19:45
|
THUYẾT KHÁCH
Nhận được thông báo nghỉ hưu, ông Đạt đùng đùng quyết định
về quê ở. Bà vợ ông mắt chữ A, mồm chữ O quát:
- Ông hâm à! Ở quê còn cái gì nữa đâu mà về. Một căn nhà sắp sập, một mảnh
vườn chó ỉa, tôi đang rao bán mãi chả thấy ai hỏi mua. Ông về đó làm gì?
Ông sửa lại cái quai ba lô, buộc lại một tập giấy tờ bản thảo. Xong xuôi, ông
mới bảo:
- Bà cứ ở thành phố mà bồng bế con cái, lo cơm nước cho chúng nó. Tôi về quê.
Ở đây suốt ngày ngồi chót vót trên tầng 25 xem ti vi từ sáng đến tối tôi
không chịu nổi.
- Hay là ông cứ thư thư, để cuối tuần chúng nó về trước xem xét sửa sang,
quét tước lại nhà cửa sạch sẽ rồi ông hẵng về!
Bà vợ tìm kế hoãn binh. Ông xua xua tay:
- Không cần! Tôi sẽ tự làm lấy.
- Đúng là đồ gàn dở…
Bà vợ ông lẩm bẩm. Con bé cháu gái từ nãy đến giờ vẫn đứng nhìn ông bà tranh
luận với nhau giờ mới đến bên ông thỏ thẻ:
- Bố cháu bảo ông “về vườn” rồi. Ông cho cháu về vườn với nhé để cháu
bắt con bươm bướm trắng!
Ông Đạt bật cười xoa đầu con bé:
- Ông về vườn đây. Nhưng cháu phải ở Hà Nội để còn đi mẫu giáo tập múa với
các bạn chứ. Khi nào ông làm xong khu vườn cổ tích ở quê ông sẽ đón cháu về
xem nhé!
- Vâng ạ!
Con bé ngoan ngoãn gật đầu.
Thế là ông Đạt khoác ba lô về quê. Hơn bốn mươi năm trước, ông khoác ba lô
rời làng ra đi. Bây giờ ông lại khoác ba lô trở về. Cái cổng làng rêu phủ
ngày xưa nay chỉ còn là dấu tích. Cây đa đầu làng đã già lắm rồi. Cây đa ấy
có hai rễ tạo thành hai cái gốc của cây. Khi mở rộng con đường quốc lộ, người
ta đã cắt mất một cái rễ to. Thành thử cái cây trông như một người bị cụt một
chân đang đứng lom khom nhìn con đường xe chạy suốt ngày đêm như mắc cửi.
Ông Đạt dọn dẹp lại nhà cửa, vườn tược. Thằng cháu họ biết tin ông về sang
thăm. Nó ngó nghiêng một lủc rồi đi mất. Một lát nó quay lại xách theo một xô
vôi ướt giúp ông quét lại tường nhà. Ngôi nhà bớt mùi ẩm mốc. Thấy ông dọn
cây cỏ ở vườn, một ông bạn đồng niên ngó vào hỏi:
- Ông về làm trang trại để nghỉ dưỡng cuối tuần ở quê hả?
- Trang trại gì. Tôi về làng ở hẳn đấy!
Thế là tin ông về làng loang ra rất nhanh. Bạn bè đồng ngũ, đồng môn kéo đến.
Ngôi nhà của ông rôm rả hẳn lên. Mỗi người giúp một tay. Khu vườn hoang phong
quang hẳn lên.
Ông Đạt về quê được mấy hôm thì có một vị khách quan trọng tìm đến. Đó là anh
chủ tịch xã. Sau vài lời thăm hỏi xã giao, anh chủ tịch xã đề nghị:
- Chúng cháu muốn bác giúp cho một việc ạ.
- Việc gì thế! Giúp được việc gì cho làng, cho xã nhất định tôi sẽ cố…
- Chả là xã ta chuẩn bị đón nhận huân chương kháng chiến hạng nhất. Các khâu
đã chuẩn bị đầy đủ rồi. Chỉ còn khoản diễn văn là viết mấy lần đều không
thông qua được. Chúng cháu là lớp con cháu, lịch sử xã thì ghi chép không đầy
đủ nên viết không hay. Muốn nhờ bác giúp vì nghe nói khi còn ở bộ đội bác
từng làm nghề viết sử…
- Việc này thì được! Tôi sẽ viết giúp. Vài bữa là xong thôi.
Anh chủ tịch xã phấn khởi mở cặp rút ra một tập bản thảo đánh máy đã cũ nói
tiếp:
- Đây là sơ thảo lịch sử xã ta. Bác cứ đọc trước đi, mai cháu sẽ cho cậu thư
ký uỷ ban đem đến các bản báo cáo thành tích những năm gần đây để bác tham
khảo thêm.
Ông Đạt cũng cảm thấy phấn khởi vì được chính quyền địa phương tin cậy. Ông
bắt đầu đọc những trang bản thảo cuốn lịch sử của xã. Càng đọc, ông càng thấy
lịch sử của quê hương mình cũng thật hào hùng. Những chuyện từ thời tiền khởi
nghĩa, trong kháng chiến chống Pháp và trong kháng chiến chống Mỹ bây giờ ông
mới hiểu hết. Ông chỉ hơi ngạc nhiên là bản thảo cuốn lịch sử viết khá đầy
đủ, văn phong cũng hay tại sao xã không cho in thành sách để lớp lớp con em
mãi ghi nhớ, làm theo. Ông thấy lòng mình lâng lâng, hứng khởi. Ông vừa lôi
giấy bút ra định bắt tay vào viết diễn văn thì ngoài cổng có tiếng ồn ào.
Toán người kéo vào, có cả mấy cụ già tóc bạc phơ được đám thanh niên dìu đi.
Ông Đạt ngạc nhiên:
- Các cụ, các bác đến có việc gì đấy ạ?
- Chúng tôi đến để kiến nghị với chú đây!
Một người nói. Ông Đạt ngạc nhiên:
- Kiến nghị về việc gì ạ! Có gì kiến nghị thì các cụ, các ông, các bác phải
lên gặp chính quyền xã chứ ạ?
- Kiến nghị về bài diễn văn chú đang viết đấy!
Ông Đạt càng không hiểu. Một ông sau khi đã ngồi xuống ghế nói:
- Trong diễn văn, chú phải viết rõ là ông Nguyễn Thoảng là người đã treo cờ
đỏ ở cây đa đầu làng ta kêu gọi nhân dân nổi dậy khởi nghĩa nhé!
Ông Đạt ớ người:
- Nhưng trong bản thảo lịch sử của xã thì có hai người treo cờ là ông Vũ Văn
Huân và ông Nguyễn Thoảng cơ mà?
- Đúng thế! Nhưng người trực tiếp trèo lên cây đa treo cờ phải là ông Nguyễn
Thoảng ở xóm Nội…
Thì ra họ đều là người thuộc dòng họ Nguyễn với ông. Các cụ, các ông ra sức
giải thích, chứng minh lời họ nói là đúng. Ông Đạt lúng túng không biết xử lý
ra sao. Đám người đứng dậy ra về. Trước khi đi, một ông còn bảo: “Bác viết
thế nào thì viết. Bác là người xóm này, bác phải luôn luôn ghi nhớ chiến công
của người xóm ta đấy nhé!”.
Đám
người ra về lâu rồi, ông Đạt vẫn ngồi thừ trên chõng không viết được thêm chữ
nào. Ông đang định lên uỷ ban xã tìm anh chủ tịch để trao đổi thêm thì lại có
một tốp người từ ngoài cổng kéo vào. Họ là những người thuộc dòng họ Vũ ở xóm
Ngoại. Họ đến cũng vì bài diễn văn sẽ đọc trong buổi xã tổ chức đón huân
chương. Họ cũng lại nói về việc treo cờ kêu gọi nhân dân vùng lên khởi nghĩa
trên cây đa đầu làng. Sau một hồi giải thích, đưa ra chứng cứ chứng minh, một
ông có vẻ là trưởng đoàn kết luận:
-
Chắc chắn người trèo lên treo cờ trên ngọn cây đa là ông Vũ Văn Huân, người
xóm Ngoại. Bác là người xóm Nội, họ Nguyễn nhưng nếu bác thiên vị, viết sai
lịch sử là không được đâu.
Tốp dân xóm Ngoại ra về. Ông Đạt thấy hoang mang quá. Không ngờ một chuyện
tưởng như đơn giản mà lại thành phức tạp quá. Ngày đón huân chương theo ấn
định đã đến gần mà bài diễn văn vẫn chưa biết viết thế nào. Chả lẽ một sự
kiện quan trọng nhất của xã lại không viết vào diễn văn. Sau khi nghe ông Đạt
kể lại chuyện hai xóm cử người đến nhà, anh chủ tịch xã đành thú thật:
- Cuốn lịch sử của xã chính vì thế không xuất bản được mặc dù đã viết đi,
viết lại nhiều lần. Trước đây giao cho ông Tứ xóm Nội dự thảo thì mọi thành
tích của xã đều là của dòng họ Nguyễn cả. Giao cho anh Quân ở xóm Ngoại hiệu
đính, sửa chữa lại thì dòng họ Vũ mới chính là những người có công lao nhất
xã. Đem ra hội thảo trước thì tranh luận, sau thì cãi nhau ỏm tỏi, chẳng bên
nào chịu bên nào. Sau phải nhờ đến các anh ở trên sở văn hoá tỉnh về viết lại
và hiệu đính cho nhưng cũng chưa dám in vì sợ in ra sẽ phức tạp lắm.
Ông
Đạt trầm ngâm suy nghĩ. Một lát sau ông bảo:
-
Mai tôi sẽ mời đại diện cả hai xóm đến nói là để trao đổi về bài diễn văn.
Anh cứ làm việc ở trụ sở ủy ban xã, đừng đi đâu xa, lúc nào tôi cho thằng
cháu gọi thì đến ngay nhé.
-
Bác có giải pháp gì hay ạ?
-
Bí mật! Chủ tịch cứ yên tâm… tôi sẽ thử là “thuyết khách” để hoà giải giữa
hai xóm xem sao?
Chả cần ông Đạt phải mời lần thứ hai. Hôm sau đại diện cả hai xóm đều có mặt
đầy đủ. Họ ngồi thành hai phía trong nhà ông Đạt. Đã có tiếng tranh cãi lẻ
tẻ. Ông Đạt bảo thằng cháu rót nước mời mọi người. Chờ mọi người yên vị, ông
Đạt mới đứng dậy. Sau mấy câu thưa gửi trịnh trọng, ông hỏi:
-
Phần mộ của ông Thoảng bây giờ đặt đâu ạ?
-
Ở nghĩa trang liệt sĩ của xã, ngay dưới chân đài tưởng niệm.
-
Thế còn ông Huân?
-
Cũng ở nghĩa trang liệt sĩ xã ta. Hai người hy sinh trong cùng một trận càn
của Pháp.
Mọi
người nhao nhao nói. Ông Đạt giờ mới kể:
-
Tôi đã đọc rất kỹ bản thảo về lịch sử của xã ta, lại tìm hiểu cả lịch sử của
huyện, của tỉnh và nghe các cụ cao niên kể lại. Trong trận càn ấy ông Thoảng
bị thương rất nặng, ông Huân đã cõng ông Thoảng rút lui. Khi bọn địch ập đến,
ông Thoảng bảo ông Huân cứ để mình nằm lại trong làng rồi chạy thoát ra ngoài
rừng nhưng ông Huân dứt khoát không chịu. Ông tìm cách đưa ông Thoảng cùng
rút lui. Bọn địch khép chặt vòng vây. Biết không thể thoát được, hai người đã
sát cánh bên nhau chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Khi bọn địch xông đến
định bắt sống, họ đã ôm lấy nhau cho nổ một quả lựu đạn chết cùng mấy tên
giặc. Máu xương của họ đã trộn với nhau, thẩm sâu xuống mảnh đất này. Họ đều
là những người vô cùng dũng cảm đúng không!
-
Đúng… đúng… đúng thế!
Nhiều
người tỏ vẻ đồng tình. Ông Đạt nói tiếp:
-
Việc treo cờ trên ngọn cây đa đầu làng kêu gọi nhân dân đứng lên khởi nghĩa
trong cách mạng tháng Tám cũng vậy. Ông Huân là người đã trèo lên ngọn đa
treo cờ, ông Thoảng là người đứng dưới gốc cây cảnh giới bảo vệ. Họ đều có
chung một chiến công. Không phải ông Thoảng đứng dưới gốc cây là kém nguy
hiểm hơn người trèo lên treo cờ trên ngọn cây. Chính ông Thoảng đã chủ động
nổ súng đánh lạc hướng kéo bọn giặc đuổi theo mình để ông Huân có thời gian
từ ngọn đa tụt xuống rút lui an toàn. Bận ấy ông Thoảng bị đạn địch bắn sượt
mang tai, suýt chết. Ông ấy đã nhận phần nguy hiểm nhất về mình rồi còn gì.
Mọi
người gật gù. Ông Đạt tiếp tục nói:
-
Trong chuyện treo cờ này còn phải ghi nhớ công lao của bố con ông lão ăn mày
nằm ở đầu làng nữa. Chính bố con lão ăn mày là người đầu tiên phát hiện bọn
giặc đang bí mật tiến vào làng mà gào to báo động cho dân làng biết. Cái chết
của bố con ông lão ăn mày ở đầu làng ta đáng để ghi vào lịch sử của xã lắm
chứ. Tại sao chúng ta lại không hề một lần nhắc đến họ? - Ngừng một lát nhìn
mọi người, ông nói tiếp: - Chúng tôi sau này trong chiến đấu cũng vậy. Để có
một người cắm được lá cờ chiến thắng lên sở chỉ huy bốt đồn địch là công lao,
mồ hôi, nước mắt, sự hy sinh đổ máu của bao nhiêu người đấy. Nhiều người đã
ngã xuống trước cửa mở khi dẫn đầu đội hình xung kích, có người trúng đạn,
thi thể nằm vắt trên hàng rào dây thép gai, có người dùng thân mình lấp lỗ
châu mai, che đạn cho đồng đội xung phong. Vậy đó phải là chiến công chung
chứ đâu chỉ là thành tích riêng của mỗi một người cắm cờ…
Mọi
người lặng im. Giọng ông Đạt trầm hẳn đi:
-
Ông Thoảng và ông Huân đang nằm yên nghỉ bên nhau trong nghĩa trang liệt sĩ.
Họ mãi mãi sẽ là đồng đội, là những người bạn chiến đấu thân thiết nhất của
nhau. Họ dám chia sẻ cả cái sống, cái chết cho nhau. Họ sẽ đau buồn
nhường nào khi biết chúng ta, những người còn sống, những lớp con cháu hôm
nay đem họ ra so sánh với nhau xem ai hơn ai…
Có nhiều tiếng thở dài. Anh chủ tịch xã cũng đã đến. Anh ngồi giữa những
người dân của hai xóm. Lúc nãy ông Đạt đã nháy thằng cháu chạy đi gọi anh
đến. Ông Đạt bất ngờ hỏi:
- Tuy mới về làng nhưng tôi nghe bà con nói hai xóm ta thường xuyên xảy ra
xích mích. Có nhiều chuyện không đâu vào đâu cũng cãi nhau, thậm chí xô xát
đánh, chém nhau gây đổ máu, thù hận. Ruộng gần nhau mà không cho dẫn nước
qua, trâu bò xóm này lạc sang xóm khác là bị đánh gãy chân, rồi chặt, nhổ phá
hoại cả hoa màu của nhau nũa… Có đúng thế không?
Nhiều
người ấp úng lúng túng. Nhưng không ai trả lời. Ông Đạt nói như kết luận:
- Viết xong bài diễn văn này tôi đề nghị anh chủ tịch xã gửi cho cả hai xóm
xem, cùng góp ý kiến cùng bổ sung, sửa chữa. Chỉ có một điều tôi cần nói ngay
là chúng ta phải viết cho trung thực, đúng sự thật lịch sử của làng, xã ta,
không được tranh công, đổ lỗi cho nhau.
Mọi người ồn ào tán đồng. Không khí trong ngôi nhà nhỏ của ông Đạt vui vẻ hẳn
lên. Một lúc sau thì chả còn ai nhắc đến chuyện bài diễn văn nữa. Họ bàn sang
chuyện làm ăn, chuyện giúp nhau giống vốn, mời nhau ăn giỗ, sang cát. Có
người bận việc ra về trước, có mấy người kéo đến thêm ngồi chật ba gian nhà
nhỏ, chẳng còn phân biệt ai là người xóm Nội, xóm Ngoại nữa.
Câu chuyện “thuyết khách” và viết diễn văn của ông Đạt là thế.
Hôm đón huân chương hai xóm tổ chức mổ một lợn làm một bữa cỗ chung ăn uống
rất vui vẻ. Đã từ lâu rồi mới lại có chuyện như vậy. Tiếng trống rộn rã hai
xóm. Trên ngọn cây đa già đầu làng một lá cờ đỏ rất to tung bay phần phật
trong gió Xuân.
Theo blog Trọng Bảo
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét