Thứ Ba, 5 tháng 5, 2020

Biển Đông: Công hàm Phạm Văn Đồng dưới ánh sáng luật quốc tế

Cập nhật lúc 16:29                                  

Nguyên tắc của luật pháp quốc tế là không được phép suy diễn một cách chủ quan, mà phải tìm ý định thực sự của người viết và ký văn kiện trong phạm vi những câu chữ được dùng trong văn kiện.

Trong kỳ 1 với tựa đề “Hiểu đúng ý nghĩa công hàm Phạm Văn Đồng”, PGS-TS Vũ Thanh Ca, nguyên Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, đã lý giải hoàn cảnh ra đời và nội dung của hai văn kiện: (i) Tuyên bố về lãnh hải từ phía Trung Quốc (TQ); (ii) Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 liên quan Biển Đông.
Qua đó, PGS-TS Vũ Thanh Ca khẳng định: “Bản chất công hàm Phạm Văn Đồng (CHPVĐ) là một văn kiện ngoại giao đơn phương với mục đích rất đơn giản: Thể hiện sự đoàn kết với TQ chống lại Mỹ và các nước thuộc phe tư bản chủ nghĩa”.
Tính pháp lý của công hàm
. Phóng viên: Liên quan đến CHPVĐ (tên gọi được đăng trên báo Nhân Dân ngày 22/9/1958), luật pháp quốc tế quy định như thế nào về tính pháp lý của văn kiện ngoại giao?
+ PGS-TS Vũ Thanh Ca: Giá trị pháp lý của CHPVĐ không phụ thuộc vào việc gọi văn kiện này là công hàm hay công thư. Một nguyên tắc của luật pháp quốc tế là khi xem xét một văn kiện được ký kết, cần phải tìm hiểu ý định thực sự của người ký văn bản trong phạm vi các câu chữ của văn kiện. Đây chính là các nguyên tắc “trong bốn góc” và “cái đặc thù làm chủ cái tổng quát”.
Theo nguyên tắc này, không được phép suy diễn một cách chủ quan, mà phải tìm ý định thực sự của người viết và ký văn kiện trong phạm vi những câu chữ được dùng trong văn kiện (trong bốn góc của các trang giấy chứa văn kiện).
. Quy định đó áp dụng giải thích CHPVĐ như thế nào?
+ Có thể thấy CHPVĐ gồm hai đoạn, trong đó đoạn thứ nhất chỉ nói về việc ghi nhận và tán thành quyết định về hải phận của TQ. Cụ thể: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4-9-1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của TQ”.
Trong đoạn thứ hai, văn kiện đã làm rõ hơn. Cụ thể: “Triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”. Như vậy, cái đặc thù “12 hải lý trên mặt bể” đã làm rất rõ CHPVĐ chỉ nói về hải phận 12 hải lý của TQ chứ không nói vấn đề khác.
Dựa vào nội dung và bối cảnh ra đời (mà tôi đã phân tích trong kỳ 1 của loạt bài này), CHPVĐ đơn giản là một văn kiện ngoại giao đơn phương với từ ngữ rất khéo léo. Mục đích là để thể hiện sự ủng hộ của Chính phủ VNDCCH đối với tuyên bố về hải phận 12 hải lý của TQ nhưng tuyệt nhiên không thể hiện sự công nhận của phía Việt Nam đối với chủ quyền của TQ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhiều học giả, luật sư về công pháp quốc tế trong và ngoài nước đồng ý với luận điểm này.


Hội nghị San Francisco đã chính thức công nhận việc QGVN khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như thu hồi hai quần đảo này từ Nhật Bản. Trong ảnh: Thủ tướng Nhật Bản Yoshida Shigeru ký hòa ước San Francisco ngày 8-9-1951. Ảnh: GETTY

Việt Nam thực thi chủ quyền liên tục...
. Dù CHPVĐ không thừa nhận chủ quyền của TQ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng lại không phản đối tuyên bố chủ quyền của TQ. Điều này có gây khó khăn cho việc khẳng định quá trình thực thi chủ quyền liên tục của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hay không?
+ Tôi khẳng định là hoàn toàn không! Ngày 2-9-1945, nước VNDCCH được thành lập, là một nhà nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và tuyên bố chủ quyền trên toàn lãnh thổ Việt Nam (bao gồm Trường Sa, Hoàng Sa).
Ngày 6/3/1946, Chính phủ VNDCCH ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946. Theo đó, VNDCCH là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương, nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Tuy nhiên, sau đó Pháp chủ trương không thực hiện một số thỏa thuận trong Hiệp định sơ bộ và Tạm ước Việt Pháp, trái lại còn cố ý gây chiến để tái xác lập chế độ thực dân trên lãnh thổ Việt Nam. Chiến tranh giữa hai bên xảy ra vào cuối năm 1946 và kéo dài tới giữa năm 1954.
Căn cứ vào Hiệp định sơ bộ, vì VNDCCH nằm trong khối Liên hiệp Pháp, trong thời gian từ cuối năm 1946 tới đầu 1947, Pháp đã thực thi quyền đại diện để bảo vệ chủ quyền của VNDCCH tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ cuối năm 1946, Pháp đã chủ trương thành lập một chính phủ khác trên đất Việt Nam để đối trọng VNDCCH. Ngày 5/6/1948, Hiệp ước vịnh Hạ Long được ký kết và ngày 8/3/1949, với sự ký kết Hiệp định Élysée, Quốc gia Việt Nam (QGVN), một quốc gia độc lập thuộc Liên hiệp Pháp, được thành lập. Đến đầu năm 1950 đã có 35 quốc gia công nhận QGVN.
Pháp đã chính thức trao quyền quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cho QGVN. Tháng 4/1949, hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc, Bộ trưởng Bộ Nội vụ QGVN, tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 10/1950, việc quản lý Hoàng Sa và Trường Sa được Pháp chính thức bàn giao cho QGVN.
Năm 1949, Pháp đã gửi đơn xin đăng ký các trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Tổ chức Khí tượng Thế giới và đã được chấp nhận. Các trạm khí tượng này là trạm Phú Lâm với số hiệu 48859; trạm Hoàng Sa với số hiệu 48860; trạm Ba Bình với số hiệu 48419.
… Và được thế giới công nhận
. Việc khẳng định chủ quyền ở Trường Sa, Hoàng Sa của QGVN được thế giới công nhận như thế nào, thưa ông?
+ Năm 1951, QGVN đã được mời tham dự Hội nghị San Francisco về chấm dứt chiến tranh tại châu Á - Thái Bình Dương và lập quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Hội nghị có 51 nước tham gia. Tại hội nghị, đại diện Liên Xô là ông Andrei Gromyko đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho TQ. Đề nghị này đã bị hội nghị bác bỏ với 46 phiếu chống, ba phiếu thuận.
Tại hội nghị, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao QGVN Trần Văn Hữu tuyên bố: “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
Tuyên bố này của Thủ tướng Trần Văn Hữu không bị quốc gia nào phản đối hay bảo lưu. Như vậy, Hội nghị San Francisco coi như đã chính thức công nhận việc QGVN khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cũng như thu hồi hai quần đảo này từ Nhật Bản.
. Phía TQ giai đoạn đó có lên tiếng phản đối tuyên bố của QGVN không?
+ Trong hòa ước giữa Trung Hoa Dân Quốc (THDQ) và Nhật Bản ngày 28/4/1952, THDQ ghi nhận việc Nhật Bản từ bỏ mọi quyền đối với hai quần đảo như nội dung đã được ghi trong văn kiện Hội nghị San Francisco nhưng không yêu cầu Nhật Bản giao lại hai quần đảo này. Việc này là bằng chứng góp phần cho thấy phía TQ đã gián tiếp thừa nhận tuyên bố chủ quyền của QGVN đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa tại Hội nghị San Francisco.
Như vậy, trong thời gian từ năm 1945 tới 1954, trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam có hai chính phủ của Việt Nam và hai chính phủ này đều có chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. VNDCCH là một thành viên thuộc khối Liên hiệp Pháp, được Pháp đại diện để thực thi chủ quyền; QGVN cũng là một thành viên thuộc khối Liên hiệp Pháp, được Pháp chuyển giao chủ quyền và đã khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo.
Tuyên bố của QGVN tại Hội nghị San Francisco không có nước nào phản đối và bảo lưu. Đó là bằng chứng cho thấy Việt Nam đã khẳng định chủ quyền rõ ràng và minh bạch và đã tiếp nhận hai quần đảo này từ Nhật Bản. Việc Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền một cách liên tục từ giai đoạn 1954-1975 và cả giai đoạn sau đó.
. Xin cám ơn ông.
Giá trị công hàm phải đặt trong bối cảnh cụ thể
Công thư (công hàm - BTV) của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là văn bản ngoại giao, nó có giá trị pháp lý về những vấn đề được nêu trong nội dung, đó là Việt Nam tôn trọng 12 hải lý mà TQ tuyên bố. Công thư không đề cập chủ quyền lãnh thổ, vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa nên đương nhiên nó không có giá trị pháp lý trong vấn đề chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa.
Thứ hai, giá trị công thư cũng phải đặt trong bối cảnh cụ thể. Công thư gửi cho TQ trong bối cảnh Hoàng Sa, Trường Sa đang thuộc quyền quản lý của Việt Nam Cộng hòa theo Hiệp định Genève 1954 mà TQ có tham gia. Do đó, tôi xin nói logic thông thường là bạn không thể cho người khác cái gì khi bạn chưa có được.
Ông TRẦN DUY HẢI, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới
quốc gia, phát biểu trong cuộc họp báo quốc tế chiều 23/5/2014 (Theo
 TTO)
 
__________________________
(Theo PLO) ĐỖ THIỆN thực hiện
 PHIÊN GIÁM ĐỐC THẨM TỬ TÙ HỒ DUY HẢI: 
Luật sư gửi gì đến Hội đồng thẩm phán? 

  
Cập nhật lúc 16:16                                  

Luật sư hỗ trợ pháp lý cho tử tù Hồ Duy Hải vừa gửi đến Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao các chứng cứ mới bác bỏ nhiều điều cáo trạng quy kết.

Theo kế hoạch từ ngày 6 đến 8-5, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao sẽ mở phiên xử giám đốc thẩm xem xét vụ án Hồ Duy Hải - 34 tuổi, bị tuyên tử hình về tội "Giết người" và "Cướp tài sản". Vụ án 2 nữ nhân viên Bưu điện Cầu Voi (huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An) bị sát hại đến nay kéo dài hơn 12 năm và đó cũng là thời gian tử tù Hồ Duy Hải và gia đình "chết đi, sống lại" nhiều lần.

Dấu vân tay cùng con dao... "lên tiếng"

Luật sư Trần Hồng Phong (Đoàn Luật sư TP HCM) - người tham gia hỗ trợ pháp lý cho Hồ Duy Hải - nói ngay từ phiên tòa sơ thẩm, Hải đã kêu oan, không thừa nhận mình là người đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng quy kết. "Chính vì lẽ đó, mong mỏi của tôi không gì khác hơn là bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật. Đặc biệt là khi Hải đã bị kết án tử hình và có thể bị chết oan, không sao có thể khắc phục hay sửa chữa được nữa. Từ đó, thôi thúc tôi đi khắp nơi để tìm nhân chứng, kêu oan thay cho Hải. Thương xót nhất là người mẹ, chân đã mỏi, mắt đã mờ và không thể chảy nước mắt được vì đã cạn dòng" - luật sư Phong nói lý do kiên trì tham gia hỗ trợ pháp lý cho Hồ Duy Hải.

Theo ông, cách đây ít hôm, ông đã gửi đơn để cung cấp chứng cứ mới đến Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, qua đó phản bác nhiều điều cáo trạng đã quy kết. Cụ thể, kết luận giám định có nêu: "Các dấu vân tay thu giữ tại hiện trường vụ án không trùng khớp với 10 ngón tay của Hồ Duy Hải". Thế nhưng, thông tin này đã bị rút khỏi hồ sơ vụ án. Chưa hết, tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện VKSND tỉnh Long An đã nói dối khi nói rằng "dấu vân tay không giám định được". Mâu thuẫn như vậy nhưng vẫn tuyên án là điều oan ức.

Hồ Duy Hải cùng bà ngoại khi vụ án mạng ở Bưu điện Cầu Voi chưa xảy ra. 
(Ảnh do gia đình Hồ Duy Hải cung cấp)

Chứng cứ ngoại phạm thứ hai được đưa ra chính là việc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Long An kết luận Hồ Duy Hải đã dùng dao cắt cổ 2 nạn nhân nhưng thực tế không thu được tang vật nào như vậy. Đáng nói, sau khi bắt giam Hồ Duy Hải, Cơ quan CSĐT lại cử người ra chợ mua một con dao và dùng để làm chứng cứ buộc tội. Như vậy, theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự, đây không phải là tang vật.

Nhân chứng cũng ngỡ ngàng

Cũng theo luật sư Trần Hồng Phong, bản cáo trạng viết: "Nhân chứng Đinh Vũ Thường phát hiện thấy Hồ Duy Hải ngồi trong bưu điện tại thời điểm gây án". Với tình tiết này, cho thấy đây là nhân chứng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác định hung thủ là ai. Thế nhưng khi xét xử, tòa đã không triệu tập nhân chứng này tham gia phiên tòa. Trong khi đó, trong biên bản ghi lời khai, nhân chứng Thường chỉ khai "nhìn thấy một thanh niên và không thể nhận diện được". "Việc anh Đinh Vũ Thường không nhìn thấy Hồ Duy Hải, được gia đình Hải trình bày trong rất nhiều đơn cầu cứu. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên công bố và gửi chứng cứ" - luật sư Trần Hồng Phong nhấn mạnh.
Theo luật sư Phong, để có được thông tin quý giá trên, nhiều năm liền ông đã đi khắp nơi xác minh thông tin. Ông đã tiếp cận anh Đinh Vũ Thường tại TP HCM. "Tại cuộc gặp, anh Thường cho biết mình không hề được tòa án triệu tập tham dự phiên tòa. Đặc biệt, anh Thường khẳng định mình không nhìn thấy Hồ Duy Hải tại Bưu điện Cầu Voi. Anh Thường nêu câu hỏi: "Tôi không hề quen biết Hồ Duy Hải, cũng không thể nhận dạng thì làm sao có thể nhận ra đó là Hồ Duy Hải?" - ông Phong kể. Ngoài ra, theo ông Phong, khi ông đưa cho anh Thường xem cáo trạng và bản án, anh đã rất bất ngờ và khẳng định: Việc cáo trạng nói anh nhìn thấy Hồ Duy Hải là bịa đặt, không có thật.

Theo luật sư Trần Hồng Phong, tại thời điểm xảy ra vụ án, Nguyễn Văn Nghị là người yêu của 1 trong 2 nạn nhân. Trong đêm xảy ra vụ án, Nguyễn Văn Nghị có ghé vào Bưu điện Cầu Voi và đã bỏ trốn sau khi vụ án xảy ra. Cơ quan CSĐT đã từng tạm giữ và lấy lời khai của Nguyễn Văn Nghị. Như vậy, Nguyễn Văn Nghị là một nhân chứng và thậm chí có thể là một nghi can. Thế nhưng sau đó, toàn bộ thông tin về Nguyễn Văn Nghị đã bị rút khỏi hồ sơ vụ án một cách rất bất thường.

"Chúng tôi đã chuẩn bị mọi tài liệu để trình lên hội đồng thẩm phán lần này" - luật sư Trần Hồng Phong khẳng định.  

Diễn biến vụ án
Sáng 14-1-2008, người dân phát hiện 2 nữ nhân viên của Bưu điện Cầu Voi (tỉnh Long An) bị sát hại tại nơi làm việc.
Trong vòng 1 tuần sau khi xảy ra vụ án mạng, nhiều thanh niên trong khu vực hoặc có quan hệ tình cảm, quen biết với 2 nạn nhân đã được Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Long An thẩm tra xét hỏi. Trong số đó, có một nghi can tên là Nguyễn Văn Nghị, là bạn trai của 1 trong 2 nạn nhân. Hai tháng sau đó, Hồ Duy Hải bị bắt và bị kết luận là hung thủ. Sau đó, cả 2 phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm đều tuyên án tử hình đối với Hồ Duy Hải về tội "Giết người", "Cướp tài sản".
Ngày 24-10-2011, viện trưởng VKSND Tối cao ban hành quyết định không kháng nghị vụ án, TAND tỉnh Long An cho biết sẽ tổ chức thi hành án. Ngày 4-12-2014, Văn phòng Chủ tịch nước thông báo đã nhận được đơn kêu oan của mẹ Hồ Duy Hải, yêu cầu tạm dừng thi hành án. Ngày 22-11-2019, VKSND Tối cao kháng nghị giám đốc thẩm vụ án để điều tra lại.

Chỉ có nước mắt làm bạn trên mọi nẻo đường!
Cho đến thời điểm hiện tại, bà Nguyễn Thị Loan (mẹ Hồ Duy Hải) không bao giờ quên ngày bà đang chăm mẹ tại nhà thì nhận được tin công an mời con bà lên làm việc, chiều sẽ thả về. Bà băng ruộng, lội đồng lên chờ trước cổng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Long An để rước con. Để rồi, bà lại được thông báo con bà vài ngày tới mới được về. Vậy mà sau đó, công an đến khám xét nhà và tại đây theo bà công an đã "mượn đỡ" bộ trang sức của con gái bà. "Đến năm 2009, khi gia đình tôi phản ứng quá thì công an mới gọi lên trả lại vàng đã "mượn đỡ" của con gái tôi. Tuy nhiên, điều tra viên nói rằng đã làm mất giấy tờ chứng minh là vàng gia đình bà mua ở tiệm. Tôi đi đâu kêu oan cho con tôi cũng photocopy tờ giấy trả lại 4 chiếc cà rá (nhẫn) mà công an đã lấy trước đó" - bà Loan nghẹn ngào nói.
Sau phiên tòa sơ thẩm, Hồ Duy Hải bị tuyên tử hình. Bà Loan nói bà trông chờ công lý sẽ đến với con bà nhưng bản án phúc thẩm của TAND Tối cao tại TP HCM đã bác kháng cáo, tuyên y án tử hình. Kể từ đó, bà Loan và chị ruột của mình đã thay phiên nhau đi Hà Nội gửi đơn cầu cứu. Bà kể bà đi xuyên suốt, cứ có tiền là đi. Có tháng đi một lần, có tháng đi nhiều lần; có tiền nhiều thì bà đi máy bay, hết tiền bà đi tàu lửa, cạn tiền bà đi xe buýt ra ga Sài Gòn mua ghế cứng ngồi ra đến Hà Nội. Để có tiền trang trải, ăn uống cho hành trình kêu oan, bà phải bán đất, bán nhà và vay mượn khắp nơi.
Ròng rã 12 năm trời, bà nuôi hy vọng, lùng sục địa chỉ làm việc, nhà ở của chánh án TAND Tối cao để mong được gặp, được đưa trực tiếp lá đơn đẫm mồ hôi, nước mắt với cả tấm lòng một người mẹ. Người mẹ này nói niềm tin, sự động viên của họ hàng, lối xóm là sức mạnh vô hình giúp bà đi khắp nơi gửi đơn cầu cứu. Nói về hành trình đi tìm công lý, bà tự hỏi rằng có người mẹ nào chịu nhiều đau khổ như bà, có đứa con nào chịu nhiều đau đớn, giày vò về thể xác và tinh thần như Hồ Duy Hải? "Một người mẹ gầy còm đội trên 2.000 bộ đơn đi từ Nam ra Bắc để cầu cứu cho con nhưng không được giải quyết. Tôi đi với một tâm trạng rất nặng nề, tâm hồn sầu não chỉ có nước mắt làm bạn với tôi trên mọi nẻo đường, chẳng biết khóc cùng ai. Lặng lẽ mình đi với một tâm trạng không giống ai vì hai chữ công lý" - bà Loan chực khóc khi trò chuyện với chúng tôi.
Bà kể lần đầu đi trại giam thăm con, cán bộ dặn dò bà không được khóc khi nói chuyện với Hồ Duy Hải. Mỗi tháng bà đi trại giam thăm con một lần nhưng không được nói những vấn đề liên quan đến vụ án dù chỉ một lần. Bà Loan nói: "Nhìn con hốc hác, ốm o mà lòng tôi tan nát nhưng vẫn nén dạ, dặn mình phải mạnh mẽ, phải không được khóc vì con".
"Tôi rất mừng khi ngành tòa án đã lên kế hoạch cho phiên giám đốc thẩm. Tôi có một niềm tin mãnh liệt, bằng trái tim của một người mẹ, tôi tin con tôi bị oan. Tôi có một khát vọng tột cùng đó là tòa án phải trả tự do cho con tôi. Đến nay đã 12 năm, cán cân công lý phải trở về đúng vị trí của nó, lẽ phải và công bằng phải được thực thi" - bà Loan chia sẻ.
Phạm Dũng
 Theo Người Lao Động  

Reuters: Báo cáo nội bộ cảnh báo tâm lý chống Trung Quốc đang gia tăng toàn cầu

Cập nhật lúc 14:49    

Nguồn tin độc quyền của Reuters cho biết một báo cáo nội bộ trình lên cấp lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc cảnh báo việc dư luận chống nước này trên toàn thế giới đang tăng mạnh sau đại dịch COVID-19.


 Một phụ nữ đeo khẩu trang đi qua con phố ở thành phố Thượng Hải, Trung Quốc, cạnh đó có hình ảnh nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình được phóng in trang trọng trên một bức tường - Ảnh: REUTERS


Theo Hãng tin Reuters, báo cáo được cho của Viện Quan hệ quốc tế đương đạiTrung Quốc (CICIR) cảnh báo Bắc Kinh đang đối mặt với làn sóng thù địch gia tăng từ bên ngoài sau đại dịch COVID-19 và có thể đẩy quan hệ Mỹ - Trung tới tình huống xung đột quân sự.
Nguồn tin của Reuters cho biết báo cáo nội bộ này đã được Bộ Công an Trung Quốc nộp lên các nhà lãnh đạo cấp cao nhất, trong đó có Tổng bí thư, Chủ tịch Tập Cận Bình.
Báo cáo kết luận dư luận chống Trung Quốc trên toàn cầu đang tăng lên mức cao nhất kể từ sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, theo các nguồn tin của Reuters.
Theo đó, Bắc Kinh đang đối mặt với làn sóng phản đối do Mỹ dẫn đầu kể từ sau đại dịch và cần được chuẩn bị cho tình huống xấu nhất là có thể xảy ra xung đột quân sự giữa hai nước.
Do tính chất nhạy cảm của vấn đề, Reuters không nêu danh tính các nguồn tin.
Theo Reuters, báo cáo nội bộ này do CICIR soạn. Đây là một tổ chức nghiên cứu có quan hệ mật thiết với Bộ An ninh quốc gia (gọi tắt Bộ Quốc an) của Trung Quốc.
Reuters thừa nhận họ chưa được xem tận mắt bản báo cáo, nhưng cho biết nội dung của nó do những người đã nắm trực tiếp các thông tin từ đó cung cấp.
"Tôi không có thông tin liên quan (về vấn đề này - PV)", văn phòng của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc trả lời yêu cầu phản hồi thông tin về báo cáo nói trên của Hãng tin Reuters.
Bộ An ninh quốc gia Trung Quốc không cung cấp thông tin liên lạc công khai và Reuters không thể liên hệ để yêu cầu phản hồi thông tin.
CICIR, một tổ chức nghiên cứu thuộc quản lý của Bộ An ninh quốc gia Trung Quốc, thành lập năm 1965, là một trong những viện nghiên cứu dân sự về các vấn đề quốc tế lớn nhất, lâu đời và có tầm ảnh hưởng nhất tại Trung Quốc.
Theo Reuters, đây cũng là tổ chức cố vấn cho Chính phủ Trung Quốc về các chính sách an ninh và đối ngoại. Tổ chức này hiện chưa phản hồi Reuters về những nội dung báo cáo nội bộ.
(Theo Tuổi trẻ) D. KIM THOA
Đột phá: Israel phân lập thành công kháng thể virus SARS-CoV-2
Cập nhật lúc 14:44    

Bộ trưởng Quốc phòng Israel Naftali Bennett cho biết "kháng thể đơn dòng" do Viện nghiên cứu sinh học Israel phát triển có thể tiêu diệt virus gây bệnh COVID-19 trong cơ thể người nhiễm.


Nhân viên y tế Israel thu thập mẫu để xét nghiệm COVID-19 tại thành phố Tel Aviv ngày 6/4/2020. (Nguồn: THX/TTXVN)

Các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu sinh học Israel (IIBR) đã phân lập thành công một kháng thể đặc biệt hiệu quả trong việc ngăn chặn virus SARS-CoV-2 gây bệnh viêm đường hô hấp cấp COVID-19.

Trong một tuyên bố ngày 4/5 sau khi thăm IIBR, Bộ trưởng Quốc phòng Israel Naftali Bennett cho biết "kháng thể đơn dòng" do IIBR phát triển có thể tiêu diệt virus gây bệnh COVID-19 trong cơ thể người nhiễm.

Ông Bennett nhấn mạnh đây là "một đột phá quan trọng tiến tới tìm ra cách chữa trị bệnh COVID-19.

Theo Giám đốc IIBR Shmuel Shapira, công thức kháng thể nêu trên đang trong quá trình được cấp bằng sáng chế, sau đó một hãng dược phẩm quốc tế sẽ sản xuất đại trà.

IIBR dẫn đầu các nỗ lực của Israel phát triển phương pháp điều trị và bào chế vắcxin phòng virus SARS-CoV-2, trong đó bao gồm xét nghiệm máu từ những người đã bình phục sau khi mắc COVID-19.

Các kháng thể lấy từ các mẫu máu này là những protein trong hệ miễn dịch còn lại sau khi cơ thể đã chống chọi thành công với virus SARS-CoV-2.

Các kháng thể này được xem là một chìa khóa giúp mở ra hướng điều trị bệnh.

Kháng thể được phân lập tại IIBR thuộc loại đơn dòng, nghĩa là được lấy từ một tế bào đã phục hồi sau khi mắc bệnh và do đó có thể có hiệu quả mạnh hơn trong chữa trị bệnh.

Trong khi đó, tạp chí Science Direct số ra tháng Năm đăng tải thông tin, ở một số quốc gia khác, giới khoa học đã phát triển những phương pháp điều trị COVID-19 từ các kháng thể đa dòng, những kháng thể lấy từ hai tế bào trở lên thuộc các dòng khác nhau.

Israel là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới đóng cửa biên giới và áp đặt các lệnh hạn chế nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn dịch COVID-19 lây lan.

Đến nay, nước này đã ghi nhận 16.246 trường hợp mắc và 235 người tử vong do đại dịch này./.
Thanh Phương (TTXVN/Vietnam+)

Thiết bị y tế cập cảng 13 tỉ, về đến bệnh viện 40 tỉ đồng!

Cập nhật lúc 09:57     

Báo chí vừa đưa một ví dụ rất choáng, rằng có những thiết bị y tế giá nhập khẩu chỉ 13 tỉ đồng nhưng giá trúng thầu vào bệnh viện lên đến hơn 40 tỉ đồng. Phải chăng câu chuyện “nọ kia” như cách dùng từ của nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến vẫn chưa chấm dứt?


Máy xét nghiệm Real-time PCR tự động đặt tại CDC Quảng Nam

13 tỉ thành 40 tỉ đồng, từa tựa như việc mua sắm máy xét nghiệm COVID-19 ở CDC Hà Nội, có lẽ, chỉ là những việc “bị lộ” trong một tình trạng lộn xộn, đẩy giá thiết bị vật tư y tế đã diễn ra từ rất nhiều năm.
Nguyên nhân thì ngành Y tế thừa biết. Một chuyên gia của Bộ Y tế nói: Thông tư 58/2016 hướng dẫn khi mua sắm các mặt hàng không thuộc diện Nhà nước quản lý giá, các đơn vị có thể lấy căn cứ tại một trong các tài liệu, bao gồm: Giá dự toán giao; báo giá của các nhà cung cấp; thẩm định giá; kết quả trúng thầu trước đó.
Và “Khoảng trống pháp lý của các căn cứ này là rộng, từ đó đã dẫn đến tình trạng mỗi nơi một giá, giá “tù mù” do đơn vị sau không biết đơn vị trước mua bao nhiêu, mặt bằng thị trường thế nào... do không được công khai”.
Tù mù bao giờ cũng là kẻ thù của công khai. Và đây cũng là câu chuyện thực tế của chính ngành Y tế.
Năm 2017, với quyết tâm của Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Kim Tiến, mặt hàng thuốc, lần đầu tiên được tổ chức đấu thầu tập trung.
Cuộc đấu thầu tập trung này đã tiết kiệm được đến 470 tỉ đồng. Nhưng cái lớn hơn 470 tỉ đồng là sự chấm dứt từ đó tình trạng giá thuốc “nhảy múa”, “tát nước theo mưa”, “chênh lệch giữa các vùng miền, giữa các bệnh viện gây bức xúc cho người dân” - tránh được tình trạng “này nọ” (những chữ trong ngoặc kép là từ dùng của bà Tiến).
Quyết định đấu thầu tập trung mang tính cách mạng ấy đã tạo ra một sự minh bạch khi giờ đây trên website của Cục quản lý dược đang công khai thông tin giá thuốc, từ giá đấu thầu đến giá bán buôn, giá nhập khẩu.
Một sự công khai mà ai đó có muốn tù mù, muốn lòng vòng chắc chắn cũng lo sợ bị phát hiện.
Năm đó, chính nữ Bộ trưởng cũng hứa sẽ áp dụng hình thức này đối với việc đấu thầu thiết bị vật tư y tế.
Nhưng giờ, vẫn là 2,4 tỉ đồng thành 7 tỉ đồng, giờ, vẫn là 13 tỉ đồng đội lên 40 tỉ đồng.
Thiết bị y tế giá nhập cảng 13 tỉ đồng mà bị đội lên đến 40 tỉ đồng khi vào bệnh viện là một sự thật vô lý. Nhưng sự vô lý ấy còn chứa trong nó một sự vô lý hơn: Nó vẫn được chấp nhận. Cho đến khi có những vụ việc bị lộ.
Hình như, việc bịt khe hở đang chỉ thiếu sự quyết đoán của một người lãnh đạo, như việc đấu thầu tập trung năm 2017 mà thôi. 
(Theo Lao Động) ĐÀO TUẤN

Loạn chuyển nhượng đất ở Phú Quốc: Có trách nhiệm của chủ tịch tỉnh thời kỳ 2011-2017

Cập nhật lúc 09:53      
Từ tháng 1/2016 đến tháng 6/2017, Sở TN&MT tỉnh Kiên Giang cho phép tách 17.808 thửa đất nông nghiệp với diện tích nhỏ (dưới 500 m2) trên địa bàn huyện Phú Quốc, dẫn tới tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện đảo này diễn ra hết sức phức tạp.


Nhiều diện tích đất nông nghiệp trên đảo Phú Quốc được chia nhỏ để phân lô chuyển nhượngẢnh: Nhật Huy

Thanh tra Chính phủ cho rằng, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang thời kỳ 2011-2017 chịu trách nhiệm trong công tác chỉ đạo, điều hành chung...

Phó tổng Thanh tra Chính phủ (TTCP) Đặng Công Huẩn vừa ký ban hành kết luận thanh tra việc chấp hành pháp luật trong công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai, quản lý và khai thác tài nguyên khoáng sản, bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011 - 2017.

Đề nghị xem xét thu hồi 43 dự án

TTCP đánh giá, trong thời kỳ thanh tra, việc lập, thẩm định và trình duyệt quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Kiên Giang về cơ bản thực hiện đúng trình tự, thủ tục; có nhiều cố gắng trong công tác quản lý nhà nước về khoáng sản, đã thực hiện tương đối đầy đủ các chức năng quản lý nhà nước về khoáng sản tuy nhiên vẫn còn để xảy ra nhiều vi phạm, hạn chế.

Điển hình, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh Kiên Giang và các đơn vị hành chính cấp huyện chưa kịp thời, chậm so với quy định. Bên cạnh đó, chất lượng công tác lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của tỉnh Kiên Giang và các đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc chưa cao, chưa tuân thủ nguyên tắc về sự phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các cấp.

Đặc biệt, thời kỳ từ năm 2011-2014, toàn bộ 145/145 đơn vị hành chính cấp xã trên địa bàn tỉnh Kiên Giang không lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, vi phạm Luật Đất đai 2003.

TTCP cũng cho rằng, việc chưa kiểm tra, giám sát thường xuyên đã dẫn đến nhiều dự án đầu tư chậm tiến độ trong thời gian dài; có trường hợp đã được gia hạn tiến độ nhiều lần nhưng chậm được xử lý theo quy định, gây lãng phí nguồn tài nguyên đất, đặc biệt là các dự án đầu tư trên địa bàn huyện Phú Quốc.

“Trên cơ sở kết quả thanh tra, TTCP đề nghị UBND tỉnh Kiên Giang chỉ đạo các cơ quan chức năng thực hiện các bước theo quy định của pháp luật để xem xét thu hồi chủ trương đầu tư, thu hồi đất đối với 43 dự án đầu tư chậm tiến độ nhiều năm” - kết luận của TTCP nêu rõ.

Tình trạng “xé” nhỏ đất nông nghiệp phân lô

Vẫn theo kết luận thanh tra, trong giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 6/2018, UBND huyện Phú Quốc và UBND các xã, thị trấn trực thuộc đã buông lỏng quản lý về đất đai, về trật tự xây dựng đô thị dẫn tới nhiều tổ chức, cá nhân xây dựng hạ tầng trái phép trên đất nông nghiệp nhằm mục đích phân lô, tách thửa đất nông nghiệp với diện tích nhỏ để chuyển nhượng.

Qua thanh tra phát hiện từ tháng 1/2016 đến tháng 6/2017, Sở TNMT tỉnh Kiên Giang cho phép tách 17.808 thửa đất nông nghiệp với diện tích nhỏ (dưới 500 m2) trên địa bàn huyện Phú Quốc, dẫn tới tình trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện đảo này diễn ra hết sức phức tạp, gây khó khăn trong công tác quản lý đất đai.

“Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của các thửa đất được phân lô không vì mục đích sản xuất nông nghiệp, gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai và đặc biệt trong việc thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án đầu tư theo quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt” - TTCP nêu quan điểm.

Bên cạnh đó, TTCP cũng cho rằng việc buông lỏng quản lý rừng của Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang, Ban Quản lý rừng phòng hộ Phú Quốc và Vườn Quốc gia Phú Quốc đã dẫn tới tình trạng các hộ dân lấn chiếm đất rừng diễn ra trong một thời gian dài nhưng chậm được ngăn chặn xử lý. Thậm chí, có một số hộ dân được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chồng lấn với diện tích đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Vườn Quốc gia Phú Quốc.

Mặt khác, việc UBND tỉnh Kiên Giang không giao cho chủ rừng hoặc đơn vị có chức năng khai thác để khai thác tận thu gỗ rừng tại dự án Khu du lịch sinh thái Bãi Dài do Công ty cổ phần Đầu tư phát triển du lịch Phú Quốc làm chủ đầu tư là vi phạm Thông tư số 35 năm 2011 của Bộ NN&PTNT.

Mặc dù hiện nay UBND tỉnh Kiên Giang đã tổ chức phân loại, định giá số lượng gỗ và Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển du lịch Phú Quốc đã nộp vào ngân sách nhà nước hơn 16 tỷ đồng tiền tận thu gỗ, song TTCP vẫn cảnh báo nguy cơ thất thoát hơn 12.930 m3 gỗ.

TTCP cho rằng, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang thời kỳ 2011-2017 chịu trách nhiệm trong công tác chỉ đạo, điều hành chung; còn thủ trưởng các sở, ngành và chủ tịch UBND các huyện, thành phố trực thuộc chịu trách nhiệm chính đối với vi phạm thiếu sót đã nêu tại kết luận thanh tra.

Cùng với kiến nghị khắc phục vi phạm, tồn tại, TTCP đề nghị UBND tỉnh Kiên Giang khẩn trương báo cáo Thủ tướng, Bộ Xây dựng phương án điều chỉnh quy hoạch chung của huyện đảo Phú Quốc theo định hướng phát triển thành đơn vị kinh tế - hành chính đặc biệt theo chủ trương đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận năm 2018. Trong đó, đối với diện tích đất được quy hoạch mục đích sản xuất nông nghiệp nhưng sử dụng không hiệu quả, cần phải chuyển sang mục đích khác để đảm bảo sử dụng có hiệu quả nhất tài nguyên.

TTCP kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang chỉ đạo Chủ tịch UBND huyện Phú Quốc có biện pháp xử lý kiên quyết đối với các công trình xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp, xử lý nghiêm hành vi sử dụng đất trái mục đích đối với đất nông nghiệp trên địa bàn huyện; thanh tra việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các hộ gia đình, cá nhân liên quan đến đất rừng thuộc Vườn Quốc gia và Rừng phòng hộ Phú Quốc.
(Theo Tiền Phong) Dương Lê
Hoài nghi 'rò rỉ nCoV' từ phòng thí nghiệm Vũ Hán

Cập nhật lúc 09:43


Khi Covid-19 bùng phát, Thạch Chính Lệ cùng các đồng nghiệp đã phân vân liệu virus có thể bắt nguồn từ viện nghiên cứu của bà hay không.

Chính Thạch Chính Lệ (Shi Zhengli), nhà nghiên cứu hàng đầu của Viện Virus học Vũ Hán (WIV), hồi cuối tháng 12 năm ngoái phụ trách các chuyên gia của viện làm việc ngày đêm nhằm xác định nguyên nhân dẫn tới một căn bệnh bí ẩn xuất hiện ở Vũ Hán, nay được biết là Covid-19.
Giờ đây, Tổng thống Mỹ Donald Trump cùng một số quan chức cấp cao của Mỹ lại cáo buộc WIV là nguồn phát tán nCoV, làm dấy lên phản ứng giận dữ bên trong giới khoa học và chính quyền Trung Quốc.



Nhà virus học nổi tiếng Trung Quốc Thạch Chính Lệ. Ảnh: AFP.

"Chúng ta rồi sẽ biết virus đến từ đâu", Trump phát biểu tại một sự kiện ở Nhà Trắng hôm 30/4. "Chúng tôi đang yêu cầu các nhà khoa học, cộng đồng tình báo cùng nhiều người khác xem xét sự việc rất kỹ lưỡng. Chúng ta sẽ có bức tranh toàn cảnh. Tôi nghĩ cuối cùng chúng ta sẽ nhận được một câu trả lời thỏa đáng. Và Trung Quốc có lẽ sẽ nói cho chúng ta".
Tổng thống Mỹ từ chối tiết lộ về việc ông có nắm được thông tin tình báo nào cho thấy virus bắt nguồn từ WIV hay không, với lý do ông không được phép công bố. Cộng đồng Tình báo Mỹ hôm 1/5, như hầu hết các nhà khoa học, bác bỏ giả thuyết nCoV là virus nhân tạo hoặc bị biến đổi gen, song cho biết họ đang xem xét khả năng nCoV thoát ra ngoài "sau một sự cố tại phòng thí nghiệm ở Vũ Hán". Giới chuyên gia đánh giá khả năng này khó xảy ra nhưng không phải không thể.
Được khánh thành năm 2015 với chi phí xây dựng 44 triệu USD và đi vào hoạt động từ năm 2018, Viện Virus học Vũ Hán ban đầu được Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốc lên kế hoạch biến thành phòng thí nghiệm tham chiếu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), một trong những cơ sở lưu trữ những mẫu bệnh phẩm nguy hiểm nhất thế giới.
Giám đốc Viên Chí Minh (Yuan Zhiming) lúc bấy giờ tuyên bố WIV là một "mấu chốt quan trọng trong mạng lưới phòng thí nghiệm an toàn sinh học toàn cầu".
Các nghiên cứu ban đầu của WIV tập trung vào bệnh sốt xuất huyết ở Crimea và Congo, Ebola và virus Lassa Tây Phi. Về sau, WIV trở thành trung tâm nghiên cứu toàn cầu về chủng virus corona và những hậu quả tiềm tàng của nó, điều mà các nhà khoa học Trung Quốc đã được cảnh báo từ đại dịch SARS hồi đầu những năm 2000.
Thạch Chính Lệ, 55 tuổi, đã tiến hành hàng loạt cuộc thí nghiệm để tìm ra cách thức virus corona có thể lây truyền giữa những loài khác nhau. Năm 2004, bà phát hiện ra một ổ corona tự nhiên ở loài dơi sống trong các hang động phía nam Trung Quốc.
Trong suốt 15 năm kế tiếp, Thạch phối hợp cùng các chuyên gia hàng đầu từ khắp nơi trên thế giới nghiên cứu cách virus lây truyền từ người sang người, trong đó có Peter Dazak, chủ tịch Liên minh EcoHealth, tổ chức phi lợi nhuận trụ sở ở New York. Ông là một trong những nhà khoa học đầu tiên cảnh báo về một "Dịch bệnh X" có thể gây ra đại dịch toàn cầu.
Năm 2017, Thạch và đội ngũ của mình phát hiện ra rằng virus corona gây ra dịch SARS bắt nguồn từ dơi, điều đã giúp bà xác định Covid-19 hồi đầu tháng 1. Tuy nhiên, việc dịch bùng phát ở Vũ Hán, cũng là nơi WIV được xây dựng, đã làm dấy lên nhiều hoài nghi trong chính đội ngũ nghiên cứu.
"Liệu chúng có thể bắt nguồn từ viện nghiên cứu của chúng ta không", Thạch cho biết bà từng nghĩ như vậy trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí Scientific American hồi tháng ba. Dẫu sao, bà cùng các đồng nghiệp đã thu thập và lưu trữ vô số mẫu virus gây bệnh từ dơi trong nhiều năm qua.
WIV là một trong số ít cơ sở trên thế giới có mức độ bảo mật sinh học BSL-4, mức cao nhất được quốc tế công nhận. Họ tuân thủ các quy trình nghiêm ngặt như không khí và nước phải được lọc và xử lý trước khi thải ra ngoài, các nhà nghiên cứu phải thay quần áo và tắm trước và sau khi rời phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, sự cố vẫn có thể xảy ra.
Năm 2003, dịch SARS ở Singapore có liên quan tới sự cố tại một phòng thí nghiệm bệnh viện khiến một sinh viên 27 tuổi bị nhiễm. Phòng nghiên cứu trên đạt tiêu chuẩn bảo mật sinh học BSL-3, nhưng kết quả điều tra cho thấy quy tắc an toàn đã bị vi phạm khi các nhà nghiên cứu buộc phải làm việc cùng nhau trong lúc một phòng thí nghiệm khác được cải tạo.
Virus SARS cũng được báo cáo là đã thoát khỏi một số cơ sở nghiên cứu tiêu chuẩn an toàn cao ở Bắc Kinh nhiều lần. Hiện chưa rõ nCoV chỉ được xử lý trong các phòng thí nghiệm BSL-4 hay còn nơi nào khác.
"Tất nhiên, có khả năng nguyên nhân là do sai sót của con người", một nhà khoa học Pháp từng tới phòng thí nghiệm Vũ Hán nói.
Virus cũng có thể thoát ra từ một phòng thí nghiệm khác, ví dụ Trung tâm Phòng chống Dịch bệnh Vũ Hán. Đây là cơ sở hoàn toàn tách biệt, cách chợ hải sản Vũ Hán, nơi vốn được cho là điểm bùng dịch ở Trung Quốc, chỉ 300 m.
WIV từ lâu đã căng thẳng với giới nghiên cứu quốc tế về cách xử lý các mầm bệnh nguy hiểm. Nó ban đầu là cơ sở liên kết giữa Trung Quốc và Pháp, nước cũng có phòng thí nghiệm BSL-4 ở Lyon.



Viện Virus học Vũ Hán ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Ảnh: WIV.

Michel Barnier, ngoại trưởng Pháp dưới thời tổng thống Jacque Chirac, năm 2004 đã ký thỏa thuận dẫn tới sự ra đời của WIV. Nhưng các công ty Pháp chỉ giữ vai trò nhỏ trong quá trình xây dựng phòng thí nghiệm và vào thời điểm WIV khánh thành năm 2017, mối quan hệ hợp tác giữa hai bên đã sụp đổ.
Technip, công ty Pháp đáng lẽ sẽ đứng ra chứng nhận WIV tuân thủ các quy định an toàn, từ chối làm điều này sau khi rút khỏi dự án vào năm 2015. Mặt khác, 50 nhà khoa học Pháp dự kiến tới Vũ Hán làm việc tại WIV trong vòng 5 năm chưa bao giờ đặt chân tới đây, theo báo Le Figaro và kênh truyền hình nhà nước France Inter.
Challenge, một tạp chí kinh doanh của Pháp, từng đưa tin hợp tác song phương thất bại khi các quan chức quân đội Pháp từ chối cung cấp cho Trung Quốc những loại virus chết người hay các bộ đồ bảo hộ chống virus, bởi lo ngại chúng được sử dụng cho mục đích nghiên cứu vũ khí sinh học.
Tuy nhiên, đây không phải dấu chấm hết cho mối hợp tác quốc tế. Năm 2013, Phòng thí nghiệm Quốc gia Galveston thuộc Đại học Texas, cơ sở nghiên cứu mầm bệnh hàng đầu Mỹ, bắt đầu hướng dẫn các nhà nghiên cứu Trung Quốc cách thức làm việc trong phòng thí nghiệm BSL-4.
Động thái này khiến một số quan chức Pháp cho rằng Paris đã thua Washington. James LeDuc, giám đốc phòng thí nghiệm Galveston, không tin vào khả năng nCoV vô tình thoát khỏi WIV vì những cơ sở kiểu như vậy có các quy trình vô cùng nghiêm ngặt. Tuy nhiên, ông lưu ý không thể loại trừ khả năng xảy ra sự cố.
Tỷ lệ xảy ra sự cố dù nhỏ cũng đã được những người ủng hộ thuyết âm mưu khai thác, gây ra những thiệt hại thực sự cho việc nghiên cứu khoa học, thậm chí trước cả khi Tổng thống Trump nêu lại giả thuyết này hồi tuần trước.
Hôm 24/4, Viện Y tế Quốc gia Mỹ đột ngột cắt khoản viện trợ cho nghiên cứu của tiến sĩ Daszak với nhà virus học Thạch Chính Lệ.



Một nhà nghiên cứu đang làm việc trong phòng thí nghiệm tại Viện Virus học Vũ Hán, hồi tháng 2/2017. Ảnh: AFP.

Giới chức Trung Quốc liên tục bác bỏ thông tin cho rằng nCoV bắt nguồn từ phòng thí nghiệm Vũ Hán. Một số quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao nước này thậm chí còn cáo buộc ngược lại rằng virus có thể xuất phát từ Mỹ.
"Đảng Cộng sản Trung Quốc luôn cởi mở, minh bạch và có trách nhiệm trong nỗ lực ứng phó với Covid-19. Hai chuyên gia Mỹ đã ở Trung Quốc trong phái đoàn chung WHO - Trung Quốc hồi cuối tháng một. Tại sao không hỏi các chuyên gia Mỹ liệu có phải virus khởi nguồn từ Mỹ hay không? Người Mỹ cần câu trả lời. Thế giới có quyền được biết", phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Oánh hôm 29/4 viết trên Twitter.
Dòng tweet của bà nhằm đáp trả Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo, người trước đó nói rằng: "Đảng Cộng sản Trung Quốc cần minh bạch trong lúc thế giới tìm kiếm các câu trả lời về Covid-19 cũng như nguồn gốc của nó... Chúng tôi vẫn chưa thể đưa các chuyên gia của mình tới thực địa để tiến hành những công việc cần làm. Trung Quốc có trách nhiệm hợp tác".
Hồi tháng ba, Triệu Lập Kiên, một phát ngôn viên khác của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã khơi dậy một cuộc tranh cãi với Mỹ khi ông đưa ra thuyết âm mưu rằng quân đội Mỹ có thể đã "mang nCoV tới Trung Quốc".
(Theo VnExpress) Vũ Hoàng
Nguồn Telegraph