|
Sự
"biến mất" lòng tin với truyền thông phương Tây
Cập
nhật lúc 14:57
Ngày 22-12-2014, tờ Thương mại
(Handelsblatt) đăng bài Nhiều người Đức không tin hệ thống truyền thông
(Viele Deutsche misstrauen den Medien) với lời dẫn: "Phiến diện" và
"bị chính trị điều khiển": Người Đức không tin vào hệ thống truyền
thông. Một cuộc thăm dò dư luận vừa qua của Viện YouGov ở Cô-lô-nhơ (Cologne)
tiết lộ điều này”. Ngày 9-7-2013 tạp chí Tấm gương phiên bản điện tử (Spiegel
Online) có bài Tham nhũng: lòng tin vào truyền thông đã giảm sút (Korruption:
Vertrauen in die Medien gesunken), phần lời dẫn có đoạn: “Nhiều người Đức
nghĩ rằng, chính trị gia và doanh nhân đều tham nhũng - và cả các phương tiện
truyền thông. Ít nhất, đây là kết quả của một cuộc khảo sát của Tổ chức minh
bạch quốc tế (Transparency International). Đây không phải điều gây bất ngờ…”.
Cũng hôm đó, Tạp chí Focus phiên bản điện tử (Focus Online) đăng bài Thăm dò
dư luận về hối lộ, người Đức cho rằng phương tiện truyền thông tham nhũng
(Umfrage zu Bestechlichkeit Deutsche halten Medien für korrupt). Trong phần
lời dẫn có đoạn: “Báo chí, chính trị, kinh tế tư nhân: Tổ chức minh bạch quốc
tế đã hỏi người dân Đức, ai là người tham nhũng nhất theo quan điểm của họ.
Trong khi cảnh sát được đánh giá tốt trong cuộc khảo sát, còn phương tiện
truyền thông thì tồi tệ”.
Ngược
thời gian, ngày 9-7-2013, tờ Thế giới (Die Welt) đăng bài Người Đức cho rằng
truyền thông tham nhũng hơn Quốc hội (Deutsche halten Medien für korrupter
als Parlament). Lời dẫn bài viết nêu: “Tổ chức chống tham nhũng minh bạch
quốc tế đã khảo cứu để xem, cơ quan và tổ chức nào được xem là có tham nhũng.
Theo kết quả thì tồi tệ nhất là các đảng phái. Truyền thông và nhà thờ tôn
giáo mất lòng tin". Tiếp theo có đoạn: "Sự đáng tin cậy của truyền
thông đang giảm sút trong con mắt của người dân Đức. Theo chỉ số tham nhũng
của Tổ chức minh bạch quốc tế thì tham nhũng của truyền thông được cho là
tăng thêm. Từ năm 2004 đến 2013 giá trị chỉ số của họ giảm từ 3,1 xuống
3,6...". Cũng ngày 9-7-2013, Báo miền nam Đức (Süddeutsche Zeitung) đăng
bài Báo cáo về tham nhũng của Tổ chức minh bạch quốc tế - Người Đức mất niềm
tin vào truyền thông (Korruptionsbericht von Transparency International
Deutsche verlieren Vertrauen in die Medien) với đoạn đề dẫn: “Tiền bôi trơn,
thỏa thuận bí mật, các dịch vụ làm vui lòng - Tham nhũng được coi là một vấn
đề nghiêm trọng trên toàn thế giới, như một cuộc khảo sát toàn cầu của Tổ
chức minh bạch quốc tế cho thấy. Tại Đức, một lĩnh vực đã bị mất rất nhiều
niềm tin: Các phương tiện truyền thông. Hơn một nửa số người dân trong nước
tin rằng, tham nhũng ảnh hưởng đến các nhà xuất bản và các đài phát thanh,
truyền hình”. Một trong những vụ bê bối vì tham nhũng lớn trong hệ thống
truyền thông bị phanh phui gần đây ở CHLB Đức phải kể đến vụ hối lộ và tham ô
tại Đài Phát thanh và truyền hình công cộng MDR. Những người dính líu đến cáo
buộc đã phải hầu tòa, bị tuyên án. Ngày 5-5-2015, Tạp chí Focus, phiên bản
điện tử đăng bài MDR kết thúc vụ việc: Thiệt hại gần 10 triệu Euro (MDR zieht
Schlussstrich: Fast zehn Millionen Euro Schaden), có đoạn: “Ở kênh dành cho
trẻ em thuộc truyền hình công cộng, nhiều năm qua đã hoành hành một hệ thống
của sự tham nhũng và tham ô. Chịu trách nhiệm về vụ việc này là Đài Phát
thanh và truyền hình MDR, đã rút ra kết luận. Và kết luận đó chỉ ra, đây là
một thảm họa. Tổn thất được cho là lên đến hàng triệu…".
Cuộc
khủng hoảng niềm tin đối với truyền thông đã và đang xảy ra không chỉ ở Đức
mà ở cả các quốc gia khác của thế giới phương Tây, thí dụ ở Mỹ. Ngày
2-10-2015, Tạp chí Thụy Sĩ (Schweiz Magazin) cho biết qua bài Thăm dò dư luận
của Ga-lớp: 60% số người Mỹ không tin truyền thông (Gallup-Umfrage: 60% der
Amerikaner vertrauen nicht ihren Massenmedien - Gallup là một trong những
viện nghiên cứu thị trường và ý kiến hàng đầu, trụ sở tại Washington DC).
Theo đó, một cuộc thăm dò dư luận mới đây cho thấy, cứ sáu trong 10 người Mỹ
thì lòng tin của họ vào truyền thông đại chúng chỉ đạt từ “không nhiều lắm”
đến “hoàn toàn không”. Theo kết quả một cuộc thăm dò dư luận của Viện Chính
trị thuộc Trường đại học tổng hợp Ha-vớt (Harvard) mới thực hiện, thì chỉ có
2% số người dân Mỹ trẻ tuổi tin vào hệ thống truyền thông. Tháng 2-2015, Viện
Kôn-rát A-đen-nau-ơ (Konrad Adenauer) của CHLB Đức đăng trên mạng của mình
bản tường trình về Bun-ga-ri, với tên bài Người dân Bun-ga-ri cảm thấy được
truyền thông cũng như các chính trị gia thông báo một cách tồi tệ (Bulgaren
fühlen sich von Medien wie Politikern schlecht informiert). Theo đó, “một
cuộc khảo sát đại diện được tiến hành bởi sự ủy quyền của Viện Kôn-rát
A-đen-nau-ơ và chỉ ra một cuộc khủng hoảng niềm tin với giới truyền thông và
thông tin về chính trị. 59% số người dân của nước này không tin rằng hệ thống
truyền thông đã thật sự độc lập. Nhiều người chưa quyết định, chỉ có 17% tin
vào sự truyền tin không bị tác động. Như vậy, sự khủng hoảng niềm tin của hệ
thống truyền thông vẫn tiếp diễn…”.
Có thể
vì khuôn khổ có hạn, nên các bài báo không phân tích kỹ các nguyên nhân dẫn
đến mất lòng tin, nhưng trong khuôn khổ một cuốn sách thì sự phân tích có
phần thỏa đáng hơn. Thí dụ như cuốn sách Truyền thông trong chiến tranh -
Chiến tranh trong truyền thông mới xuất bản của GS, TS J.Bếc-khờ (J.Becker),
phiên bản điện tử công bố tháng 10-2015, sách in tháng 11-2015, và J. Bếc-khờ
là nhà khoa học trong lĩnh vực chính trị học, từ năm 1987 ông giảng dạy tại
Trường đại học tổng hợp Ma-buốc (Marburg). Ngày 12-2-2015, trang mạng
NachDenkSeite đăng bài phỏng vấn tác giả, dưới đây là một trích đoạn:
“Câu
hỏi: Thưa ông Bếc-khờ, cuốn sách mới, được ông gọi là công
trình của cuộc đời và có tên Truyền thông trong chiến tranh - Chiến tranh
trong truyền thông. Ông có mong muốn gì khi viết cuốn sách này? Ông viết về
việc gì?
Bếc-khờ: Tôi có
nhiều mong muốn. Việc tên sách đặt theo kiểu tên kép để nói rằng bất cứ tranh
luận nào về vấn đề này đều quá ngắn, nếu chỉ giới hạn ở chỗ suy nghĩ lại về
những nội dung bị làm méo mó, tức là chỉ hướng tới việc đưa tin chiến trường.
Tất nhiên việc đó quan trọng, song trước tiên là bàn luận đến những cấu trúc
xã hội đã tạo điều kiện cho sự đưa tin một cách dối trá. Vì vậy, trong cuốn
sách tôi bàn về hoạt động của các công ty PR kiếm được lợi nhuận trong truyền
thông nhờ tích cực tiếp thị chiến tranh, về việc ném bom các ngôi nhà của truyền
thông trong chiến tranh dưới sự vi phạm luật pháp quốc tế, về việc các mạng
lưới xã hội tinh hoa giữa truyền thông và chính trị đã thúc đẩy kinh doanh
chiến tranh như thế nào và miêu tả việc các tổ chức phi chính phủ trong thời
gian chiến tranh tự biến thành vật kéo để đặt trước các cỗ máy quân sự của
truyền thông chính thống. Tôi không phải là một nhà khoa học truyền thông chỉ
vừa lòng với việc đưa ra những suy nghĩ thông minh về các nội dung trong
truyền thông, mà là nhà khoa học của lĩnh vực chính trị học, phân tích các
điều kiện chính trị vượt quá mức độ nội dung. Với tôi, điều quan trọng của
toàn bộ cuốn sách là ý nghĩa lịch sử, trên hai phương diện: Một mặt, tôi liên
tục chỉ rõ, đặc biệt trong giai đoạn đầu khi phát động chiến tranh, luôn có
những sự lừa dối về chiến tranh của truyền thông. Mặt khác, tôi muốn làm rõ ý
nghĩ lịch sử trong sự nghiệp của nghề nghiệp mà tôi theo đuổi, vì 40 năm qua
tôi nghiên cứu đề tài này.
Câu hỏi:Phải
chăng với “ý nghĩ lịch sử”, ông muốn nói đến tiến trình của lừa dối chiến
tranh và tuyên truyền chiến tranh theo thời gian?
Bếc-khờ: Vâng,
đúng thế. Khi còn ngồi ghế nhà trường, chúng ta đã nghe về sự tiến công vào
trạm phát sóng truyền thanh Cờ-lai-vít-xơ (Gleitwitze) do các lực lượng
phát-xít tạo dựng ra ngày 31-8-1939 làm cái cớ cho sự xâm lược Ba Lan. Và
cũng như thế, chúng ta học trong trường, sự tiến công tàu chiến Mỹ năm 1964 ở
Vịnh Bắc Bộ được bịa ra để cung cấp cho Hoa Kỳ một cái cớ nhằm bắt đầu chiến
tranh Việt Nam. Cần phải viết rành mạch, để những sự lừa dối như thế không
xảy ra nữa. Chúng ta thật sự học được điều gì từ lịch sử của những lừa dối
chiến tranh? Tại sao truyền thông Đức về sau, ít nhất, không thể tự phê bình,
mặc dù từ năm 1964 đã chia sẻ và cùng gánh vác toàn bộ sự dối trá của Mỹ?
Câu hỏi:Như
vậy là có nói dối, có cố ý tác động? Do ai, chính xác như thế nào và tại sao?
Bếc-khờ: Tất
nhiên họ nói dối, những người thống trị trong chính trị và trong truyền
thông. Nếu ai cho rằng chiến tranh và truyền thông thực tế là hai lĩnh vực có
phạm vi khác biệt, và cho rằng, truyền thông kiểm soát chính trị hoặc chính
trị gia tác động một cách có ý thức vào truyền thông, thì trong các trường
hợp này, họ đều nhầm lẫn. Hơn thế nữa, giữa lĩnh vực có sự trao đổi chặt chẽ
về nhân lực, ý tưởng, tiền bạc. Đó là một cấu trúc mà tôi muốn miêu tả, tóm
lược trong cấu trúc năm chữ M, gồm: Macht (quyền lực) - Maschine (máy móc) -
Militär (quân sự) - Männer (đàn ông) - Medien (truyền thông)”.
Những
năm qua, việc xây dựng, phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam luôn được
Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Sự phát triển và những đóng góp quan
trọng vào công cuộc đổi mới đất nước của báo chí Việt Nam là minh chứng sinh
động. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, phát triển khó có thể tránh khỏi
một số hạn chế, thậm chí sai sót, bởi vậy, việc phê bình, góp ý với tinh thần
xây dựng cần được hoan nghênh. Nhưng lại có một số cá nhân nấp dưới chiêu bài
“dân chủ, nhân quyền”, lợi dụng tự do ngôn luận để phụ họa với các thế lực
thù địch, lấy “tự do báo chí phương Tây” làm mô hình “tiêu chuẩn” để xây dựng
nền báo chí nước nhà! Thiết nghĩ đó là điều không thể chấp nhận, các dẫn dụ
trên đây cho thấy “tự do báo chí phương Tây” chỉ là câu chuyện được dựng lên
để mê hoặc người nhẹ dạ, cả tin, và để kẻ xấu lợi dụng mà thôi.
(Theo Nhân dân) HỒ NGỌC THẮNG
|
Trang
▼
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét