|
Kỷ niệm bên dòng sông quan
họ
Cập nhật lúc 20:44
Cả đại đội 16 của chúng tôi bỗng xôn xao hẳn lên khi được tin có đội văn nghệ
xung kích sắp đến thăm và biểu diễn phục vụ đơn vị. Người nhận được tin này
là đại đội trưởng Nguyễn Hữu Hưởng. Qua anh chúng tôi được biết đó là đội văn
nghệ nghiệp dư của một huyện ở quê hương quan họ. Tuy đã trạc ngoại “tam
tuần” song anh cũng rất vui vì biết rõ chính đội văn nghệ này đã lên đơn vị
biểu diễn cách đây hơn một năm. Hồi đó tôi chưa về công tác tại Đại đội 16.
Cậu Tráng liên lạc người Nghệ An toét miệng khoe với tôi: Đúng là “đến hẹn
lại lên” đấy thủ trưởng ạ. Lẽ dĩ nhiên là tôi cũng mừng không kém bởi trước
kia tôi đã từng sống trên quê hương quan họ và có một kỷ niệm đáng ghi nhớ
bên dòng sông Cầu…
Công việc huấn luyện của đại đội chiều hôm ấy được “linh động” tạm dừng lại,
tất cả tập trung chuẩn bị để làm sân khấu và đón đội văn nghệ. Một nhóm do
trung đội tưởng Bùi Quang Vịnh phụ trách được tức tốc cử đi đón đội văn nghệ
vì đường rừng núi sợ anh chị em đi lạc, hai nữa chắc đồ đạc cũng nhiều và
nặng, cần được trợ giúp. Đại đội trưởng Hưởng nhận phụ trách phần thiết kế,
thi công “sân khấu”. Gọi là sân khấu cho sang chứ thực ra đó chỉ là một bãi
đất bên mỏm đồi, được san phẳng, sửa sang để đủ chỗ cho diễn viên và khán
giả. Còn tôi là phó đại đội trưởng được giao phụ trách hậu cần, có nhiệm vụ
chuẩn bị bữa “ăn tươi” để tiếp khách. Được giao việc này tôi cứ áy náy, gãi
đầu gãi tai bởi trong kho đại đội chỉ còn hai món “đặc sản” bộ đội ta khi đó
quen dùng là cá khô và mắm tôm! Ngoài vườn, rau cải có nhưng đã nở hoa tung
tóe cả rồi. Mổ lợn ư? Không được. Làm như thế e rằng “to” quá mà chắc gì các
đồng chí trong đội văn nghệ đã vui vì biết lính ta điều kiện còn nhiều khó
khăn vất vả. À đúng rồi! Tôi vui như vừa có một
phát kiến lớn. Trong chuồng gà “tăng gia” của “xê bộ” còn mấy con gà mái đang
nhảy ổ. Tôi bàn với anh Hưởng về ý định thịt gà để làm cơm tiếp khách. Sau
phút băn khoăn do dự, anh cũng đồng ý vì không còn cách nào khác khả dĩ hơn.
Lính biên giới chúng tôi vào đầu những năm 80 này không được sung túc cho
lắm, mỗi khi có khách quý đến là cứ lóng ngóng như gà mắc tóc.
Trên mỗi gương mặt của cán bộ, chiên sỹ đại đội 16 chúng tôi hôm đó đều lộ vẻ
hân hoan khác thường. Niềm vui ánh lên trên từng nụ cười, từng khóe mắt. Kể
cũng đúng, hàng năm trời may mắn lắm chúng tôi mới được xem một tối phim hoặc
văn công. Cả đại đội chỉ có một cái đài cũ, khi thời tiết xấu nghe cứ ọc ạch.
Vậy mà vào các buổi tối, mọi người đều có mặt đông đủ để nghe chương trình
phát thanh dành cho các bạn trẻ trong quân đội và chương trình ca nhạc dành
cho chiến sỹ biên giới và hải đảo. Những ai phải đi canh gác, tuần tra vào
giờ đó đều rất tiếc.
Mãi chập choạng tối đội văn nghệ mới tới đơn vị. Mọi người ai nấy mồ hôi nhễ
nhại vì đã phải vượt nhiều dốc, lội nhiều khe. Anh chị em trong đội cho hay
là đã ăn cơm chiều ở nhà khách Trung đoàn và xin phép được chuẩn bị để biểu
diễn luôn. Tôi tiu nghỉu vì mâm cơm thịnh soạn chờ tiếp khách đã làm xong
đang nguội dần. Anh Hưởng vê cằm râu tua tủa vẻ tư lự rồi bỗng gật gù bảo
tôi:
- Thôi được! Ta cứ để đấy. Khi nào anh chị em biểu diễn xong sẽ ăn thêm “ca
ba” cũng được.
- Hay là... ta nấu nồi cháo gà? Tôi do dự.
-Ừ, cũng hay đấy. Ăn cháo nhanh lại sức mà lại được tiếng là gọn nhẹ,
không cầu kỳ.
Lửa trại được thắp lên trên một bãi đất rộng. Chương trình biểu diễn bắt đầu.
Với lý do cao tuổi hơn, anh Hưởng nhường phần cho tôi ra xem trước. Anh trực
chỉ huy để đôn đốc việc tuần tra, canh gác của các Trung đội.
Mở đầu chương trình văn nghệ là tiết mục song ca
bài “Gửi em ở cuối sông Hồng”. Tuy nhạc cụ đơn sơ, mộc mạc mà sao tôi nghe
vẫn thấy hay và xúc động một cách lạ lùng. Một cái hay chân chất, giản gị
nhưng sâu lắng.
Đế tiết mục đơn ca của nữ diễn viên Thùy Phương, khi giọng hát cất lên tôi
bỗng giật mình vì nghe giọng hát sao thân quen đến thế! Đúng rồi! Tôi còn nhớ
lắm giọng hò bên bờ sông Cầu những đêm trăng ấy, những đêm hò đối đáp...
![]()
***
Hồi đó tôi đóng quân ở một xóm nhỏ bên bờ con sông Cầu thơ mộng. Dân làng
quen gọi bến sông ấy là Bến Đò và xóm bên kia sông là xóm Bến Đò. Các buổi
tối, sau khi sinh hoạt xong, tôi và thằng Điệp đồng hương thường rủ nhau ra
bờ sông hóng mát. Vào một đêm trăng, tôi và Điệp đang ngồi trầm ngâm nhìn
dòng nước lững lờ trôi bỗng nghe một giọng hát cất lên từ bờ sông bên kia. Cô
gái hát bài “Bèo dạt, mây trôi” với chất giọng ấm áp, dụi dàng. Tiếng hát bay
lên như lưu luyến giữa bầu trời vằng vặc ánh trăng. Tôi và Điệp lặng im, cố
nín cho hơi thở nhẹ nhàng để nghe như nuốt lấy từng lời bài hát “... một mảnh
trăng treo, chốn đêm thâu, anh ơi, em vẫn đợi, bèo dạt...” Tiếng hát đã lặng
đi được một lúc lâu nhưng hai chúng tôi vẫn ngồi lặng lẽ như cố hồi tưởng lại
câu hát, hồi tưởng lại giọng ca ấm áp, thân thương ấy. Chợt Điệp bảo tôi:
- Này, hay là ta hò lên một câu đi. Con gái ở đây hay hò đối lắm. Tớ tin rằng
với tài “ứng khẩu thành thơ” của cậu khó có cô nào “địch” nổi.
Trong đại đội 5 Công binh hồi đó, tôi là một chiên sỹ có “máu” văn chương,
hay làm thơ và ứng tác cũng nhanh. Tôi biết thơ mình không hay song mọi người
vẫn tấm tắc khen, cốt để động viên.
Sau phút suy nghĩ, tôi cất giọng hò:
“Hò... ơ...!
Cách nhau chỉ một con đò
Người thương đâu chẳng thấy mà câu hò bay ngang?
Ơ hò!...”
Bờ sông bên kia vẫn lặng im. Gió thổi sóng gợn lăn tăn trên mặt sông làm ánh
trăng vỡ ra như muôn vàn mảnh bạc tỏa ánh sáng lấp lánh.
Lát sau, chắc vẫn giọng cô gái hát ban nãy cất lên câu hò:
“Dòng sông như thảm lụa đào
Thương
nhau hãy vượt gian lao, thác ghềnh”.
Như được tiếp thêm cảm xúc, chẳng cần lâu cho lắm, tôi lại lên tiếng:
“Sông Cầu mà chẳng có cầu
Mong
ai chớ để dòng sâu ngăn lòng”.
Cô gái bên sông cũng ứng đáp nhanh không kém:
“Sông Cầu em chẳng bắc cầu
Nối
đôi bờ lụa bởi câu ân tình
Ơi người chiến sỹ áo xanh
Màu
thân thương ấy em dành riêng ai”.
Thì ra cô đã biết chúng tôi là bộ đội. Có lẽ bờ bên kia đã được “bổ sung”
thêm lực lượng. Chúng tôi nghe thấy tiếng các cô gái cười rúc rích.
Và cứ như thế, các buổi tối, khi sinh hoạt xong là tôi và Điệp lại rủ nhau ra
bến sông. Tôi cất lên giọng hò, và chỉ một lát sau là cô gái đã lên tiếng đáp
lại. Cũng từ đó tôi như yêu trộm, nhớ thầm giọng hò của cô gái mà mình chưa
hề biết mặt. Nhiều khi tôi cứ muốn qua đò, sang xóm Bến Đò để hỏi thăm tung
tích cô gái, để xem người ra sao mà giọng hò say lòng đến thế. Những hôm cô
gái không ra hò, nỗi nhớ trào lên trong tôi cồn cào, da diết. Thằng Điệp có
lẽ đã hiểu rõ lòng tôi, một hôm nó hỏi:
- Này, hình như cậu phải lòng cô gái bên sông rồi
thì phải? Tôi đỏ mặt ngượng nghịu. Điệp nói tiếp - Cậu hãy coi chừng. Những
người có giọng ca say đắm thế dễ lại có dung nhan xấu xí đấy!
- À ... ừ... nhưng mà... - Tôi ngập ngừng không biết nói
thế nào để chống chế. Dù sao tôi vẫn nhớ giọng hò ấy, nhớ đến nôn nao. Chắc
thằng Điệp muốn nhắc để tôi nhớ về câu chuyện của ông lão Trân và bà cụ Huyền
mà chúng tôi được nghe dân làng ở đây kể lại. Ông Trân ngày ấy là một chàng
thanh niên khỏe mạnh và đẹp trai. Nhiều cô gái cứ mê mẩn khi gặp ông. Còn bà
Huyền là thiếu nữ có giọng hò mê hồn. Nghe giọng hò của cô, các chàng trai
ngẩn ngơ, đứng ngồi không yên. Rồi những đêm trăng trong mùa trẩy hội đầu
xuân, hai người đã gặp nhau qua giọng hát. Ban đầu, câu hò đôi bên nghe cứ xa
vời vợi. Rồi câu hò như có sức mạnh vô hình kéo dần họ lại và họ đã đến với
nhau. Lúc ấy ông mới biết bà là một cô gái không xinh đẹp mà trái lại, bà bị
căn bệnh đậu mùa lúc nhỏ để lại di chứng trên gương mặt. Song điều ấy chẳng
thể suy suyển tình yêu của họ. Mọi người đều rất ngạc nhiên về điều đó. Tục
lệ của làng xóm ngày ấy còn nặng nề lắm. Hai ông bà ở vào hai làng đã kết chạ
cùng nhau. Ở vùng quan họ, khi hai làng đã kết chạ (kết bạn) thì trai gái đôi
bên là liền anh, liền chị, không được yêu đương và lấy nhau! Thế nhưng hai
người vẫn cương quyết đến với nhau, cùng nhau chung sống. Trường hợp của ông
Trân và bà Huyền lần đầu tiên phá vỡ tục kết chạ ở đây. Hai người đã bỏ qua
lời dèm pha của bạn bè, lời dị nghị của làng xóm và họ hàng. Đến nay con của
hai ông bà đã lên hàng các cụ râu trắng, tóc bạc…
Một hôm thằng Điệp bỗng hỏi độp tôi một câu:
- Giả sử cô gái bên sông có hình thức xấu xí, cậu có dám yêu cô ta không?
Quá bất ngờ, tôi bị động, lúng túng:
- Sao?... à... ừ... mà
còn... còn do tình cảm đôi bên nữa chứ?
Vào một buổi chiều, bầy quạ Mỹ bỗng ập tới giội bom bừa bãi xuống những xóm
ven sông. Xóm Bến Đò bị hai trái bom ném trúng. Nghe nói là có thiệt hại về
người. Tối hôm đó bên bến sông, tôi và Điệp ngồi lặng lẽ nhìn sang bờ bên
kia. Làng xóm chìm trong màn sương mờ lạnh lẽo. Từ mặt sông như vẳng lên
tiếng khóc ấm ức. Chúng tôi không dám cất tiếng hò mà cứ ngồi lặng im như
thế…
Mãi hơn tuần sau, cũng vào một buổi tối,
chúng tôi lại cùng nhau ra bến sông. Thú thực, tôi đã rất nóng lòng. Nỗi nhớ
như những cơn sóng ngầm thỉnh thoảng lại trào lên. Sau phút bàn bạc, băn
khoăn, chúng tôi nhất trí cất tiếng hò để gọi cô gái bên kia. Tôi hò:
“Tiếng hát ta át tiếng bom,
Người
thương đâu xa vắng, tiếng hò còn chơi vơi”…
Đúng là câu hò của tôi cất lên chơi vơi giữa không gian mênh mông, trống
trải. Xóm Bến Đò vẫn lặng im. Những bụi tre mờ đen đổ bóng xuống dòng sông âm
thầm. Không có một câu hò đáp lại. Dòng sông Cầu nhẹ trôi như mang nỗi nhớ
của tôi về nơi biển cả…
- Hay là... trong trận bom ấy, cô ta đã... - Thằng Điệp bỗng hỏi tôi với
giọng lo âu. Tôi không nói gì, dõi đôi mắt về nơi chân trời phía đông. Nơi ấy
thường vọng lại tiếng ầm ì của bầy giặc trời.
Cũng từ đó chúng tôi không còn được nghe giọng hò thân thương của cô gái bên bến
sông Cầu...
Suốt những năm sống trong rừng Trường Sơn, những năm gian khổ ác liệt, giọng
hò của cô gái như đọng mãi trong tôi, thúc dục tôi chắc tay súng để giành lại
những đêm trăng như thê, để giữ lấy cảnh thanh bình và câu dân ca yêu thương.
Cho đến hôm nay, giữa vùng rừng núi biên cương
đông bắc của Tổ quốc bỗng tôi được nghe lại một giọng ca quen thuộc quá
chừng! Hay là... chẳng lẽ lại là cô ấy? đã 10 năm rồi!..
***
- Thủ trưởng khắt khe quá đấy! Hay hay không thì cũng phải vỗ tay thật to để
cổ vũ chứ lại - Thằng Tráng liên lạc ngồi bên nhắc làm tôi bừng tỉnh khỏi
những kỷ niệm. Tôi ngượng ngập, ậm ừ rồi cùng vỗ tay theo mọi người. Lúc đó
hình như đã qua mấy tiết mục rồi thì phải.
Tiếp đến là tiết mục ngâm thơ của nữ diễn viên ban nãy - Thùy Phương. Tiết
mục do cô tự sáng tác và biểu diễn. Tôi lại ngỡ ngàng khi nghe tới câu thơ
quen thuộc:
“…Ơi người chiến sỹ áo xanh,
Màu
thân thương ấy em dành riêng ai.”
Trời!...Lẽ nào cô gái năm xưa chính là Thùy Phương? Đúng rồi, nếu không thì
sao cô lại biết hai câu thơ này?
Buổi biểu diễn kết thúc. Chúng tôi nài nỉ bằng được để anh chị em cùng ăn với
đơn vị bát cháo đạm bạc. Ăn uống xong, tranh thủ lúc mọi người đang chuyện
trò vui vẻ, tôi nhắn Thùy Phương ra ngoài với lý do là “có chút việc riêng”.
Thùy Phương vẻ hơi ngạc nhiên và hấp tấp bước ra. Trời tối nên có lẽ cô không
nhìn rõ mặt tôi. Còn tôi đã ngắm kỹ cô từ trước, tuy đứng tuổi song Thùy
Phương vẫn khá xinh và duyên dáng.
- Có phải... có phải anh gọi em không ạ? - Thùy Phương ngập ngừng.
-Ừ! Mình muốn nhờ... à, Phương này, Phương có nhớ câu thơ này không:
“Sông Cầu em chẳng bắc cầu,
Nối
đôi bờ lụa bởi câu ân tình?”
Trong bóng tối tôi vẫn nhận ra vẻ bàng
hoàng, thảng thốt của Phương. Cô nói nhỏ, giọng hơi run:
- Có phải anh là người... chắc hẳn anh đã đến xóm Bến Đò quê em?
- Đúng! Mình đã ở gần đó và được dự những đêm hò đối đáp cùng Phương!
- Trời!... Thì ra là anh? Anh là người thường ra bến sông và hò đối cùng
chúng em ngày ấy? Anh còn nhớ câu này chứ:
“Cách nhau chỉ một con đò,
Người
thương đâu chẳng thấy mà câu hò bay ngang?”
Thế là chúng tôi đã nhận ra nhau là những người quen qua giọng hò từ 10 năm
về trước. Ngày ấy, sau trận đánh phá của giặc vào xóm làng, cô đã lên đường
ra tiền tuyến theo tiếng gọi căm hờn... Sau những năm lăn lộn trên các trọng
điểm, các tuyến đường ác liệt của chiến tranh, cô trở về quê hương và vào đội
văn nghệ xung kích của huyện nhà. Chồng cô cũng là một sỹ quan Công binh,
hiện anh đang công tác ở một vùng đảo xa...
Sau giây phút nghỉ ngơi ngắn ngủi, biết còn một số cán bộ, chiến sỹ do bận nhiệm vụ chưa được xem, anh chị em đội văn nghệ cương quyết tổ chức biểu diễn lại để phục vụ số anh em này. Ngày mai đội đã phải sang phục vụ đơn vị khác. Vì số người xem ít nên “sân khấu” được dựng ngay trước cửa nhà ban chỉ huy đại đội.
Lửa lại được đốt lên. Tiếng hát lại cất lên.
Tôi ngồi trầm tư từ xa nhìn lại. Bóng diễn viên và khán giả lung linh, huyền
ảo như một bức sơn mài. Trầm ngâm suy tư, tôi ngồi lặng lẽ nhìn các chiến sỹ
thân yêu. Họ đang nghĩ gì về lời hát? Lời ca đọng lại trong họ những tình cảm
ra sao? Có lẽ mọi người cũng đang nhớ về những vùng quê, những xóm mạc thân
thương của mình với bao hoài niệm. Đáng yêu biết bao người ở hậu phương đã một
nắng hai sương giành dật với đất trời cho chúng tôi từng hạt gạo, từng manh
áo, lại còn mang tới cho chúng tôi lời ca của lòng thuỷ chung son sắt! Phải
chăng chúng tôi đã vượt qua được những khó khăn gian khổ vì biết rằng phía
sau mình có một hậu phương như thế? Đúng rồi, tiếng hát ấy đã cho chúng tôi
thêm nguồn sức mạnh, cho đôi chân dẻo dai và đôi tay luôn vững vàng cây súng.
Cuối chương trình, Thùy Phương lại hát bài “Bèo dạt, mây trôi”. Tôi bâng
khuâng như được ru trong bao kỷ niệm êm đềm. “... Một mảnh trăng treo, chốn
đêm thâu, anh ơi, em vẫn đợi...” Vẫn tiêng hát ấm áp năm xưa, nay tôi được
nghe bên ánh lửa bập bùng giữa vùng rừng núi. Tiếng hát bay xa, vang ngân như
sưởi ấm một vùng biên cương thân yêu của Tổ quốc.
Hà Cối, đêm cuối đông 1982
(Theo
blog dongquanho.blogspot.com)
Đinh Hoàng (Hoàng Đình Khải)
|
Trang
▼

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét