07:110
Những
thanh minh từ Bôxit*
Những lo ngại và tranh cãi về hai dự án
bô xít vẫn tiếp tục diễn ra. Tuy nhiên, từ thực tế triển khai, chủ đầu tư và
địa phương cho rằng cần có cái nhìn dài hạn và đa mục tiêu về hai dự án này.
Thực tế công nghệ khai thác
Lo ngại về Bô xít được các nhà khoa học nêu lên tập trung
vào các vấn đề: dự án chiếm dụng đất rất lớn, nguy cơ bùn đỏ, chất độc hại
không bao giờ phân huỷ. Đặc biệt, nếu có sự cố, bùn đỏ và chất độc hại tràn
ra môi trường thì không thể kiểm soát nổi gây ảnh hưởng nguồn nước, làm thay
đổi môi trường sinh thái..; không thể làm nông, lâm nghiệp trên những vùng
đất đã khai thác bô xít...
Với thực tế triển khai dự án, TKV cho rằng cần những đối
thoại để hiểu rõ hơn về những vấn đề quanh dự án này.
Đại diện TKV cho biết, nhà máy khi hoàn thành cần 850 ha
đất, tức là chưa tới 10 km2. Mỗi năm một nhà máy sử dụng 60 -80 ha để khai
thác quặng. Với tuổi đời 30 năm, nhà máy sử dụng khoảng 20 km2 đất. Đây là
diện tích không quá lớn.
Quặng bô xít tại những khu vực khai thác chủ yếu là lộ
thiên, nằm cách mặt đất từ 0,5m -1m. Vì vậy, các cây trồng trên quặng thường
khó sống và cho năng suất rất thấp. Công nghệ khai thác bô xít được tiến hành
rất đơn giản: chỉ gạt phần đất trên mặt, thu quặng, khi lấy hết quặng thì
dùng lớp đất mặt hoàn thổ ngay.
Thực tế, tại khu mỏ ở Tân Rai hiện nay, cứ khai thác đến
đâu thì ngay lập tức đã hoàn thổ và trồng cây xanh lên trên.
Nguồn nước cho các nhà máy lấy 100% từ nước mưa, chứa
trong hồ. Tổng nhu cầu nước cho nhà máy tuyển quặng một năm cần 30.000.000
m3. Trong đó nước thu hồi sử dụng lại là 23.000.000 m3, nước bổ sung mới
7.000.000 m3. Nhà máy alumin cần 4,2 triệu m3, nước thu hồi sử dụng lại là 3
triệu m3, nước bổ sung mới 1,2 triệu m3.
Tại Nhân Cơ sẽ nâng cấp hồ Cầu Tư có dung tích chứa tự
nhiên 1,2 triệu m3 lên 9 triệu m3/năm, Tại Tân Rai đã xây dựng hồ Cai Bảng có
dung tích chứa 20 triệu m3/năm. Với dung tích này, ngoài phục vụ nhà máy thì
có thể còn phục vụ cho tưới tiêu của nhân dân quanh vùng.
Vấn đề lo ngại nhất là xứ lý chất thải. Hiện tại các nhà
máy đã có hồ quặng đôi để xử lý nước thải. Khu vực chứa bùn đỏ được thiết kế
có hệ thống đường bê tông bao quanh, có 3 lớp gồm thoát nước, chống thấm và
chuyển tiếp. Lớp chống thấm gồm 2 lớp đất sét, mỗi lớp dày 200 mm, giữa 2 lớp
có 2 lớp vải địa kỹ thuật và 1 lớp màng HDPE. Lớp thoát nước phía bên trên có
hệ thống thu hồi nước thoát ra từ bùn đỏ, lớp sỏi dày 300mm, vải địa kỹ thuật
và cát mịn dày 100mm.
Công nghệ xử lý bùn đỏ là dạng cô đặc. Sau khi xả bùn đỏ
vào hồ 10 ngày sẽ khô cứng và không thể hòa tan trong nước cho dù gặp mưa lớn
kéo dài. Bùn đỏ không có phóng xạ, xung quanh khu vực chứa bùn đỏ là đường và
đồi núi, không gần sông suối, không thể tạo ra lũ để cuốn trôi.
Tại Tân Rai, bùn đỏ sau khi xả xuống hồ đã khô cứng có thể
đi lại ở trên. Bên cạnh đó là 1 hồ dự phòng, dành cho những tình huống khẩn
cấp. Nước thoát ra từ bùn đỏ có nhiều xút được thu hồi chuyển trở lại nhà.
Vận chuyển quặng bô xít không diễn ra trên đường giao
thông mà chỉ trong khu vực từ mỏ về nhà máy tuyển. Chỉ vận chuyển alumin tinh
chế ra cảng biển để xuất khẩu hoặc bán trong nước, mỗi nhà máy 650.000
tấn/năm số lượng này không bằng khối lượng vận chuyển 1 nhà máy xi măng công
suất 2-3 triệu tấn/năm nên sức ép gây quá tải cho hệ thống giao thông không lớn.
Những trông đợi
Nhà máy alumin Nhân Cơ dự kiến lỗ 7 năm đầu và Tân Rai dự
kiến lỗ 5 năm đầu. Tuy nhiên, theo TKV, hai nhà máy rất có hiệu quả về dài
hạn.
Cụ thể, nếu tính bình quân cả đời dự án 30 năm thì dự án
Tân Rai có giá thành sản xuất bình quân 1 tấn alumin là 6,55 triệu đồng
(khoảng 311,9 USD), giá bán bình quân 1 tấn alumin xác định là 7,96 triệu
đồng (khoảng 379 USD).
Theo ông Trần Văn Cảng, Trưởng Ban tuyên giáo huyện Bảo
Lâm (Lâm Đồng), dự án alumin Tân Rai cùng với các dự án thủy điện đã góp phần
thúc đẩy kinh tế địa phương, biến Bảo Lâm trở thành 1 trong 4 địa bàn phát
triển kinh tế trọng điểm của tỉnh Lâm Đồng. Cơ sở hạ tầng của dự án như đường
giao thông, hồ chứa nước vừa phục vụ dự án vừa phục vụ dân sinh rất hiệu quả.
Dự án còn đào tạo và thu hút 1.300 lao động địa phương.
Ông Trần Phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông cho biết,
tỉnh có 2 tiềm năng lớn là thuỷ điện và bô xít, nếu không khai thác lợi thế
này mà chỉ nhìn vào các loại cây nông nghiệp thì buồn lắm.
Nhân dân địa phương rất trông đợi vào các dự án này, đã có
đồng thuận rất cao ngay từ ban đầu, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho việc như
sẵn sàng giao đất, nhận đền bù cho TKV triển khai dự án đúng tiến độ.
Trần Thủy
* Diện tích dự án có 850 ha, mỗi năm sử dụng hết 80 ha,
như vậy hơn 10 năm sẽ hết đất (chưa đủ thời gian “cắt lỗ” 12 năm), còn đâu để
khai thác trong 30 năm? Với số tiền gần hai mươi ngàn tỷ mà chỉ giải quyết
việc làm cho 1300 lao động phổ thông có đáng chăng?
Thương Giang
|


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét