TS
Nguyễn Thành Sơn: Hòn than mà biết nói năng…
Cập nhật lúc 19:45
(Thị trường) - Với phương châm “dê làm
khổ bò” vốn có ở TKV, đến nay sau 20 năm, nguồn sở hữu toàn dân (gần 3 tỷ tấn
than-PV) đã bốc hơi hơn 30%.
TS Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc
BQL các dự án than Đồng bằng sông Hồng - Vinacomin đã trao đổi thẳng thắn và tâm
huyết với Đất Việt xung quanh việc Việt
PV: - Việt
Như vậy, Việt
TS Nguyễn Thành Sơn: - Sự
“lạ đời” này có cội nguồn từ sự “lạ đời” khác, đó là cung cách và tư duy
quản lý ngành than nói riêng, và quản lý lĩnh vực năng lượng nói chung, của
Bộ Công Thương. Đã nhiều năm nay, câu hỏi tương tự đã được đặt ra trên các
phương tiện thông tin đaị chúng nhưng, Bộ Công Thương và Tập đoàn TKV cùng
một giọng “ca” bài xuất khẩu than là cần thiết, là hiệu quả, là đương nhiên,
là xuất than tốt không dùng đến v.v… Rất tiếc là trong thể chế quản lý
kinh tế của Việt
Lĩnh vực xuất-nhập khẩu than cho thấy
rõ nhóm lợi ích: khi giá dầu cao thì đào than lên để xuất khẩu với bất kỳ chi
phí nào, khi giá dầu thấp thì mặc kệ các ngành có sử dụng than tự xoay sở
nhập khẩu than về để dùng. Miếng mồi xuất khẩu than ngon ăn thì TKV đòi bằng
được độc quyền. Cục xương nhập khẩu than khó nhằn thì TKV đã nhanh miệng
xin Chính phủ “mở cửa”.Trong tương lai, việc nhập khẩu than không đủ, nhưng
TKV hình như “vô can”.
Không ít hơn 1 lần, Chính phủ đã chính
thức giao cho TKV nhiệm vụ nhập khẩu than để đảm bảo cân đối đủ than cho các
ngành kinh tế. Cũng không ít hơn 1 lần, TKV cứ “ngậm miệng ăn tiền” xuất khẩu
than, còn nhiệm vụ cung cấp đủ than cho nền kinh tế được giao thì “hãy đợi đấy”.
Khi mới được “ra ở riêng” (thành lập
năm 1994), Chính phủ đã ưu ái giao cho TKV một nguồn tài nguyên gần 3 tỷ tấn
than thuộc sở hữu toàn dân làm “của hồi môn”. Với phương châm “dê làm khổ bò”
vốn có ở TKV, đến nay sau 20 năm, nguồn sở hữu toàn dân này đã bốc hơi hơn
30%, chỉ còn lại chưa đến 2 tỷ tấn thuộc loại cực kỳ khó khai thác (phải khai
thác với chi phí cực kỳ cao- cao nhất thế giới). Nhưng, chẳng có ai chịu
trách nhiệm, vẫn vui cả làng và hòa cả làng.
PV: - Nhiều
năm qua Trung Quốc là thị trường xuất khẩu than chính của Việt
Rõ ràng Việt
TS Nguyễn Thành Sơn: - Bộ
Công Thương và TKV từ xưa đến nay vẫn báo cáo Chính phủ và giải thích trên
các phương tiện thông tin đại chúng là chỉ “xuất than tốt” ở VN không dùng
đến. Con số trên (xuất 3,87 triệu tấn than với giá trị 229,9 triệu USD; nhập
0,385 triệu tấn than với giá trị kim ngạch gần 100 triệu USD) cho thấy điều
ngược lại: xuất than xấu (giá khoảng 60 USD/tấn), nhập than tốt (giá lên tới
gần 260 USD/tấn).
Chẳng thể có bình luận gì khác ngoài
câu “hòn than mà biết nói năng, thì ghế chú cuội trên cung trăng cũng chẳng
còn”.
PV: - Trong khi
TKV cứ đào than đi bán thì những tập đoàn nhà nước như EVN, PVN lại đang cố
tìm kiếm nguồn than ngoại để nhập khẩu. Tại sao lại có sự lệch pha như vậy,
thưa ông? Nếu kéo dài tình trạng này sẽ gây ra tác hại thế nào?Ai là người
được hưởng lợi?
TS Nguyễn Thành Sơn: - Câu
hỏi này có vẻ “ngô nghê” nhưng cũng hay. Công tác quy hoạch (chức năng chủ
yếu thuộc Bộ Công Thương) và chiến lược phát triển ngành than của Việt
Chất lượng của các qui hoạch ngành than
nói riêng và lĩnh vực khoáng sản nói chung rất thấp.Phần lớn các qui hoạch
đều bể ngay từ khi vừa phê duyệt.Ví dụ, Quy hoạch phát triển ngành than đến
năm 2020, tầm nhìn đến 2030 được phê duyệt 09/01/2014, chưa kịp triển khai
thì đến 09/06/2014 Bộ Công Thương đã phải có văn bản 5075/BCT-TCNL “điều
chỉnh quy hoạch”.
Vấn đề ở đây là “sự lêch pha” trong tư
duy/tầm nhìn của các nhà quản lý thuộc Bộ Công Thương và cách tiệm cận
“khó hiểu” của lãnh đạo TKV từ xưa đến nay.
Nếu kéo dài tư duy “lệch pha” và cách
tiệm cận “khó hiểu” này, cộng với nhiều thứ khác thì lĩnh vực năng lượng của
Việt Nam về cơ bản và lâu dài sẽ phụ thuộc tiếp vào việc nhập khẩu than và
nhập khẩu điện năng từ Trung Quốc - nước láng giềng có mức độ/qui mô sản xuất/tiêu
dùng năng lượng hàng đầu thế giới.
PV: -
Nhiều nước phát triển bảo vệ tài nguyên trong nước bằng cách nhập khẩu tài
nguyên từ các nước khác thay vì khai thác nguồn tài nguyên của nước mình như
Mỹ nhập khẩu dầu, Na Uy nhập khẩu gỗ... Ngay cả Trung Quốc cũng đóng cửa hàng
loạt mỏ than. Trong khi đó, ở Việt Nam, với những con số xuất nhập khẩu như
trên, ông có dự báo thế nào về nguy cơ phụ thuộc nước ngoài của Việt
TS Nguyễn Thành Sơn: -
Việt
(i) Nguồn cung về năng lượng của Việt
(ii) Nhu cầu năng lượng để phát triển
nền kinh tế ngày càng tăng;
Và, (iii) hiệu suất sử dụng năng lượng
ở Việt
Chúng ta đã từng là nước xuất khẩu năng
lượng, nay đang chuyển sang phải nhập khẩu năng lượng với mức độ ngày một
tăng. Điều này sẽ làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Còn dự báo về ngành than trong tương
lai của Việt
(i) Nếu giá dầu mỏ duy trì ở mức trên
65 USD/thùng, sau 30-35 năm nữa ngành than sẽ đóng cửa 95-100% các mỏ ở vùng
Quảng Ninh; Nếu giá dầu mỏ hạ xuống dưới 50 USD/thùng, thời gian đóng cửa mỏ
sẽ sớm hơn 10-15 năm;
(ii) Vì không được cung cấp đủ than với
giá hợp lý: Các dự án nhiệt điện chạy than BOT lớn ở vùng Mông Dương sẽ được
bàn giao cho phía Việt Nam để bán sắt vụn; Các dự án nhiệt điện chạy than ở
Phả Lại, Mạo Khê, Uông Bí, Đồng Rì, Hòn Gai phát được tối đa 50% công suất;
Các dự án điện chạy than được xây dựng ở Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh
Bình, Nghi Sơn, Vũng Áng v.v. phải cải tạo lò hơi để dùng than nhập khẩu từ
Trung Quốc, Indonesia, Úc, Nga, Mỹ, Nam Phi; Các dự án nhiệt điện Cao Ngạn và
An Khánh không chạy hết công suất và sẽ phải đóng cửa sớm;Dự án nhiệt điện Na
Dương sẽ phải dịch chuyển địa điểm (cách vị trí hiện nay 2000m) để mở rộng mỏ
than Na Dương;
(iii) Bể than đồng bằng sông Hồng được
khai thác ở qui mô thương mại bằng công nghệ khí hóa than ngầm (vào năm 2030)
và bằng công nghệ vi sinh (vào năm 2050).
(Theo
Đất Việt) Thành Luân
|
Trang
▼


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét