|
Cả xóm nghèo gửi đơn “xin nghèo” cho một nhà
Cập nhật lúc 11:02
20 hộ dân đồng loạt ký
tên, photocopy chứng minh nhân dân để “làm tin” kèm theo trong một đơn kiến
nghị mà trong đơn họ không “xin xỏ” gì cho mình
Thấy gia đình anh Đỗ
Hữu Lợi quá nghèo mà lại không được xếp vào diện hộ nghèo để nhận hỗ trợ của
nhà nước, cả xóm gửi đơn khắp nơi xin cho gia đình anh Lợi "được
nghèo".
Điều hi hữu này diễn
ra ở tổ 7, ấp Hòa Bình 2, xã Hòa Lạc, huyện Phú Tân (An Giang), khi trên 20
hộ dân đồng loạt ký tên, photocopy chứng minh nhân dân để “làm tin” kèm theo
trong một đơn kiến nghị mà trong đơn họ không “xin xỏ” gì cho mình, chỉ xin
xem xét giúp đỡ một gia đình chòm xóm mà họ không có khả năng cứu giúp.
Người được nhắc trong
đơn là anh Đỗ Hữu Lợi (37 tuổi). Đơn trình bày: hoàn cảnh gia đình anh Lợi vô
cùng khó khăn, không ruộng đất sản xuất, không nghề nghiệp ổn định, lại mang
bệnh tật...
Gia đình 5 người của
anh Lợi đang tá túc trong căn nhà sàn xiêu vẹo được cất trên vũng nước tù
đọng, bốc mùi hôi thối khó ở được. Gia đình anh Lợi nhiều lần làm đơn lên xã,
huyện để được xem xét cho vào khu tái định cư của xã nhưng không được xem xét.
Ở địa phương không
làm ra tiền, vợ chồng anh Lợi cùng ba con bỏ xứ đi Bình Dương làm công nhân.
Trong ba đứa con anh Lợi, đứa học lớp 3, đứa học lớp 6 năm nào cũng được giấy
khen nhưng phải bỏ học theo cha mẹ.
Gia đình anh Lợi đi
Bình Dương làm thuê nhưng lại không có việc làm thường xuyên, hay bệnh tật,
không tiền trang trải ăn uống, nhà trọ nên một lần nữa họ lại
đùm níu nhau
trở về quê.
Hàng xóm nói vợ chồng
anh Lợi làm đủ nghề, từ xịt thuốc sâu, dọn cỏ, sạ lúa, đào đất mướn... Nhưng
nông thôn ít việc làm, chứng bệnh gan của anh Lợi hay tái phát nên có khi làm
ra không đủ tiền thuốc men, lại lâm nợ.
Rồi vợ chồng con cái
lại mang nhau rời xứ cùng hi vọng kiếm cơm, rồi lại quay về trong thất vọng...
“Như vậy đó mà nó
không “được” xếp vào hộ nghèo để được Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ” - hàng xóm
anh Lợi tỏ ra bức xúc.
“Thời gian trước có
cán bộ đến ghi gia cảnh thằng Lợi, nhưng không dám vô nhà, sợ sập, chỉ ở bên
nhà tui biên qua” - họ kể.
Ông Nguyễn Phi Cường,
trưởng ấp Hòa Bình 2, cho biết nếu một hộ dân vắng khỏi địa phương quá 6
tháng sẽ không xét công nhận hộ nghèo. Nên để “được” công nhận nghèo, người
nghèo phải ở lại địa phương, không được đi làm ăn xa (?).
Với hoàn cảnh gia
đình anh Lợi đang khó khăn nhà ở, ông Cường nói ông cũng có biết. Thời gian
trước xã xét cho một số hộ dân được vào ở trong tuyến dân cư Hòa Lạc - Phú
Thành, nhưng không duyệt cho gia đình anh Lợi vì ưu tiên cho các hộ sống
trong vùng có nguy cơ sạt lở ven sông Hậu.
Khi chúng tôi đưa sự việc nhiều hộ dân làm đơn kiến nghị
trường hợp của anh Đỗ Hữu Lợi, ông Nguyễn Tiến Duy - chủ tịch UBND xã Hòa Lạc
- nói thật là... không hề hay biết chuyện này.
(Theo
Tuổi trẻ) TIẾN TRÌNH
|
Thứ Năm, 31 tháng 12, 2015
|
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam - Trung Quốc điện đàm trực tiếp
Cập nhật lúc 10:55
Sáng 31-12, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí
thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng
Thường Vạn Toàn, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng Trung Quốc đã có cuộc điện đàm nhân
dịp Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Trung Quốc chính thức thiết lập
đường dây liên lạc trực tiếp; nhân dân hai nước chuẩn bị đón năm mới 2016 và
kết thúc năm kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước.
Hai Bộ trưởng thống nhất cho rằng,
việc thiết lập đường dây liên lạc trực tiếp giữa Bộ Quốc phòng hai nước là
một nội dung hợp tác mới thể hiện sự tin cậy lẫn nhau và tạo điều kiện để
lãnh đạo Quân đội hai nước kịp thời trao đổi những vấn đề trong quan hệ quốc
phòng song phương.
Hai Bộ trưởng đánh giá cao quan hệ
hợp tác quốc phòng thời gian qua và cho rằng, sự hợp tác đã mang lại hiệu quả
thiết thực, là một trong những trụ cột quan trọng trong quan hệ giữa hai
nước, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực,
đáp ứng lợi ích của nhân dân mỗi nước, từng bước giải quyết thỏa đáng những
bất đồng trên cơ sở các nhận thức chung giữa lãnh đạo hai nước. Hai Bộ trưởng
thống nhất thời gian tới cần thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực quốc
phòng, đặc biệt là tăng cường giao lưu các cấp, triển khai có hiệu quả các
Thỏa thuận đã ký kết, góp phần đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn
diện Việt Nam - Trung Quốc không ngừng phát triển lành mạnh, ổn định.
Nhân dịp này, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng hai nước đã chúc mừng nhau nhân dịp năm mới 2016 và Tết cổ truyền Bính
Thân của hai dân tộc. Cuộc điện đàm đã diễn ra trong bầu không khí hữu nghị
thân mật.
(Theo QĐND) NGUYỄN HÒA
|
Tướng Lê Đức Anh,
đưa VN thoát vòng xoáy nước lớn
Cập nhật lúc
10:45
“Khi mâu thuẫn Trung - Xô
chuyển thành mâu thuẫn đối kháng, rồi xuất hiện xu hướng liên kết Mỹ - Trung
chống Liên Xô bằng "con bài Việt Nam” đã khiến ta rơi vào vòng xoáy giữa
các mối mâu thuẫn giữa các nước lớn.”, đại tướng Lê Đức Anh
LTS: Năm 2016 được xác định có ý nghĩa đặc biệt đối với kinh tế - xã
hội khi Việt Nam là thành viên trong Khối Cộng đồng Kinh tế Asean (AEC). Từ
những ý kiến nhận định sáng suốt của Đại tướng-nguyên Chủ tịch nước Lê Đức
Anh tại thời điểm hơn 40 năm trước, thư ký của ông, Đại tá Khuất Biên Hòa đã
viết về câu chuyện “Ý tưởng gia nhập Asean – khởi điểm hành trình đến AEC hôm
nay”.
Trong vòng xoáy các nước lớn
Trước thềm Đại hội
Đảng VI, khi đại hội Đảng toàn quân từ ngày 13-18/10/1986 , đồng chí Lê Đức
Anh được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu trưởng thay cho Đại tướng Tổng tham mưu
trưởng Lê Trọng Tấn vừa đột ngột qua đời. Vừa nhậm chức, ông lập tức lên thị
sát biên giới phía Bắc, rồi trở vào Nam Trung Bộ thám sát tất cả các đảo của
quần đảo Trường Sa và quân cảng Cam Ranh. Lúc này, nhận định về vị thế “VN
đang bị cuốn vào các vòng xoáy các nước lớn” trong tâm trí ông càng rõ.
Sau khi được bổ nhiệm
là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh có điều kiện để trình bày
một cách đầy đủ với Bộ Chính trị về những nhận định và đề xuất ý tưởng của
mình.
Tại cuộc họp Bộ Chính
trị hẹp tại Nhà con rồng – Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng tại Hoàng thành Thăng
Long tháng 2/1987, ông đã trình bày toàn bộ báo cáo phân tích và nhận định về
tình hình thế giới, trong nước, biên giới, đồng thời đưa ra ý tưởng phải tìm
cách để đưa VN “thoát ra khỏi vòng xoáy ba nước lớn” là Liên Xô, Trung Quốc
và Mỹ:
- 30/4/1975, ta giải
phóng miền Nam. Sau đó 5 tháng, từ 19 đến 23/10/1975, cấp cao Mỹ-Trung đã gặp
nhau ở Bắc Kinh và ngay sau đó ở Wasinhton, thỏa thuận 5 điểm với nội dung
chủ yếu là: Mỹ sẽ viện trợ quân sự cho Trung Quốc trị giá một tỷ USD, đồng
thời mở cửa thị trường và hỗ trợ kinh tế cho Trung Quốc. Đổi lại, sau 18
tháng chuẩn bị, Trung Quốc sẽ dùng tập đoàn Pôn Pốt đánh VN từ hướng Tây Nam.
Bên cạnh đó, Mỹ-Trung dùng các nước thứ ba bao vây VN từ các hướng khác…
Mâu thuẫn Xô-Trung có
từ những năm 50, rõ nhất từ sau Hội nghị 81 Đảng cộng sản và công nhân, mùa
Thu 1960 ở Matxcơva – từ mâu thuẫn về quan điểm, đường lối, đã trở thành mâu
thuẫn đối kháng và ngày càng gay gắt.
Sau khi có “Hiệp định
hợp tác toàn diện Xô-Việt”, Liên Xô một mặt đưa Hải quân và Không quân tới
đóng và hoạt động ở quân cảng Cam Ranh, lập cầu hàng không vận chuyển vũ khí
và phương tiện chiến đấu cho Việt Nam, một mặt thiết lập “đoàn cố vấn quân
sự” từ cấp sư đoàn bộ binh và trung đoàn binh, quân chủng kỹ thuật trở lên.
Họ cũng yêu cầu ta bỏ
“cơ chế Đảng ủy” trong Quân đội, đồng thời đưa cả 19 sư đoàn bộ binh lên áp
sát biên giới Việt-Trung. Chưa hết, họ còn đề nghị ta thành lập Quân đoàn thứ
10. Nếu làm như vậy quân số thường trực sẽ lên tới một triệu sáu. Không một
nền kinh tế nào có thể nuôi nổi, huống hồ ta vừa thoát ra khỏi cuộc chiến
tranh kéo dài hơn 30 năm. Có thể hình dung, trong “Đội hình tiến công” của
Liên-xô, quân cảng Cam Ranh như một mũi dao, còn bộ đội Việt Nam áp sát biên
giới như một tên lính xung kích.
Khi mâu thuẫn Trung -
Xô chuyển thành mâu thuẫn đối kháng (trước đã có, bây giờ tăng lên), rồi xuất
hiện xu hướng liên kết Mỹ - Trung chống Liên Xô bằng "con bài Việt Nam”
đã khiến ta rơi vào vòng xoáy giữa các mối mâu thuẫn giữa các nước lớn.
Vấn đề đặt ra là làm
thế nào để thoát khỏi vòng xoáy này mà vẫn giữ được độc lập dân tộc?
Sau khi phân tích
tình hình, đại tướng đã đề xuất ba bước đi cơ bản và cần thiết: Thứ nhất,
hoạt động tích cực để “tháo ngòi nổ xung đột biên giới” tiến tới lập lại quan
hệ bình thường hóa với Trung Quốc; Thứ hai, tháo gỡ thế bao vây cấm vận của
Mỹ để tiến tới thiết lập quan hệ bình thường với Hoa Kỳ như ý kiến của Tổng
Bí thư Nguyễn Văn Linh và hai Cố vấn Trường Chinh và Phạm Văn Đồng; Thứ ba,
tìm đường gia nhập ASEAN.
Theo Đại tướng, nếu
đạt được 2 mục tiêu đầu ta sẽ thoát ra khỏi vòng xoáy mâu thuẫn, thoát khỏi
tầm ảnh hưởng của các nước lớn nói trên. Tiếp đó, khi vào được ASEAN sẽ là
bước đi để chúng ta thoát khỏi vòng xoáy ba nước lớn một cách bền vững.
Địa chính trị Việt Nam
Sau thất bại chiến
tranh Việt Nam, Mỹ đã câu kết với Trung Quốc, dùng Pôn Pốt ở Campuchia trả
thù ta và ngăn chặn sự ảnh hưởng của Việt Nam với khu vực. Kế hoạch này đã
thất bại.
Trong khi Mỹ chưa có
chính sách mới đối với Việt Nam là thời cơ để ta có thể tiến hành phá bao vây
cấm vận. Nhiều lãnh đạo của các nước ASEAN lệ thuộc Mỹ và Trung Quốc. Nếu ta
tìm cách gia nhập ASEAN để nâng tinh thần độc lập tự chủ của họ lên, họ sẽ
dần cảm thấy không bị lệ thuộc vào Trung Quốc và Mỹ nữa.
Lúc đó cũng có ý kiến
băn khoăn, liệu vào ASEAN ta có lôi kéo được họ không hay ta lại bị họ lôi
kéo? Và, liệu họ có chịu không? Vì nếu xét ở khía cạnh kinh tế họ sẽ không
chịu mình đâu...
Đại tướng phân tích:
“Nếu chỉ vì mục đích kinh tế thì khó, vì ta đang nghèo. Nhưng ta có hai cái
"giàu" là giàu về chính trị và về địa lý, giàu về tiềm năng con
người. Ban đầu về kinh tế có thể ta chưa có lợi gì, nhưng về chính trị thì ta
có thế của một nước độc lập có chủ quyền, mà nền độc lập của ta không phải
nói suông, cả dân tộc ta đã đổ bao nhiêu mồ hôi, xương máu và trí tuệ mới có
được. Lòng tự trọng, tự tôn dân tộc thì anh nào cũng có. Ta vào thì họ sẽ có
chỗ dựa về chính trị để họ vươn lên vì từ trước đến nay họ thường xuyên bị
nước lớn chi phối. Họ cần ở ta là cần về chính trị trước tiên, mà ta lại có
"vốn lớn" về chính trị. Trong khối Asean hiện tại một số nước trước
đây rất "căng" với ta, gần đây đã có những dấu hiệu thay đổi. Sẽ có
những nước ủng hộ ta. Ta sẽ đặt chân vào Asean từ cánh cửa của những nước như
vậy.
Ông nói thêm, nhưng
những bước đi đầu tiên phải hết sức bí mật và thận trọng. Nếu ta không vào
thì Mỹ và một số nước lớn sẽ tiếp tục phá ta, thậm chí tiếp tục dùng một số
nước ASEAN để phá ta. Khi ta vào được thì họ không phá được ta mà ngược lại,
ta sẽ là chỗ dựa về chính trị để các nước ASEAN vươn lên.”
Phân tích thấu đáo
của Đại tướng đã được đồng tình cao. Cố vấn Phạm Văn Đồng nói: "Việc này
bên Ngoại giao làm là đúng chức năng, Bộ Quốc phòng phải phối hợp. Việc lớn
này cả Đảng và Nhà nước cùng làm mới xong". Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn
Cơ Thạch tiếp lời: "Bây giờ các anh cứ quyết, tôi xin làm ngay!".
Cố vấn Trường Chinh đề nghị “giao cho anh Lê Đức Anh làm cái đoạn
"mở đầu". Mọi người cùng nhất trí…
Ngăn Liên Xô đưa đầu đạn hạt
nhân vào Cam Ranh
Song song với việc
thực thi kế hoạch “Tháo ngòi nổ cuộc xung đột Biên giới phía Bắc” và đạt tới
thành công, Đại tướng Lê Đức Anh đã tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng văn bản
Hiệp định giữa Việt Nam ký kết cùng Liên Xô.
Nhận thấy không có
điều khoản nào nói Liên Xô được đưa đầu đạn hạt nhân vào Cam Ranh. Sau khi
được Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đồng ý, Đại tướng đã làm việc với Đại sứ
Liên Xô tại Việt Nam, yêu cầu không đưa đầu đạn hạt nhân, tàu ngầm quân sự
vào khu vực cảng Cam Ranh. Người Nga nhận thấy nếu không đưa được tàu ngầm
mang đầu đạn H vào Cam Ranh, thì mục tiêu không đạt được nên đã đồng ý rút
khỏi Hiệp định sớm 4 năm, bộ đội Hải quân và Không quân Nga cũng rút khỏi Cam
Ranh.
Ngay sau khi Nga rút,
VN đã kí với ASEAN Hiệp định “Khu vực Đông Nam Á là khu vực phi hạt nhân”.
Các nước Asean rất đồng tình và thấy rõ VN có thiện chí. Đây chính là bước
ngoặt quan trọng để sau đó Việt Nam từng bước đạt được những lộ trình quan
trọng và cơ bản của 3 mục tiêu đã đề ra, sau cùng là chính thức gia nhập Hiệp
hội ASEAN:
Tháng 11/1991, Việt
Nam và Trung Quốc ký Hiệp định lập lại quan hệ bình thường.
Tháng 7/1993, Tổng
thống Bill Clinton đã mở đường cho các tổ chức tài chính quốc tế gồm IMF, WB
bắt đầu cung cấp tín dụng cho VN. Tháng 2/1994, Mỹ tuyên bố chấm dứt cấm vận
sau 19 năm. Ngày 12/7/1995, VN và Mỹ chính thức lập quan hệ bình thường, lập
văn phòng ngoại giao.
Ở vị trí Chủ tịch
Nước, ngày 29/4/1994, Đại tướng Lê Đức Anh đã thăm Indonesia và gặp Tổng thư
kí khối ASEAN. Tại cuộc gặp này, ông đã chia sẻ ý định gia nhập ASEAN của
Việt Nam và nhận được ủng hộ. Sau đó, là các cuộc viếng thăm của Thủ tướng Võ
Văn Kiệt và các thành viên Chính phủ đã diễn ra. Cuối cùng chúng ta đã trở
thành thành viên của ASEAN vào ngày 28/71995
***
Nhìn lại ý tưởng hội
nhập khởi đầu đưa ra từ Đại hội VI đến cuối nhiệm kì Đại hội VII, đặc biệt
nhiệm kỳ 91-97 là giai đoạn VN ĐỔI MỚI toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng,
công tác đối ngoại đã được triển khai thận trọng, nghiêm túc và thu được kết
quả quan trọng.
Ta đã làm cho bạn bè
quốc tế hiểu rõ và ghi nhận chính sách của Đảng, Nhà nước và Nhân dân VN –
kiên trì đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa trên nguyên
tắc cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào
nội bộ của nhau – hợp tác cùng có lợi.
Thành quả của công
tác đối ngoại và kết quả của công cuộc đổi mới đất nước đã thực sự nâng tầm
vị trí VN trên trường quốc tế. Khẩu hiệu “VN muốn là bạn và đối tác tin cậy
của tất cả các nước và các dân tộc trên thế giới” đã trở thành hiện thực. Từ
đây, ta đã tranh thủ được sự giúp đỡ, khai thác được thế mạnh của từng quốc
gia, từng tổ chức quốc tế vào công cuộc tái thiết, xây dựng đất nước của ta.
AEC ngày hôm nay, là thành tựu, thành quả của một bước tiến dài trong ý tưởng
– kế hoạch – thực thi mục tiêu độc lập, phát triển, tiến bộ của con người
Việt Nam, nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.
(Theo TuanVietNam)
Đại tá Khuất Biên Hòa, Thư ký của Đại tướng, nguyên
Chủ tịch nước Lê Đức Anh.
|
Doanh thu ngành
TT&TT 2015 đạt 520.000 tỷ
Cập nhật lúc 10:34
Trong năm 2015, tổng doanh thu từ các doanh nghiệp viễn thông,
CNTT, truyền thông ước đạt hơn 520.000 tỷ đồng. Điều đáng nói là con số này
chưa bao gồm doanh thu công nghiệp CNTT.
Con số ấn tượng này vừa được công bố tại Hội nghị Triển
khai Nhiệm vụ 2016 của Bộ TT&TT diễn ra sáng nay, 31/12/2016.
Có thể nói, năm 2015 là một năm tiếp tục ghi nhận sự tăng
trưởng mạnh mẽ của ngành TT&TT. Bên cạnh doanh thu và lợi nhuận
"khủng", tổng nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp trong
ngành cũng ước đạt tới 63.380 tỷ đồng. Các chỉ số về mật độ phổ cập công nghệ
cũng phản ánh một bức tranh sáng, tích cực về ngành như tỷ lệ thuê bao di
động đạt 140 thuê bao/100 dân; Tỷ lệ thuê bao Internet băng rộng cố định đạt
8,2 thuê bao/100 dân; Tỷ lệ thuê bao băng rộng di động: 40 thuê bao/100 dân;
Cả nước đã có 52% dân số sử dụng Internet, tỷ lệ phủ sóng
di động đạt 94%; 100% xã có má điện thoại; 98% xã có điểm Bưu điện - văn hóa
xã.
Đặc biệt, Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của vốn đầu
tư nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực công nghệ thông tin, với nhiều dự án đầu tư
"khủng" từ các tập đoàn lớn như Samsung, LG, Intel, Canon...
Tiếp tục hoàn thiện hành lang
pháp lý
Năm 2015, nhiều cơ chế chính sách mới đã được Bộ TT&TT
tập trung triển khai nghiên cứu, xây dựng và thể chế hóa thành chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch nhằm xác định mục tiêu, định hướng phát triển cho toàn
ngành TT&TT trong thời gian tới. Trong số này có nhiều đề án lớn như:
Luật An toàn thông tin mạng, Luật Báo chí (sửa đổi), Quy hoạch phát triển và
quản lý Báo chí toàn quốc đến năm 2025, Chương trình hành động của Chính phủ
thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh
ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập
quốc tế, Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan
nhà nước giai đoạn 2016-2020...
Trên cơ sở các đề án do Bộ tham mưu và xây dựng, năm 2015,
Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành và thông qua 18 đề án, gồm:
Luật An toàn thông tin mạng, 02 nghị quyết và 01 nghị định của Chính phủ, 14
quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Đáng chú ý, tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa
XIII, Luật An toàn thông tin mạng đã được Quốc hội biểu quyết thông qua với
424/425 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, gồm 8 chương, 54 điều. Theo
đánh giá của đông đảo các chuyên gia trong ngành, việc ban hành Luật sẽ góp
phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về an toàn thông tin mạng theo hướng bảo đảm
tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của các quy định trong lĩnh vực này; phát
huy các nguồn lực của đất nước để bảo đảm an toàn thông tin; tạo điều kiện
phát triển ổn định, bình đẳng cho các tổ chức, cá nhân đang hoạt động sản
xuất, kinh doanh tại Việt Nam; tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ
quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn thông tin mạng. Luật An toàn
thông tin mạng sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2016.
Tương tự, Dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) đã được Chính phủ
trình lên Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII và dự kiến
sẽ được Quốc hội biểu quyết thông qua trong năm 2016.
Tăng tốc ứng dụng CNTT
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ TT&TT đã chủ trì
xây dựng và trình Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ
thực hiện Nghị quyết số 36 ngày 01/7/2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng
dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Theo đó, trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường
xuyên, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương sẽ tổ chức triển khai thực hiện 8 nhiệm vụ
trọng tâm nhằm đạt được mục tiêu Nghị quyết số 36 đề ra, gồm: Đổi mới, nâng
cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ứng dụng, phát triển
CNTT; xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về ứng dụng, phát
triển CNTT; xây dựng hệ thống hạ tầng thông tin quốc gia đồng bộ, hiện đại;
ứng dụng CNTT rộng rãi, thiết thực, có hiệu quả cao; phát triển công nghiệp
CNTT, kinh tế tri thức; phát triển nguồn nhân lực CNTT đạt chuẩn quốc tế, đẩy
mạnh nghiên cứu, ứng dụng, tiếp thu, làm chủ và sáng tạo công nghệ mới; đẩy
mạnh ứng dụng CNTT trong quốc phòng, an ninh; bảo đảm an toàn, an ninh thông
tin, nâng cao năng lực quản lý các mạng viễn thông, truyền hình, Internet;
tăng cường hợp tác quốc tế.
Bên cạnh đó, ngày 26/10/2015, Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà
nước giai đoạn 2016-2020. Chương trình nhằm cung cấp các dịch vụ công cơ bản
trực tuyến mức độ 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh
nghiệp; Ứng dụng CNTT để giảm thời gian, số lần người dân, doanh nghiệp phải
đến trực tiếp cơ quan nhà nước thực hiện các thủ tục hành chính trong một
năm; giảm chi phí hoạt động.
Đồng thời, mục tiêu của chương trình là phát triển hạ tầng
kỹ thuật, các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng phát
triển Chính phủ điện tử, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin; tích hợp, kết
nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu trên quy mô quốc gia, tạo lập môi
trường chia sẻ thông tin qua mạng rộng khắp giữa các cơ quan trên cơ sở Khung
Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam.
Theo dự đoán, đà tăng trưởng của ngành TT&TT trong năm
2016 sẽ tiếp tục mạnh mẽ nhờ các chính sách mới có hiệu lực. Khả năng tiếp
cận công nghệ của người dân, nhất là người dân vùng sâu, vùng xa, hộ nghèo,
cận nghèo sẽ được cải thiện đáng kể nhờ những Chương trình như cung cấp dịch
vụ viễn thông công ích đến năm 2020. Nhờ Chương trình này, mọi người dân sẽ
được hỗ trợ sử dụng miễn giá cước các dịch vụ viễn thông khẩn cấp và dịch vụ
trợ giúp tra cứu số thuê bao điện thoại cố định; sử dụng dịch vụ truy nhập
Internet băng rộng tại các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng của
Chương trình theo giá cước dịch vụ viễn thông công ích. Hộ nghèo, hộ cận
nghèo theo quy định của Nhà nước được hỗ trợ sử dụng dịch vụ điện thoại cố
định hoặc dịch vụ thông tin di động mặt đất trả sau theo giá cước dịch vụ
viễn thông công ích nếu đã ký hợp đồng sử dụng dịch vụ với doanh nghiệp viễn
thông; ngoài ra, còn được hỗ trợ thu xem các chương trình truyền hình phục vụ
nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu qua hệ thống truyền hình
quảng bá công nghệ số.
Ngư dân trên tàu, thuyền đánh bắt hải sản trên biển được hỗ
trợ sử dụng miễn giá cước dịch vụ viễn thông di động hàng hải phục vụ hoạt
động tìm kiếm, cứu nạn trên biển qua hệ thống đài thông tin duyên hải; sử
dụng dịch vụ viễn thông di động hàng hải (điện thoại HF, VHF) qua hệ thống
đài thông tin duyên hải theo giá cước dịch vụ viễn thông công ích. Các trường
học, bệnh viện, UBND cấp xã được hỗ trợ sử dụng dịch vụ truy nhập Internet
băng rộng theo giá cước dịch vụ viễn thông công ích. Kinh phí dự kiến thực
hiện Chương trình là 11.000 tỷ đồng, được đảm bảo từ nguồn thu của Quỹ Dịch
vụ viễn thông công ích Việt Nam....
Theo
VietNamNet
|
Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015
Nhân dân mong muốn Đại hội VII chọn được cán bộ đủ tài, đức
Cập nhật lúc 19:00
Lắp điện nông thôn ở xã Ea Tul, huyện
Cư M’gar, Đắk Lắk. (Ảnh: Dương Giang/TTXVN)
Ngày 30/12, Ban
Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã có báo cáo tổng
hợp ý kiến, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và kết quả giải quyết của
các cơ quan chức năng trong năm 2015.
Theo đó, đại đa số các tầng lớp nhân dân tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; phấn khởi
trước kết quả, thành tựu kết quả kinh tế, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giữ
vững quốc phòng, an ninh.
Nhân dân đánh giá cao kết quả tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; kết quả Kỳ họp thứ 9, 10 của
Quốc hội khóa XIII; hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước,
đặc biệt là kết quả chuyến thăm chính thức các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung
Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; các hoạt động chào mừng 70 năm Cách
mạng Tháng 8 thành công và Quốc khánh 2/9.
Nhân dân đánh giá cao các hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên trong việc phối hợp với các bộ, ngành thực hiện giám sát trên
một số lĩnh vực kinh tế và xã hội bước đầu có những kết quả thiết thực.
Tuy nhiên, nhân dân vẫn còn nhiều tâm tư, lo lắng trước tình hình kinh tế
chưa thực sự bền vững, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh
tế còn thấp, nợ công tăng nhanh, chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động
còn thấp; cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước còn chậm, chưa đạt tiến độ đề ra.
Một số sản phẩm nông nghiệp giá thấp, tiêu thụ khó khăn; ô nhiễm môi trường
chưa được giải quyết tốt; an toàn vệ sinh thực phẩm chưa bảo đảm. Tai nạn
giao thông, tội phạm vẫn diễn ra phức tạp, gây tâm lý bất an trong nhân dân.
Tình hình cháy nổ ở nhiều nơi gây thiệt hại lớn về người và tài sản.
Thiên tai, mưa lũ gây ngập lụt ở nhiều địa phương; hiện tượng nước biển ngày
càng dâng cao và xâm nhập sâu vào đất liền, nhất là các tỉnh ven biển khu vực
Tây Nam bộ ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân.
Tình trạng tham nhũng, chạy chức, chạy quyền, suy thoái đạo đức, lối sống của
một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được đẩy lùi. Nhân dân bày tỏ bất bình
trước việc Trung Quốc tăng cường các hoạt động cải tạo, bồi đắp, xây dựng
trái pháp luật quốc tế các công trình tại các đảo chìm, bãi đá thuộc chủ
quyền của Việt Nam.
Nhân dân đặc biệt quan tâm đến việc chuẩn bị nhân sự của Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XII, mong muốn những người được bầu giữ các chức vụ chủ chốt
trong Đảng, chính quyền có đủ đức, đủ tài để xây dựng Đảng, Nhà nước ngày
càng trong sạch, vững mạnh; đồng thời, kiên quyết loại trừ những trường hợp
thoái hóa, biến chất, có biểu hiện tham nhũng, lợi ích nhóm tham gia vào bộ
máy lãnh đạo các cấp.
Việc đổi mới, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường còn chậm, thiếu đồng bộ,
Trong nhân dân có ý kiến băn khoăn về việc một số văn bản pháp luật cụ thể
hóa Hiến pháp năm 2013 và hướng dẫn thi hành Luật mới ban hành còn chậm.
Nhân dân mong muốn Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp
tục đề cao trách nhiệm giám sát, yêu cầu các bộ, ngành thực hiện nghiêm túc
việc giải quyết và trả lời ý kiến, kiến nghị của nhân dân, đề cao trách nhiệm
của người đứng đầu các bộ, ngành trong việc thực hiện trách nhiệm này.
Nhìn chung, tình hình tư tưởng, ý kiến của các tầng lớp nhân dân năm 2015 có
cả mặt tích cực, xen lẫn tâm lý băn khoăn, lo lắng, bức xúc. Trong đó, mặt
tích cực chiếm ưu thế chủ đạo; mặt tiêu cực chiếm số ít nhưng tiềm ẩn nhân tố
phức tạp, khó lường, dễ bị thế lực thù địch lôi kéo, kích động, chia rẽ khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước ta.
Chọn lựa được những cán bộ có đủ đức,
đủ tài
Sau khi Bộ Chính trị có Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2014 và các văn bản của
Trung ương hướng dẫn, chỉ đạo Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015-2020 tiến
tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, đại bộ phận nhân dân vui
mừng, phấn khởi, tin tưởng và kỳ vọng Đại hội XII của Đảng.
Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên
Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2010 - 2015, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng và các đại biểu bỏ phiếu bầu đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XII. Ảnh: Trọng Đức - TTXVN
Việc góp ý vào dự thảo Văn kiện Đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XII của Đảng được triển khai rộng rãi; việc chuẩn bị và tổ chức đại hội Đảng bộ các cấp được đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả, không chỉ coi trọng về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống mà còn coi trọng về trình độ năng lực thực tiễn, uy tín và khả năng đảm đương và hoàn thành nhiệm vụ được giao; có khả năng bảo đảm, tăng cường sự đoàn kết, phát huy dân chủ; có năng lực lãnh đạo, biết phát huy trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tuy nhiên, một bộ phận nhân dân còn băn khoăn, mong muốn việc tổ chức đại hội đảng các cấp phải coi trọng chất lượng, tiết kiệm, không phô trương, lãng phí. Nhân dân mong muốn Đảng lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, nhất là về công tác nhân sự, chọn được những cán bộ có đủ đức, tài giữ các chức vụ chủ chốt để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hóa về chính trị, tham nhũng, lợi ích nhóm để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Cần có biện pháp đồng bộ về nông nghiệp và sản xuất kinh doanh Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục được nhân dân cả nước quan tâm. Qua 4 năm thực hiện, chương trình đã đạt được những kết quả tích cực, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới, đời sống nhân dân ở nông thôn ngày càng được nâng cao. Tuy vậy, nhân dân ở nhiều nơi còn băn khoăn về việc huy động đóng góp của người dân trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vẫn còn cao, nhất là đối với các vùng mật độ dân cư thấp, địa bàn khó khăn; việc lựa chọn con giống, cây giống có năng suất, chất lượng phù hợp và có tính ổn định lâu dài với từng địa phương, cũng như việc thực hiện liên kết “4 nhà” triển khai chưa thực sự hiệu quả. Giá vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống người dân. Tình trạng giá lúa thấp, nguồn cung đã vượt cầu; việc thu mua tạm trữ chỉ là biện pháp tạm thời, chưa thật sự nâng được giá lúa. Trong khi đó, vẫn còn tình trạng ép giá, hủy hợp đồng thu mua lúa gây thiệt hại cho nông dân. Một số chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa thực sự đi vào cuộc sống; các giải pháp tiêu thụ sản phẩm nông sản còn hạn chế, tình trạng "được mùa mất giá, được giá mất mùa" do nông dân trồng theo phong trào (dưa hấu, hành tây, hành tím, vú sữa...), thiếu sự chỉ đạo, hướng dẫn sát sao từ các cơ quan chức năng. Nhân dân đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các Bộ, ngành liên quan có biện pháp đồng bộ khắc phục tình trạng trên. Nhân dân phản ánh việc giá xăng dầu đã giảm nhiều lần nhưng giá cước vận tải ở một số địa phương giảm chưa phù hợp. Giá vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống nhân dân. Giá bán điện, nước ngày càng cao, cách thức tính giá điện, biểu giá bán lẻ áp dụng cho người dân sử dụng điện sinh hoạt chưa hợp lý. Trên thị trường vẫn còn lưu thông nhiều loại hàng hóa như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả hoặc kém chất lượng, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc; hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại còn diễn biến phức tạp gây thiệt hại đến sản xuất, tiêu dùng, khó khăn cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Lo lắng trước tình trạng thực phẩm không rõ nguồn gốc Cử tri và nhân dân phấn khởi trước một số giải pháp đã triển khai thực hiện như: mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế hướng tới bảo hiểm toàn dân, đổi mới hệ thống y tế, đưa vào sử dụng nhiều cơ sở y tế và chuyển giao thành công nhiều kỹ thuật y tế tiên tiến cho tuyến dưới; ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ và kỹ thuật hiện đại vào điều trị và dự phòng; đẩy mạnh xã hội hóa cung cấp dịch vụ y tế... Tuy nhiên, nhân dân phản ánh vẫn còn tình trạng quá tải ở một số bệnh viện, nhất là khi xảy ra dịch bệnh. Một số nơi các dịch vụ khám chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế chưa tốt. Tình trạng cơ sở y tế không niêm yết giá thuốc, thuốc chữa bệnh chất lượng thấp, thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đủ tiêu chuẩn còn nhiều. Nhân dân lo lắng trước tình trạng một số loại thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm không an toàn hiện nay, như: trái cây, rau, củ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu kiểm soát. Trái cây, thực phẩm, đồ chơi... có xuất xứ từ Trung Quốc có chứa độc tố, không rõ nguồn gốc xuất hiện tràn lan. Việc sử dụng chất cấm trong chăn nuôi và sử dụng hóa chất cấm trong sản xuất, chế biến nông sản... ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Quan ngại về công tác giáo dục, giải quyết việc làm Nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm và đánh giá kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2015 đã thể hiện tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cũng như sự “vào cuộc” quyết liệt của ngành giáo dục và các địa phương để tổ chức thành công kỳ thi “hai trong một” đầu tiên này. Tuy nhiên, việc xét tuyển đại học, cao đẳng với thời gian quá dài, một thí sinh được đăng ký, thay đổi nhiều nguyện vọng dẫn đến khó khăn cho nhiều trường đại học, tạo tâm lý lo lắng, bất an cho thí sinh và phụ huynh trong việc nộp, rút hồ sơ đăng ký nguyện vọng, chuyển trường; một số trường còn lúng túng trong việc xét tuyển đại học. Việc đổi mới sách giáo khoa, phương án dạy tích hợp các môn học bậc phổ thông. Tình trạng dạy thêm, học thêm ở các cấp học, đặc biệt là ở bậc tiểu học vẫn còn diễn ra khá phổ biến, nhất là ở các đô thị, thành phố lớn. Tình trạng lạm thu trong các cơ sở giáo dục công lập dưới hình thức “đóng góp tự nguyện” của hội cha mẹ học sinh để xây dựng nhà trường; hiện tượng bạo lực học đường thời gian gần đây ở một số trường học rất đáng lo ngại. Nhân dân băn khoăn về biểu hiện chạy theo thành tích trong giáo dục, coi trọng cung cấp kiến thức hơn giáo dục nhân cách cho học sinh. Nhân dân cũng bày tỏ lo ngại về tình trạng giải quyết việc làm cho lao động, nhất là thanh niên. Vẫn còn một bộ phận sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng chưa có việc làm gây lãng phí nguồn nhân lực của nhân dân, Nhà nước và xã hội. Nhân dân đồng tình với chủ trương của Đảng việc quy hoạch, di dời một số khu dân cư để phục vụ việc xây dựng các công trình phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, các địa phương vùng quy hoạch di dời, giải tỏa được chuyển tới khu vực tái định cư băn khoăn, lo lắng đến nơi ở mới, đời sống, việc làm, các hộ nông dân thiếu đất sản xuất và lúng túng trong việc đổi nghề. Giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường Tình trạng ô nhiễm môi trường ở trong cộng đồng dân cư đang là vấn đề nóng, gây bức xúc trong dân ở nhiều địa phương. Thực trạng nước thải từ các nhà máy, xí nghiệp, chuồng trại chăn nuôi, rác thải sinh hoạt, nước thải chăn nuôi chưa qua xử lý thải trực tiếp ra nguồn nước, gây ô nhiễm môi trường đã nhiều năm chưa được giải quyết triệt để ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe đời sống, tình hình sản xuất của nhân dân. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân còn nhiều bất cập, việc đền bù giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn, trong đó, có nguyên nhân chính sách đền bù còn thấp hơn nhiều so với thị trường, giá đất tái định cư cao và chưa thống nhất giữa các khu vực dự án. Nhà nước cần có chủ trương mạnh mẽ thu hồi đất của các dự án treo, những dự án thực hiện không khả thi hoặc các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, để hoang hóa, lãng phí đất đai, gây bức xúc trong nhân dân. Tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép vẫn diễn ra phức tạp ở một số địa phương, các đơn vị được giao quản lý bảo vệ rừng thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý vẫn để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất lâm nghiệp phá rừng bừa bãi gây bức xúc trong nhân dân. Các hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác đá, sỏi, cát trái phép vẫn còn xảy ra, gây ô nhiễm môi trường, nắn dòng chảy và tiềm ẩn mất an toàn của người dân địa phương. Tiếp tục các giải pháp bảo đảm an ninh trật tự, an toàn giao thông Nhân dân còn bức xúc trước tình trạng xe quá khổ, quá tải tiếp tục vi phạm làm nhiều đoạn đường xuống cấp rất nhanh, gây tai nạn và ách tắc giao thông; tình trạng bảo kê xe "vua" vẫn hoạt động thường xuyên ở một số tỉnh khu vực phía Nam. Nhân dân rất bức xúc trước tình trạng ùn tắc giao thông ở một số tuyến phố trọng điểm của thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh thời gian gần đây diễn ra thường xuyên; việc lấn chiếm lòng đường, vỉa hè để bán hàng đang diễn ra ở khắp các tuyến phố trong thành phố. Nhân dân lo lắng trước tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng như: trộm cắp, cướp giật, lừa đảo chiếm đoạt tài sản... nhiều vụ trọng án xảy ra liên tiếp ở nhiều địa phương, như Bình Phước, Yên Bái, Nghệ An, Nghệ An, Lào Cai... khiến cho nhân dân hoang mang, lo lắng. Tình trạng cháy nổ gây thiệt hại ở một số địa phương, các khu nhà chung cư; công tác an toàn cháy, nổ ở các khu vực công cộng và việc thực hiện các quy định về an toàn phòng cháy, chữa cháy. Nhân dân một số địa phương bức xúc trước tình trạng giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo của người dân chưa triệt để, còn tồn tại nhiều vụ việc kéo dài gây khó khăn cho các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp; việc cấp, đổi, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay quá chậm, tồn đọng nhiều; thủ tục thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền còn nhiều thủ tục, mất thời gian, gây phiền hà cho người dân. Nhân dân chưa đồng tình với việc xét xử một số vụ tham nhũng còn nhẹ, chưa kịp thời, việc thu hồi tài sản sau khi phát hiện sai phạm ở mức thấp, kê khai, công khai, thu nhập còn hình thức, tình trạng tham nhũng "vặt" trong khu vực công vẫn tiếp diễn.
PHÚC HẰNG
(TTXVN/VIETNAM+)
|
Để có 1 đồng lợi nhuận, doanh
nghiệp phải chi 0,72 đồng bôi trơn
Cập
nhật lúc 17:32
Hội thảo “Công
bố báo cáo khảo sát hiện trạng thực hành liêm chính trong kinh doanh và nhu
cầu hỗ trợ xây dựng năng lực của doanh nghiệp” do VCCI tổ chức sáng 29.12 tại
Hà Nội. Ảnh: Khánh Linh
Khảo sát của Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) về hiện trạng thực hành liêm chính trong hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp cho thấy dù 55% doanh nghiệp hiểu về liêm chính,
minh bạch trong kinh doanh nhưng chỉ có 29%... thực hiện.
55% biết, chỉ
29% doanh nghiệp triển khai
Theo ông Trịnh
Minh Anh - Phó Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành Hội nhập Quốc tế về
kinh tế, liêm chính, minh bạch trong kinh doanh là vấn đề “nhạy cảm” khi từ
trước tới giờ Việt Nam thường “bám” theo cơ chế xin - cho, kế hoạch hóa tập
trung và có sự phân biệt đối xử giữa DN nhà nước và DN tư nhân. Khảo sát trên
được thực hiện tại Hà Nội, Đà Nẵng và TPHCM, bao gồm 180 DN trong nước và
nước ngoài hoạt động trong các lĩnh vực chế biến lương thực và thực phẩm, da
giày, dệt may, ngành công nghiệp lắp ráp, điện - điện tử, ngân hàng.
Theo đó, 55%
số DN nhận thức đầy đủ và hiểu đúng về liêm chính trong kinh doanh nhằm tạo
ra rào cản đối với nạn tham nhũng, hối lộ; 92,78% hiểu đúng khái niệm về minh
bạch và 93,82% nhận thức rõ về bộ quy tắc ứng xử trong kinh doanh. Tuy nhiên
sự hiểu biết của các DN trong từng ngành lại có sự chênh lệch, chưa đồng đều.
Điều đáng buồn
là mới chỉ có 29% số DN có triển khai các chính sách về liêm chính. Chỉ riêng
lĩnh vực ngân hàng, tỉ lệ này chiếm tới 80% nhờ việc áp dụng biện pháp kiểm
soát gian lận khá bài bản và quy mô. Ngoài ra, các quy định khác vốn được dư
luận quan tâm thời gian qua như quy định về tặng và nhận quà, khiếu nại, tố
cáo và đường dây nóng… vẫn chưa được nhiều DN thực hiện, khi mới chỉ có 26%
số DN chấp hành.
Muốn “trong
sạch” nhưng vẫn phải đi “cửa sau
Theo bà Trần
Thị Kim Thu - chuyên gia thống kê, Cty tư vấn quản lý OCD, nguyên nhân khiến
các DN Việt Nam chưa thực hiện và thực hiện chưa thành công chương trình liêm
chính so với các Cty đa quốc gia là do chưa có đủ khả năng kiểm soát hết các
quy định về hoạt động của DN. Ngoài ra, các DN đều thiếu nhân lực, khó khăn
trong việc xác định giá trị cốt lõi và nếu có triển khai, việc phổ biến, đào
tạo thường xuyên cũng còn hạn chế, chưa có sự đồng thuận cao trong DN. Theo
ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Tổng thư ký VCCI - dù nhận thức đầy đủ, các DN
Việt thực tế vẫn phải đi “cửa sau” để thuận lợi trong kinh doanh.
Chuyên gia
kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, rào cản lớn đối với các DN trong việc thực
hành liêm chính là tổng thuế và phí vốn chiếm tới 40,8% tổng lợi nhuận của
DN. Chưa kể, tiền mà DN phải chi cho bôi trơn, tham nhũng chiếm tới 0,72 -
1,02% lợi nhuận. “Điều này có nghĩa là DN làm ra 1 đồng lợi nhuận họ phải
đóng ít nhất 0,72 đồng, thậm chí là cao hơn lợi nhuận 0,2 đồng cho phí bôi
trơn. Nếu so với mức thuế DN bình quân tại các nước ASEAN là 17%, DN Việt
đang phải đóng thuế cao gấp đôi! Như vậy làm sao có thể đầu tư phát triển
được, bởi lợi nhuận còn lại quá ít” - bà Lan trăn trở.
Theo đó, bà
Lan đề xuất, trong năm 2016 Chính phủ cần tập trung cắt giảm tất cả những
khoản thu bất hợp lý để cho DN có nguồn lực tái đầu tư, từ đó đổi mới công
nghệ, quản lý và đào tạo lao động chất lượng cao. “Chắc chắn trong năm 2016,
DN sẽ gặp rất nhiều thách thức, vì sức ép cạnh tranh tăng lên. Nếu vượt qua
được thách thức trong vòng 2-3 năm tới, DN mới có “cơ” để đứng vững phát
triển được lâu dài” - bà Chi Lan dự báo.
(Theo Lao động) Khánh Linh, Trà Giang
|
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)