Lương lãnh đạo tập đoàn 50-70
triệu/tháng: Không cao, nếu...
Cập nhật lúc 07:51
(Doanh nghiệp) - SEO quản lý kinh
tế không đủ năng lực sẽ bị lập tức sa thải chứ không phải chuyển đổi vị trí
như hiện nay.
TS Nguyễn Ngọc Sơn, giảng viên
Đại học Tôn Đức Thắng bày tỏ quan điểm của mình về mức lương của lãnh đạo tập
đoàn kinh tế nhà nước.
PV: -
Tập đoàn Than Khoáng sản Việt
Thưa ông, tại
sao lương lãnh đạo tập đoàn lại cao hơn cả lương bộ trưởng như vậy? Điều đó
có hợp lý không và tại sao?
TS Nguyễn Ngọc
Sơn: - Trong một cuộc hội thảo gần đây, chúng tôi đã tranh luận
về vấn đề này và thấy rằng một điểm yếu của doanh nghiệp nhà nước (DNNN)
chính là thu hút và xây dựng lực lượng lãnh đạo kinh tế theo đúng chuẩn của
một CEO. Một trong những điểm để thu hút được lãnh đạo tập đoàn có năng lực thực
sự chính là lương.
Cần phân định rạch ròi mức lương
của ngạch, bậc viên chức với mức lương của đơn vị kinh doanh vì chúng khác
nhau hoàn toàn.
Dưới góc độ quản lý kinh tế, nếu
lãnh đạo tập đoàn có năng lực thực sự của một nhà quản lý kinh tế thì mức
lương 50-70 triệu đồng vẫn không phải là cao. Năng lực ấy được đo lường bằng
hiệu quả kinh tế, lợi nhuận của doanh nghiệp, chiến lược phát triển, việc sử
dụng vốn, phát triển tập đoàn không phải dựa vào sức mạnh vốn có mà dựa vào
khả năng kinh doanh...
Do đó, không thể so sánh tại sao
lãnh đạo tập đoàn lương 70 triệu còn lương bộ trưởng có hơn 14 triệu. Việc
lấy các con số để đối chiếu giữa chức vụ này với chức vụ khác là không phù hợp,
nhất là những chức vụ nằm ở những hệ thống khác nhau.
Nếu muốn đối chiếu, hãy đối
chiếu với các DNNN khác, doanh nghiệp tư nhân, những đơn vị cùng tham gia
hoạt động thương trường và sẽ thấy mức lương của lãnh đạo tập đoàn như thế là
hết sức bình thường.
Các CEO của Viettel chẳng hạn,
họ xứng đáng với đồng lương vì họ có năng lực, tầm nhìn thật sự. Cường độ làm
việc của họ áp lực không kém gì các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước
ngoài, đem lại giá trị to lớn kinh tế và cộng đồng. Do đó, dẫu có trả lương
cao hơn thì họ vẫn hoàn toàn xứng đáng.
PV: - Trên
thực tế, dư luận luôn không tin tưởng vào số lương theo công bố với tâm lý dù
mức lương đã cao hơn trung bình xã hội rất nhiều nhưng vẫn còn những khoản
"lậu" ở đâu đó. Phải lý giải như thế nào về tâm lý này của xã hội?
Phải chăng một phần đó cũng thể hiện sự chưa hài lòng với những đối tượng
đang hưởng lương cao hơn mức trung bình xã hội nhiều lần nhưng hiệu quả làm
việc không được như trông đợi?
TS Nguyễn Ngọc
Sơn: - Khi tham nhũng và tham ô còn là quốc nạn thì suy nghĩ
nói trên của người dân không chỉ là tâm lý mà còn là niềm tin. Khi những
người có mức lương như vậy vẫn là những đại gia giàu kếch xù, có khối tài sản
khổng lồ thì niềm tin, tâm lý đó là điều dễ hiểu. Không thể lý giải những thứ
người ta mắt thấy tai nghe hàng ngày với những thứ mà chúng ta lý giải ở góc
độ lý thuyết.
Tôi đồng ý rằng tâm lý không tin
tưởng nói trên của người dân thể hiện phần nào sự chưa hài lòng với những đối
tượng đang hưởng lương cao nhưng hiệu quả làm việc không được như trông đợi.
Vì thế, như đã nói ở trên, mức lương 50-70 triệu đồng của lãnh đạo tập đoàn
sẽ là không cao nếu thực sự họ có đủ năng lực.
PV: - Kiểm
toán Nhà nước hàng năm vẫn công bố, nhiều lãnh đạo tập đoàn có mức lương hàng
chục triệu đồng khi đơn vị của họ làm ăn thua lỗ hoặc có lợi nhuận thì tỷ
suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cực thấp. Vấn đề này phải xem xét và xử lý
như thế nào, thưa ông? Theo ông, việc tính lương, thưởng của lãnh đạo tập
đoàn cần dựa trên những cơ sở nào để đảm bảo sự hợp lý?
TS Nguyễn Ngọc
Sơn: - Tôi cho rằng câu hỏi này nếu giải quyết tận gốc chính là
phải giải quyết năng lực cạnh tranh của các DNNN. Bất lợi của DNNN là với hệ
thống quản lý hiện nay, việc tuyển chọn, thuê mướn, tìm các CEO có đủ năng lực,
trình độ để vực lại một doanh nghiệp, một khu vực kinh tế không phải dễ dàng.
Không thể giải quyết
vấn đề này theo cách: vì anh quản lý kém nên tôi hạ lương anh. Sự vô lý không
nằm ở lương mà là ở cơ chế tuyển dụng khi cứ duy trì những con người kém ở vị
trí quản lý đó, giao tài sản của đất nước, nhân dân cho họ. Với người kém,
trả 1 đồng cũng tiếc. Cách làm đó chỉ là chắp vá, không giải quyết triệt để
được việc đưa doanh nghiệp đó đi lên.
Vấn đề không phải ở chỗ
xử lý mức lương mà phải xử lý năng lực cho doanh nghiệp đó tồn tại và phát
triển, nghĩa là làm sao để có thể thu hút được người tài với một mức lương
tương xứng để họ vực lại các DNNN hoạt động thua lỗ, tỷ suất lợi nhuận không
cao.
DNNN của Việt Nam
nên học tập doanh nghiệp nước ngoài, các thành phần kinh tế tư nhân ở chỗ,
nhà quản lý kinh tế không đủ năng lực sẽ bị lập tức sa thải chứ không phải chuyển
đổi vị trí như hiện nay.
Cơ chế tuyển dụng
người có đủ khả năng quản lý kinh tế ở các DNNN cực kỳ quan trọng, và cơ sở
quan trọng nhất chính là dựa vào hiệu quả. Còn một khi đã cào bằng cơ chế, ai
cũng được như vậy hoặc là chênh lệch không lớn thì tâm lý chấp nhận, bình ổn,
cắp ô vẫn tồn tại, kể cả trong DNNN lẫn cơ quan công quyền.
PV: - Singapore có đưa ra một nguyên tắc để phòng
chống tham nhũng là lương quan chức phải cao hơn doanh nhân và đặt
nhiệm vụ rõ ràng quan chức phải quản trị lĩnh vực mình phụ trách hiệu quả
nhất cho nền kinh tế. Ông nhận xét như thế nào về chế độ đãi ngộ này? Liệu
Việt Nam có thể áp dụng cách làm này không và vì sao, thưa ông?
TS Nguyễn Ngọc Sơn: - Chế độ đãi ngộ của Singapore đúng nhưng
tôi cho rằng bất cứ người lao động nào cũng phải sống cuộc sống tốt nhất có
thể. Một trong những nhu cầu cơ bản của con người là được sống và sống trong
một môi trường tốt. Để giải quyết triệt để phải dựa trên mức sống thực tế chứ
không phải ngồi bàn giấy suy luận.
Có những người hoạch
định chính sách lương nhưng chẳng bao giờ đi chợ. Tôi từng gặp những lãnh đạo
đơn vị không biết đến cuộc sống chi phí trong gia đình là gì vì đã có vợ lo nên
luôn nghĩ 4 triệu đồng là đủ sống. Do đó, không thể nào đưa ra nguyên tắc
lương quan chức cao hơn doanh nhân hay thấp hơn, cái tốt nhất để người ta tận
tâm là người ta được lo toan cuộc sống.
Một chế độ lương của
Nhà nước đối với công chức để công chức có thể tồn tại được và sàng lọc công
chức là công chức đó có thể sống được. Sự đam mê dựa trên cuộc sống không đầy
đủ, thiếu trước hụt sau thì trước sau gì cũng bị chai sạn.
Việt Nam chưa thể đạt
được như Singaore vì số dân của Singapore ít, cơ hội lại quá lớn, ngân sách tốt...
Các nguyên tắc của Singapore có thể dễ dàng thực hiện nhưng nếu đem áp dụng
vào Việt Nam chưa chắc đã tốt. Nó phụ thuộc nhiều thứ nhưng nguyên tắc chung
là tất cả người dân cần được sống tốt nhất có thể, một cuộc sống mà đi làm
người ta không phải lo cơm áo gạo tiền, về già sống thế nào.
Tôi vừa xem chế độ
lương hưu sắp tới và thấy lo lắng vì người ta tính tổng mức đóng bảo hiểm dựa
trên tổng mức lương. Với đồng tiền bị trượt giá thế này, tiền lương của tôi
hưởng cách đây 10 năm khoảng mấy trăm ngàn đồng cũng được cộng vào để tính
thì số tiền lương của tôi vẫn thấp. Như vậy, mặc dù cả cuộc đời cống hiến
nhưng về già của tôi không được đảm bảo an toàn, mà tâm lý của người dân là tâm
lý của thời không có bảo hiểm xã hội, đó là trẻ tích cóp để già có cái mà
sống.
BHXH vốn dĩ được tạo
ra để đảm bảo rằng Nhà nước đứng ra lo toan cho người dân ở tuổi già, vì vậy
tuổi trẻ hãy cống hiến. Nhưng nếu về già mà mức lương không đủ sống thì khi
còn trẻ phải tích luỹ bởi tuổi già có khi phải chi tiêu nhiều hơn tuổi trẻ do
ốm đau, bệnh tật trong khi mức lương thấp hơn nhiều so với tuổi trẻ. Khi đồng
lương không đủ để sống thì người ta kiếm sống bằng bất cứ con đường nào, kể
cả con đường bất chính.
(Theo Đất Việt) Thành Luân
|
Trang
▼
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét