18:00
Yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông:
Phải chăng là Tiểu thuyết Lịch sử?
Bằng trí tưởng tượng và chủ nghĩa xét
lại về lịch sử, Bắc Kinh đặt cược rất cao vào “quân bài lịch sử” để bảo vệ
những yêu sách của mình tại Biển Đông.
Quần đảo Trường Sa – trước đây không lâu vốn chỉ được biết
đến là một ngư trường đánh cá lớn – nay lại trở thành một điểm nóng quốc tế
khi mà giới lãnh đạo Trung Quốc kiên trì đưa ra những phát ngôn ngày càng khiêu
khích rằng các đảo, đảo đá, và mỏm đá là “lãnh thổ lịch sử của Trung Quốc từ
thời cổ đại” theo của lời Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Thông thường, những
tuyên bố chủ quyền chồng lấn đối với biên giới đất liền và trên biển phải
được giải quyết trên cơ sở kết hợp tập quán pháp, xét xử trước Tòa án Công lý
Quốc tế hoặc Tòa án Quốc tế về Luật Biển, hoặc bằng hình thức trọng tài theo
Phụ lục VII của Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển. Mặc dù Trung Quốc đã
phê chuẩn Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS), nhưng công ước này
nhìn chung phản đối các yêu sách “dựa trên lịch sử”, vốn là lập trường luôn
được Bắc Kinh nhắc đi nhắc lại. Vào ngày 4 tháng 9 năm 2012, Bộ trưởng Ngoại
giao Trung Quốc, Dương Khiết Trì, nói với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton
rằng có “rất nhiều bằng chứng lịch sử và pháp lý chứng minh Trung Quốc có chủ
quyền đối với các đảo trên Biển Đông và các vùng nước liền kề”.
Liên quan đến “chứng cứ pháp lý”, rất nhiều chuyên gia
luật quốc tế kết luận rằng yêu sách “danh nghĩa lịch sử” của Trung Quốc đối
với Biển Đông, hàm ý bao gồm đầy đủ chủ quyền và quyền chủ quyền cho phép các
nước khác được quá cảnh, là không có cơ sở. Bằng chứng lịch sử, nếu có, thì
càng ít sức thuyết phục hơn. Có rất nhiều mâu thuẫn trong cách Trung Quốc sử
dụng chứng cứ lịch sử để biện hộ cho những yêu sách đối với các đảo và bãi đá
ngầm trên Biển Đông, một trong số đó là cách so sánh gây tranh cãi giữa việc
Trung Quốc làm với quá trình bành trướng đế quốc của Mỹ và các cường quốc
châu Âu vào thế kỷ 18 và 19. Để biện hộ cho những nỗ lực mở rộng biên giới
trên biển của Trung Quốc thông qua yêu sách đối với các đảo
và bãi đá ngầm rất xa so với bờ biển, Giáo sư Jia Qingguo thuộc
Khoa Nghiên cứu Quốc tế, Đại Học Bắc Kinh cho rằng Trung Quốc chỉ đơn thuần
làm theo những gì phương Tây đã làm mà thôi. Trả lời phỏng vấn AFP gần đây,
ông Jia nói rằng: “Mỹ có đảo
Yêu sách dựa trên lịch sử của Trung Quốc đối với quần đảo
Trường Sa đang gặp trở ngại bởi vì trên thực tế các đế chế thống trị ở khu
vực trong quá khứ không hề thực thi chủ quyền (sovereignty). Đối với châu Á thời
cận đại, đặc thù của các đế chế là có đường biên giới không xác định, không
được bảo vệ và thường xuyên thay đổi. Khái niệm quyền bá chủ là phổ biến hơn.
Không giống như một quốc gia-dân tộc, đường biên giới của các đế chế Trung
Hoa không được vẽ rõ ràng cũng như không được kiểm soát chặt chẽ mà thường là
những đường tròn và những vùng hẹp dần tính từ trung tâm nền văn
minh tới vùng ngoại vi không xác định của các tộc người khác. Quan trọng hơn,
trong những tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng Ấn Độ, Myanmar và
Việt Nam, Bắc Kinh luôn giữ quan điểm rằng đường biên giới trên bộ của mình
chưa bao giờ được xác định, phân giới và cắm mốc. Nhưng hiện nay, khi vấn đề
xảy ra đối với các đảo, bãi cạn và mỏm đá trên Biển Đông thì Bắc Kinh lại
tuyên bố theo cách khác. Nói cách khác, khẳng định của Trung Quốc rằng đường
biên giới trên bộ của nước này chưa bao giờ được xác định và phân
giới hoàn toàn trái ngược với quan điểm rằng biên giới trên
biển của Trung Quốc luôn luôn được xác định và phân định ranh giới
một cách rõ ràng. Ở đây đã thấy tồn tại một mâu thuẫn cơ bản trong lập trường
của Trung Quốc về đường biên giới trên bộ và trên biển và quan điểm không thể
bảo vệ được. Nói đúng hơn, chính những nỗ lực của Trung Quốc vào giữa thế kỷ
20 muốn biến những đường biên giới không xác định của các nền văn minh và đế
chế cổ đại được hưởng quyền bá chủ thành những biên giới được phân định rõ
ràng của các quốc gia-dân tộc hiện đại để hưởng chủ quyền là nguyên nhân chính
dẫn đến tranh chấp lãnh thổ/ biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Tóm
lại, chủ quyền là một khái niệm chỉ được gắn cho các quốc gia-dân tộc, không
phải các đế chế cổ đại.
Biên giới hiện tại của Trung Quốc chủ yếu phản ánh đường
biên giới được thiết lập trong thời kỳ bành trướng lãnh thổ hoàng kim của
Triều đại nhà Thanh (Mãn Châu) vào thế kỷ 18, dần dần theo thời gian được
củng cố thành biên giới quốc gia cố định theo khuôn khổ của hệ thống quốc gia-dân
tộc Westphalia áp dụng đối với châu Á trong thế kỷ 19 và 20. Tuy nhiên, lịch
sử chính thống Trung Quốc ngày nay thường bóp méo giai đoạn lịch sử phức tạp
này bằng tuyên bố rằng người Mông Cổ, Tây Tạng, Mãn Châu và Hán đều là người
Trung Quốc, trong khi trên thực tế Vạn Lý Trường Thành được các triều đại
Trung Quốc xây dựng nhằm bảo vệ đất nước Trung Hoa của người Hán trước sự xâm
lăng của các tộc người Mông Cổ và Mãn Châu ở phía Bắc; bức tường thành trên
thực tế thể hiện đường vành đai an ninh của các đế chế Trung Hoa của người
Hán. Trong khi hầu hết các nhà sử học đều xem sự càn quét của các đạo quân
xâm lược Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo đầu những năm 1200 như một thảm
kịch đe dọa sự sống còn của các nền văn minh cổ đại ở Ấn Độ, Ba Tư và các
quốc gia khác (Trung Quốc cũng là một trong số đó) thì người Trung Quốc đã có
toan tính khi loan truyền giả thuyết cho rằng Thành Cát Tư Hãn thực chất là
“người Trung Quốc”, và vì thế tất cả những vùng đất mà người Mông Cổ (Triều
Nguyên) đã từng chiếm đóng và chinh phục (như Tây Tạng và phần lớn Trung và
Nội Á) đều thuộc về Trung Quốc. Các yêu sách của Trung Quốc đối với Đài Loan
và Biển Đông cũng đều dựa trên lập luận rằng cả hai khu vực này đều từng
thuộc đế quốc Mãn Châu. (Thực tế, các bản đồ của Triều đại Mãn Châu và Triều
Nguyên đều mô tả đảo Hải Nam là biên giới cực Nam của Trung
Quốc, chứ không phải Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.) Theo cách lý giải lịch
sử này, bất cứ vùng lãnh thổ nào từng bị “người Trung Quốc” chinh
phục trong quá khứ sẽ luôn là của Trung Quốc cho dù nó bị
chinh phạt vào thời gian nào đi chăng nữa.
Việc viết và sửa lại lịch sử theo quan điểm dân tộc chủ
nghĩa để thúc đẩy đoàn kết dân tộc và tính hợp pháp của chế độ được các các
nhà lãnh đạo Trung Quốc, bao gồm cả những nhà cộng sản và dân tộc chủ nghĩa,
coi là ưu tiên cao nhất. Dàn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc tự cho mình
là người kế thừa di sản của đế chế Trung Hoa, nên thường sử dụng những
biểu trưng và lối ăn nói của một đế chế. Từ những cuốn sách giáo khoa của học
sinh tiểu học cho đến các bộ phim truyền hình dã sử, hệ thống thông tin do
nhà nước kiểm soát đã nhồi nhét vào đầu các thế hệ người Trung Quốc về sự oai
phong và hùng vĩ của đế chế Trung Hoa. Như một nhà Hán học người Úc Geremie
Barmé đã chỉ ra, “Trong hàng thập kỷ giáo dục và tuyên truyền của Trung Quốc
đã đề cao vai trò của lịch sử trong sự phát triển của nhà nước-dân tộc Trung
Quốc… Trong khi chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Mao chỉ còn là cái tên thì
vai trò của lịch sử trong tương lai của Trung Quốc là bất biến”. Cứ như vậy,
đã có không biết bao nhiêu lịch sử đã được các cơ quan nghiên cứu, truyền
thông và giáo dục thêu dệt để trở thành công cụ lãnh đạo chính trị của nhà
nước (hay còn được gọi “cuộc xâm lược trên bản đồ”).
Trung Quốc sử dụng các câu chuyện dân gian, truyền thuyết,
thần thoại cũng như lịch sử để cổ súy cho các yêu sách lãnh thổ và biển của
mình. Các sách giáo khoa của Trung Quốc thuyết giảng về Vương quốc Trung tâm (Middle
Kingdom) với tư cách là nền văn minh cổ nhất và tiến bộ nhất và là trung tâm
của vũ trụ, bao quanh bởi các nước nhỏ bé hơn và phụ thuộc ở Đông và Đông Nam
Á luôn phải cúi đầu và thần phục Trung Quốc. Cách lý giải lịch sử của Trung
Quốc thường cố tình làm lu mờ sự khác biệt giữa ảnh hưởng bá quyền, mối quan
hệ chư hầu-thiên triều với sự kiểm soát trên thực tế. Đi theo quan điểm ai
làm chủ quá khứ sẽ kiểm soát hiện tại vẽ ra cả tương lai, Bắc Kinh luôn đặt
cược rất cao vào “quân bài lịch sử” (thường là cách lý giải theo kiểu xét lại
về lịch sử) trong các nỗ lực ngoại giao nhằm đạt được mục tiêu chính sách đối
ngoại, đặc biệt là bắt các nước khác nhân nhượng về lãnh thổ và ngoại giao.
Hầu hết các nước láng giềng đều đã một lần hoặc hơn phải chịu sự tấn công
quân sự của Trung Quốc – Mông Cổ, Tây Tạng, Mi-an-ma, Triều Tiên, Nga, Ấn Độ,
Việt Nam, Phi-lip-pin và Đài Loan – và do đó là đối tượng của lịch sử xét lại
của Trung Quốc. Như Martin Jacques nhắc đến trong cuốn When China Rules
the World (Khi Trung Quốc thống trị thế giới) Chủ nghĩa Trung Quốc
thiên triều (Sinocentrism) góp phần hình thành và là nền móng cho chủ nghĩa
dân tộc Trung Quốc hiện đại”.
Nếu khái niệm về chủ quyền quốc gia xuất hiện châu Âu vào
thế kỷ 17 và hệ thống đó bắt nguồn từ Hiệp ước
Các đế chế cổ đại giành quyền kiểm soát lãnh thổ thông qua
hoạt động xâm chiếm, sáp nhập, đồng hóa hay để mất lãnh thổ vào tay các đối
thủ khác, những đế chế có binh lực hoặc khả năng thống trị tốt hơn. Việc mở rộng
và thu hẹp lãnh thổ là một khái niệm được quyết định bởi sự hưng thịnh hay
suy yếu của một vương quốc hay đế chế. Vì vậy, quan niệm “vùng đất thiêng
liêng” là phi lịch sử bởi việc kiểm soát lãnh thổ dựa trên việc một nước
chiếm đoạt hoặc đánh cắp những gì thuộc về nước khác. Biên giới của những
triều đại Tần, Hán, Đường, Tống và Minh mở rộng và thu hẹp trong suốt quá
trình lịch sử. Một đế quốc Trung Hoa thịnh vượng và hùng cường, cũng giống
như nước Nga sa hoàng, bành trướng lãnh thổ ở vùng Nội Á và Đông Dương khi cơ
hội xuất hiện và sức mạnh cho phép. Việc mở mang bờ cõi dần dần qua nhiều thế
kỷ dưới triều đại Mông Cổ và Mãn Châu đã tăng thêm quyền kiểm soát của đế chế
Trung Hoa đối với Tây Tạng và một số vùng ở Trung Á (nay là Tân Cương), Đài
Loan và Đông Nam Á. Trên thực tế, Trung Quốc cận đại chính là một “nhà nước
đế chế” dưới mác một quốc gia-dân tộc.
Nếu các yêu sách của Trung Quốc được chứng
minh trên cơ sở lịch sử, thì yêu sách lịch
sử của Việt
Các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông cũng
đánh dấu một sự thay đổi lớn về định hướng địa chính trị lâu đời của một
cường quốc lục địa. Với việc tuyên bố có bề dày truyền
thống đi biển, Trung Quốc đề cập nhiều đến cuộc
thám hiểm đầu thế kỷ XV của Trịnh Hòa tới Ấn Độ Dương và
Châu Phi. Nhưng, như Bowring chỉ ra rằng “Nếu nói đến hoạt động hàng hải ngoài
các vùng nước ven bờ, Trung Quốc thực sự chỉ là người đến sau.
Trong nhiều thế kỷ, những người bá chủ của đại dương
là người Mã Lai Pô-li-nê-di, những người đã chinh
phục phần lớn thế giới, từ Đài Loan đến New
Zealand, Hawaii ở phía nam và phía đông, và Madagascar ở phía tây. Các
chum đồng đã được trao đổi ở Palawan, phía nam Scarborough vào
thời Khổng Tử. Những người hành hương Phật giáo của Trung
Quốc như Pháp Hiển đến Sri Lanka và Ấn Độ vào thế kỷ thứ năm đã đi bằng
thuyền do người Mã Lai sở hữu và điều khiển. Tàu thuyền
đi từ khu vực mà ngày nay là Philippines đã có hoạt động
giao thương ở Phù Nam, một nhà nước cổ hiện
nay thuộc miền Nam Việt Nam, một ngàn năm trước thời nhà
Nguyên.”
Và cuối cùng, cái gọi là “yêu sách lịch sử” của Trung
Quốc đối với Biển Đông không thực sự “tồn tại từ
nhiều thế kỷ trước.” Những yêu sách này chỉ có
từ năm 1947, khi chính phủ theo chủ nghĩa dân
tộc củaTưởng Giới Thạch vẽ cái gọi là “đường mười
một đoạn” trên bản đồ của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm quần đảo
Trường Sa và các chuỗi đảo khác mà chính phủ Quốc Dân
Đảng cầm quyền tuyên bố thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Bản
thân ông Tưởng nói rằng ông ta xem chủ nghĩa phát xít Đức
như một hình mẫu cho Trung Quốc, bị cuốn hút bởi ý
tưởng của Đảng quốc xã về Không gian Sinh tồn được mở
rộng (“không gian sống”) cho dân tộc Trung Hoa. Tưởng Giới
Thạch không có cơ hội trở thành người theo chủ nghĩa bành
trướng bởi người Nhật đã đẩy ông lui về thế phòng
thủ, nhưng những người vẽ bản đồ của chế độ dân tộc chủ
nghĩa khi đó đã vẽ ra đường chữ U gồm mười một đoạn
với nỗ lực mở rộng “không gian sống” của Trung Quốc trên Biển Đông.
Sau chiến thắng của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong cuộc nội chiến năm 1949,
Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc đã chấp nhận tấm bản đồ này, sửa
lại ý tưởng của Tưởng Giới Thạch thành “đường chín đoạn” sau khi
xóa bớt hai đoạn nằm ở Vịnh Bắc Bộ vào năm
1953.
Kể từ khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết
thúc, Trung Quốc đã vẽ lại bản đồ của nước này, xác định lại đường biên
giới, tạo ra các bằng chứng lịch sử, sử dụng vũ lực để thiết
lập thực trạng mới về lãnh thổ, đổi tên các đảo
và cố gắng áp đặt lối giải thích lịch sử đối
với các vùng biển trong khu vực. Trung Quốc đã thông
qua một đạo luật vào năm 1992, “Luật lãnh hải và vùng tiếp giáp
lãnh hải” trong đó yêu sách bốn phần năm Biển Đông. Hải quân Trung
Quốc đã có những cuộc đụng độ quân sự với hải quân của
Một lý do mà Đông Nam Á cảm thấy khó chấp
nhận yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc đó là nước này luôn hành
xử quyết đoán theo kiểu dân tộc Hán ưu việt đối với các dân
tộc và đế chế khác ở Châu Á. Như lời ông Jay Batongbacal
thuộc Trường Đại học luật Philippines: “Bằng trực giác, chấp nhận
đường chín đoạn chả khác nào việc phủ nhận chính bản sắc
và lịch sử của tổ tiên người Việt Nam, người Philippines
và người Mã Lai, nó gần như một sự hồi sinh ở thời kỳ
hiện đại của tư tưởng hạ thấp những tộc người không phải người Trung
Quốc, xem họ như những “người man rợ” không có phẩm
giá và được tôn trọng giống như một dân tộc.”
Các đế chế và vương triều chưa bao giờ
thực thi chủ quyền. Nếu yêu sách lịch sử có bất kỳ giá
trị nào thì Mông Cổ có thể yêu sách toàn bộ Châu Á chỉ
đơn giản bởi đế chế này đã từng chinh phục các vùng đất của châu
lục. Hoàn toàn không có cơ sở lịch sử để bảo vệ yêu sách đường
chín đoạn, đặc biệt khi xét đến việc lãnh thổ của
đế chế Trung Hoa chưa từng được phân định một cách rõ
ràng như các quốc gia-dân tộc, mà đúng hơn chỉ
là các khu vực chịu ảnh hưởng giảm dần tính từ vùng trung tâm văn
minh của đế chế. Đây là lập trường của Trung Quốc hiện đại bắt đầu từ những
năm 1960 trong các cuộc đàm phán về biên giới
trên bộ với một số quốc gia láng giềng.
Nhưng đây không phải quan điểm Trung Quốc áp dụng ngày
nay trong các tranh cãi về bản đồ, ngoại giao và những va chạm
quân sự cường độ thấp nhằm xác định ranh giới trên biển
của nước này. Việc liên tục giải thích lại lịch
sử nhằm thúc đẩy các yêu sách về biển, chính trị, lãnh
thổ, kết hợp cùng khả năng điều chỉnh “làn sóng dân
tộc chủ nghĩa” của giới lãnh đạo Cộng sản Trung Quốc trong những
thời điểm căng thẳng với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và
Philippines, đã khiến cho Bắc Kinh khó khăn trong
việc trấn an các nước láng giềng rằng “sự trỗi dậy hòa bình”
của nước này hoàn toàn là hòa bình. Vì có sáu bên
yêu sách các rạn san hô, đảo, đá và mỏ dầu ở Biển Đông, tranh
chấp Quần đảo Trường Sa, theo định nghĩa, là tranh chấp đa
phương nên cần phân xử bằng trọng tài quốc tế. Nhưng Trung
Quốc luôn nhấn mạnh các tranh chấp này là song
phương nhằm mục đích đặt đối thủ cạnh tranh vào giữa “cái
đe” chủ nghĩa xét lại lịch sử và “cái búa” sức mạnh
quân sự ngày càng tăng của nước này./.
Bản gốc tiếng Anh: “Historical Fiction: China’s
South China Sea Claims”
Theo
NCBĐ
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét