|
20:15
Từ
vụ hai nhà báo bị công an hành hung:
Nền công vụ đang xuống cấp
SGTT.VN - “Phải xem lúc bị đánh các phóng viên có xưng là nhà báo
không, có thẻ hành nghề không hay là khi bị đưa về cơ quan công an mới xưng
là nhà báo? Vấn đề này cần làm rõ mới xác định được tính chất vụ việc”. Đó được cho là nguyên văn phát biểu của chánh văn phòng
UBND tỉnh Hưng Yên khi trả lời phỏng vấn của báo chí, quanh vụ hai nhà báo
của đài Tiếng nói Việt Nam bị lực lượng cưỡng chế thu hồi đất tại Văn Giang
hành hung trong lúc đang tác nghiệp.
Dư luận rất bức xúc trước kiểu nói này. Bởi, ai cũng biết và, suy
cho cùng, buộc phải biết rằng ngoài trường hợp phạm pháp quả tang, thì việc
sử dụng vũ lực để thực thi công vụ ở nơi công cộng chỉ được pháp luật cho
phép trong các trường hợp cần phải ngăn chặn hoặc vô hiệu hoá sự chống đối
hoặc cản trở cũng bằng vũ lực của người này, người nọ.
Vả lại, sức mạnh trấn áp của quyền lực công, cái theo giả thiết
chỉ nhằm phục vụ cho việc bảo đảm và duy trì trật tự xã hội, không thể được
sử dụng tuỳ thích, mà phải theo quy trình và có mức độ thích hợp, tuỳ giai
đoạn, tình huống. Trước hết, nếu thấy người không có liên quan đến vụ việc mà
cứ chàng ràng tại hiện trường, thì phải mời họ đi chỗ khác; nếu họ không tự
giác đi ra, thì tiến hành khống chế và trục xuất; và nếu họ có hành vi chống
đối, thì mới có thể bị trấn áp bằng vũ lực một cách thích ứng, với mục đích
duy nhất là triệt tiêu mối nguy hiểm mà họ có thể gây ra cho người thi hành
công vụ.
Các quy tắc này được áp dụng bất kể chủ thể chống đối hoặc cản
trở là ai, có liên quan hay không có liên quan đến vụ việc, quan chức hay
thường dân. Đáng lý ra, vấn đề phải là những người bị đánh có được quyền lui
tới hiện trường và có hành động gì tỏ ra đe doạ tới sự an toàn của lực lượng
thi hành công vụ hay không, chứ không phải họ có là hoặc có xưng là nhà báo
hay không trong lúc bị đánh.
Không chỉ bức xúc, dư luận đồng thời còn ngạc nhiên vì cách đặt
vấn đề kỳ quặc và hoàn toàn phi logic ấy lại có tác giả là một quan chức có
cỡ của một tỉnh, và được lồng trong lời phát ngôn chính thức nhân danh nhà
chức trách trong khuôn khổ giải trình công khai về sự việc. Có thể người nói
chưa có kinh nghiệm đối đáp trước giới truyền thông nên dễ lúng túng; hoặc có
khả năng do hiểu biết kém cỏi mà nói sai; hay cũng có thể vẫn biết, vẫn tỉnh
táo, nhạy bén và đã chuẩn bị từ trước để nói như thế.
Rõ ràng, cái đáng lo từ câu chuyện, cũng như từ những chuyện
tương tự xảy ra gần đây và được báo chí đưa tin, không chỉ dừng lại ở nguy cơ
lạm dụng quyền dùng vũ lực của người thi hành công vụ trong xử lý các vụ việc
rối rắm trong đời sống xã hội, đặc biệt là các tình huống nhạy cảm liên quan
đến đất đai, giải toả và đền bù. Người ta còn nhận thấy, qua thái độ ứng xử
của một số quan chức khi giao tiếp với công chúng, sự tầm thường, nếu không
muốn nói là sự thấp kém cả về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức công
vụ của người được giao chức năng quản trị, điều hành, đang có dấu hiệu lây
lan trong hệ thống.
Phải thấy rằng các mối quan hệ trong giao tiếp của cơ quan công
quyền với chủ thể được quản lý càng lúc càng trở nên tinh tế, phức tạp; một
phần do nhận thức xã hội, pháp lý của người dân, theo sự phát triển kinh tế
và quá trình hội nhập của đất nước, đã được nâng cao đáng kể. Đặc biệt, ý
thức của người dân về việc bảo vệ các quyền của chủ thể, nhất là quyền sở hữu
tài sản bằng công cụ luật pháp ngày càng tốt hơn. Trong hoàn cảnh đó, một bộ
máy quản lý với nhiều vị trí yếu kém lại có thiên hướng hành động tuỳ tiện,
lộng quyền dễ khiến cho quyền lực công trong nhiều trường hợp bị đặt ở vị trí
đối đầu với dân thường trong cuộc xung đột lợi ích. Với tình trạng ấy cộng
thêm nạn ăn nói hồ đồ khi tiếp xúc với công luận, sự giảm sút lòng tin của
người dân đối với chính quyền là khó tránh.
PGS.TS Nguyễn
Ngọc Điện
|
Thứ Sáu, 11 tháng 5, 2012
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét