. Ông không hiểu rồi tình hình sẽ đi đến đâu khi mà có một đội ngũ cán bộ đến bị chửi như vậy mà không thấy xấu hổ. Vậy là họ vô cảm với nỗi khổ của người dân hoặc họ vì lợi ích riêng của mình mà chấp nhận nghe chửi để có tiền, để giữ yên chức tước. Cán bộ mà như vậy thì người dân còn biết tin ai, biết dựa vào ai? Lịch sử từ cổ chí kim làm gì có chuyện “dân bức quan phản” mà chỉ có “quan bức dân phản” mà thôi. Cán bộ không ra gì, lại ức hiếp dân, làm giàu trên nỗi khổ của dân thì làm sao người dân còn có thể tin được nữa. Mà tình trạng người dân giảm sút lòng tin vào một bộ phận cán bộ, đảng viên là có thực và Đảng ta cũng đã thấy. Thấy thì dễ, nhưng làm thế nào để lấy lại lòng tin của người dân thì là chuyện không đơn giản.
Càng nghĩ về sự vô cảm của cán bộ, về những nỗi khổ của người dân mà do chính những người được coi là “công bộc” mang lại, ông càng thấy sợ hãi. Cán bộ mà không còn biết xấu hổ thì họ có thể làm bất cứ điều gì, kể cả những việc vô liêm nhất để có tiền, có quyền. Quan xã có kiểu ăn của quan xã, quan huyện có kiểu ăn của quan huyện, tỉnh có kiểu ăn của tỉnh… Là người trưởng thành từ một chủ nhiệm hợp tác, nên ông biết quá rõ những mánh khóe bóp nặn, ăn tiền của dân, của cán bộ các cấp. Biết là thế, nhưng xử lý được thì khó lắm, vì vướng phải tầng tầng lớp lớp những rào cản…
Ngay hôm sau, ông cho họp Thường vụ Thành ủy và chỉ bàn về một nội dung: Chấn chỉnh công tác tiếp dân. Ông yêu cầu “từng cấp ủy Đảng phải mở cuộc chiến đấu với thói vô cảm của cán bộ, mở cuộc chiến giành lại niềm tin của nhân dân”.
Và chính ông dành nhiều thời gian để tiếp dân và lắng nghe ý kiến của người dân. Trong những buổi tiếp dân, ông yêu cầu cán bộ một số ngành như địa chính, quản lý đô thị, công an… phải có mặt. Các cán bộ phải trả lời ngay là việc đó, yêu cầu đó, bức xúc đó… của dân thuộc về trách nhiệm của ai? Giải quyết thế nào? Thời gian nào xong? Ông lắng nghe và việc gì bà con hiểu chưa đúng, hoặc không thể đáp ứng được nguyện vọng của bà con, ông cho cán bộ giải thích tường tận. Giải thích đến khi nào bà con hiểu mới thôi. Còn việc gì xử lý được, ông chỉ đạo giải quyết tại chỗ.
Không chỉ tiếp người dân đến đề nghị giải quyết các vấn đề về cuộc sống, ông còn tổ chức gặp những anh chàng hay “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay với vợ”, gặp cả những người tù tha về, những người lao động bình dân. Ông lắng nghe tâm sự của họ và chia sẻ với nỗi khổ của họ như những người bạn. Còn với cán bộ, ông cho ra khỏi hàng ngũ những anh nào “không thấy xấu hổ khi bị chửi”; những người dửng dưng với nỗi khổ của dân và những người có tư tưởng cầu an, không dám làm gì, không dám chịu trách nhiệm.
Việc làm của ông, lúc đầu cũng không phải ai cũng đồng tình, thậm chí, họ còn cho đó là mị dân, là một hình thức “đánh bóng tên tuổi”. Thậm chí có người còn gửi đơn tố giác ông lên cấp trên. Nhưng ông bỏ ngoài tai và tiếp tục làm những gì mà ông cùng tập thể lãnh đạo đã quyết.
Một năm, rồi hai, ba năm trôi qua… khiếu kiện ít dần, ít dần và tất nhiên là cũng không còn chuyện người dân đến tận cơ quan công quyền chửi bới nữa. Tất nhiên, để có được kết quả ấy thì không phải là chỉ có công tác tiếp dân, mà quan trọng là ông và cấp ủy Đảng đã thay đổi được cả một cách nghĩ, cách làm của cán bộ các cấp về đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân. Khi quyền lợi của người dân được đảm bảo, khi không còn nạn cán bộ ức hiếp dân, thì tiếng kêu than cũng chẳng còn.
* * *
Ông nhắc đi nhắc lại với tôi câu nói: “Không giành lại dân, giành lấy niềm tin của dân là mất hết đấy anh ạ!”.
Và thật thú vị, ông trở thành bạn tâm giao của nhiều nhà báo. Các đồng nghiệp của tôi đều quý trọng ông, một người dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.
(Theo Petrotimes) Như Phong

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét