15:01
|
TS Nguyễn Thành Sơn:
Vinacomin đã ngấm rủi ro?
"Việc Vinacomin đề nghị chính phủ bảo lãnh vốn vay ưu đãi
cho thấy: (I) chủ đầu tư đã bắt đầu “ngấm” sự rủi ro (kém hiệu quả) của cả
hai dự án đã được cảnh báo trước; và (II) sự mâu thuẫn trong tư duy triển
khai dự án của chủ đầu tư", TS Nguyễn Thành Sơn nói.
Nhân dịp kỷ niệm 77 năm “vùng mỏ bất khuất” (11.1936-11.2013) Đất
Việt có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Thành Sơn - giám đốc BQL các dự án Than
đồng bằng sông Hồng - Vinacomin về các hoạt động của tập đoàn, đặc biệt là
việc Vinacomin vừa có văn bản đề nghị Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành
liên quan xem xét giải quyết để Vinacomin được hưởng một số chính sách ưu đãi
đối với việc đưa vào hoạt động 2 dự án bauxite - Alumin tại Tân Rai (Bảo Lộc,
Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đăk Nông).
Thưa ông mới đây Vinacomin lại đưa ra thông tin muốn xin cơ chế
chính sách đặc biệt đối với 2 dự án alumin Lâm Đồng và alumin Nhân Cơ. Cụ
thể, doanh nghiệp này muốn được chính phủ bảo lãnh vốn vay ưu đãi từ các ngân
hàng thương mại và phát hành trái phiếu cho hai dự án trên. Đây có phải là đề
xuất hợp lý không và tại sao, đặc biệt khi Việt Nam đang đối diện với gánh
nặng nợ công lớn như hiện nay, thưa ông?
Trước hết, đối với các dự án khai khoáng (thuộc loại “đào lên để
ăn”) thì không cần cơ chế chính sách gì đặc biệt. Việc Nhà nước đang “lờ” đi
2 khoản thu địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch I đối với các dự án khai
thác tài nguyên khoáng sản đã là một chính sách “đặc biệt” chưa có tiền lệ ở
VN rồi.
Đối với 2 dự án alumina, việc Vinacomin đề nghị chính phủ bảo
lãnh vốn vay ưu đãi cho thấy: (I) chủ đầu tư đã bắt đầu “ngấm” sự rủi ro (kém
hiệu quả) của cả hai dự án đã được cảnh báo trước; và (II) sự mâu thuẫn trong
tư duy triển khai dự án của chủ đầu tư. Cái “lý” ở đây chắc Vinacomin dựa vào
cái ‘chân’ là dự án thuộc “vùng sâu vùng xa”. Rất tiếc là khi triển khai cả
hai dự án này, Vinacomin chỉ làm những công trình thuộc phạm vi dự án, không
những không tham gia phát triển hạ tầng cơ sở (giao thông), mà còn làm trầm
trọng hơn việc mất cân đối về cơ sở hạ tầng (các điều kiện) để phát triển
vùng sâu vùng xa.
Còn việc phát hành trái phiếu thì tôi rất e ngại khả năng thanh
toán của cả hai dự án này. Vừa qua, Vinacomin tự cho rằng đã “thành công”
trong việc phát hành mấy nghìn tỷ đồng trái phiếu. Nhưng thực ra, Vinacomin
phải chấp nhận lãi suất rất cao nên mới “thành công”. Nếu xét kỹ cả khả năng
thanh toán thì sự “thành công” này đã phải trả cái giá quá đắt. Và hậu quả
thì cũng khó lường.
. Điều đáng lưu ý là đề xuất này được đưa ra đồng thời với việc Vinacomin “tăng cường hợp tác” với đối tác nước ngoài (vừa trong phát triển dự án, vừa trong tiêu thụ sản phẩm). Nếu xét từ phía Vinacomin, đề xuất này của Vinacomin là rất “hợp lý” vì chẳng còn cái “phao” nào khác.
Về lâu dài, tôi e rằng cả hai dự án alumina của Vinacomin trên
Tây Nguyên sẽ dẫn đến một trong hai khả năng: hoặc phải chấp nhận lỗ, hoặc
phải bán lại cho nước ngoài. Còn bán cho ai và ai có khả năng mua thì chỉ
Vinacomin mới dự tính được.
Ngoài ra, Vinacomin còn đề xuất giảm thuế môi trường với hai dự
án bauxite này. Trước đó, hai dự án đã được áp mức thuế xuất khẩu 0%. Ông
đánh giá như thế nào về một dự án khai thác tài nguyên mà xin giảm thuế tới
mức tối đa để có lãi? Xét trên khía cạnh kinh tế, theo ông, những dự án như
thế này thường được xử lý như thế nào?
Đối với các dự án thuộc ngành khai khoáng, cái quan trọng nhất là
“thuế tài nguyên” phải được xác lập trên cơ sở “tô tài nguyên” gồm địa tô
tuyệt đối và địa tô chênh lệch I mà doanh nghiệp phải nộp cho nhà nước (chủ
sở hữu) vì tài nguyên khoáng sản thuộc sở hữu toàn dân đã được hiến định. Địa
tô chênh lệch II thì chủ đầu tư được hưởng. Còn địa tô độc quyền thì ở VN
không có. Thông thường, thuế (“tô”) tài nguyên này khoảng 30% giá trị.
Các loại thuế khác (thuế môi trường, thuế xuất khẩu, thuế doanh
nghiệp v.v.) theo các qui định chung. Trong đó, thuế xuất khẩu phải căn cứ
vào chính sách (vì giảm hay miễn thuế xuất khẩu thì chỉ có lợi cho người bán
và người mua, còn nhà nước hay địa phương chẳng có lợi ích gì). Còn thuế môi
trường trong khai khoáng ở VN hiện chưa có cơ sở khoa học nào cả.
Trở lại trường hợp của Vinacomin, tập đoàn này liên tục đưa ra lý
do về tài chính, không có lãi để xin giảm thuế, phí…. Mới đây khi trao đổi về
việc tái cơ cấu các tập đoàn nhà nước, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh có nói rằng
sẽ bán nhanh những doanh nghiệp thua lỗ. Theo ông, trong trường hợp này, phải
tái cơ cấu Vinacomin thế nào để đúng tinh thần chỉ đạo của Chính phủ?
Phải tái cơ cấu Vinacomin như thế nào là một câu hỏi còn hết sức
thời sự. Vì tái cơ cấu như Vinacomin đang làm chỉ là “đánh bùn sang ao”, mang
tính đối phó, và để củng cố thêm cái vị thế làm “mẹ” không cần thiết của
Vinacomin.
Đề án tái cơ cấu của Vinacomin không có mô hình tăng trưởng (vẫn
dựa chủ yếu vào xuất khẩu, miễn giảm thuế, tăng giá bán), không có mục tiêu
là nâng cao năng lực cạnh tranh (vẫn duy trì “kế hoạch phối hợp kinh doanh”
trái với tinh thần của luật Doanh nghiệp), không có đổi mới về quản lý (vẫn
duy trì cơ chế xin-cho ngày càng tập chung), không có hoàn thiện về tổ chức
sản xuất theo đặc thù của ngành khai khoáng (vẫn duy trì tổ chức theo các
“ghế” giám đốc đã được định sẵn) v.v.
Một tín hiệu đáng mừng là, gần đây Chính phủ đã phá vỡ thế độc
quyền của Vinacomin bằng việc tách Tổng công ty Đông Bắc ra khỏi “nồi cơm
chung” có tên gọi là Vinacomin. Hy vọng chủ trương đúng đắn này sẽ là sợi chỉ
đỏ cho việc tái cơ cấu Vinacomin một cách thực sự.
Việc “bán” những doanh nghiệp “thua lỗ” trong Vinacomin không khả
thi. Đã lỗ thì làm sao bán được, chỉ có đem “cho” thì may ra có người nhận.
Nhiều mỏ, nhiều doanh nghiệp trong Vinacomin đã được cổ phần hóa rồi (chiếm
khoảng 50%), nhưng có thu được gì đáng kể đâu. Vì mới chỉ cổ phần hóa được 1
cái “ngọn”, còn 2 cái “gốc” thì chưa.
Để tái cơ cấu Vinacomin có hiệu quả cần phải làm nhiều việc.
Trước hết, phải phân bổ lại nguồn lực sản xuất sao cho “mẹ” ra “mẹ”, “con” ra
“con”, “cháu” ra “cháu”. Các “con” phải bề vai với “con”, “cháu” phải bề vai
với “cháu”. “Mẹ” phải đàng hoàng, sòng phẳng, minh bạch, công khai và chỉ nên
đóng vai trò hướng dẫn (quản lý cạnh tranh và chiến lược phát triển v.v.).
Trước những khó khăn
của Vinacominy, theo ông, Quốc hội có nên yêu cầu Vinacomin minh bạch báo cáo
và đưa ra những quyết sách phù hợp không?
Việc công khai minh bạch là cần thiết nhất là bây giờ, sau 5 năm,
mọi việc đã rõ đến từng chi tiết thì việc minh bạch trước QH là hết sức khả
thi và cần thiết. Tôi nghĩ, chẳng có lý do gì để Bộ Công Thương và Vinacomin
không báo cáo rõ ràng với Quốc hội về những vấn đề như: các con số dự báo
tính toán trước đây đến nay thực tế như thế nào, vốn đầu tư đã tăng lên chóng
mặt như thế nào, nhà thầu đã được lựa chọn chính xác đến mức nào, các thông
số cam kết bảo hành của dự án đạt được mức nào, tiêu hao khoáng vật, vật tư,
nhiên liệu, nước, hóa chất như thế nào, sản phẩm alumina có chi phí sản xuất
bao nhiêu, đóng góp ngân sách địa phương bao nhiêu, đang được xuất khẩu cho
ai, chỉ có 1 người mua là ai, với giá xuất khẩu bao nhiêu v.v. Tôi chỉ nghĩ,
trắng hay đen đến nay đã rõ.
Tôi tin một nhóm các nhà khoa học độc lập có thể tư vấn đầy đủ
cho QH, cho Chính phủ, cho Bộ Công Thương và cho Vinacomin về vấn đề này. Tôi
chỉ có thể đưa ra những ý kiến cá nhân, chịu trách nhiệm và sẵn sàng trao đổi
(hay tranh luận) với bất kỳ ai (hay cơ quan nào) về về những ý kiến đó.
Việc phát hành trái phiếu và/hoặc cổ phần hóa, và/hoặc vay nợ
nước ngoài cho hai dự án này cần hết sức tránh. Đã đến lúc chúng ta phải nghĩ
đến việc xử lý hậu quả của hai dự án này với tiêu chí thiệt hại nhỏ nhất có
thể chấp nhận được.
Xin cảm ơn ông!
NGỌC LÊ/ BAODATVIET.VN
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét